Hôm nay,  

Trung Quốc Nguội Máy?

29/10/200400:00:00(Xem: 13466)
Hôm 23 vừa qua, Tân hoa xã loan báo rằng những nỗ lực của chính phủ nhằm hạ nhiệt nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu có tác dụng. Tình hình này sẽ ảnh hưởng tới kinh tế VN ra sao"

Từ đầu năm nay, mục Diễn đàn Kinh tế đài RFA đã nhận định là giới lãnh đạo kinh tế Bắc Kinh phải giảm đà tăng trưởng nhưng khó đạt nổi mục tiêu ấy. Hôm nay, RFA sẽ trở lại câu chuyện này qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, chương trình ngày 26-10.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trên diễn đàn này, ông đã nhiều lần nhận định rằng Trung Quốc có nhu cầu kềm hãm tốc độ tăng trưởng để kinh tế khỏi nóng máy, nhưng khó đạt được mục tiêu ấy cho nên một rủi ro hạ cánh nặng nề, thay vì hạ cánh an toàn, vẫn sẽ xảy ra trong năm tới. Tuần qua, giới chức kinh tế Hoa Lục đã thông báo thống kê của quý III, với nhận định là nền kinh tế đã hạ nhiệt và tiếp tục tăng trưởng với ổn định. Ông nghĩ sao về những dữ kiện đó" Liệu Trung Quốc có hạ cánh an toàn hay chăng"

-- Trước khi đi vào đề mục này, tôi xin có một nhận xét về cách loan báo thông tin kinh tế tại Việt Nam. Ngày 22, Nhân Dân nhật báo tại Hà Nội loan tin với tựa đề là “Kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định.” Hôm sau, tờ Nhân Dân đã loan tiếp là “Kinh tế Trung Quốc ‘nguội’ bớt, phát triển ổn định”. Nội dung hai bản tin đều trích dẫn hoặc Tân hoa xã, hoặc lời phát biểu của cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc và viên chức cao cấp trong Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển, thuộc Quốc vụ viện, tức là Hội đồng Chính phủ, Trung Quốc. Những tin tức ấy đều nói lên sự lạc quan của nhà cầm quyền Bắc Kinh, báo chí Việt Nam cứ theo đó loan tin, và dư luận trong nước có thể cứ theo đó mà tin. Trong khi sự thể lại không tốt đẹp như vậy và dư luận sẽ bị bẽ bàng và thua thiệt.

Hỏi: Xin hỏi ngay rằng ông cho là kết quả “hạ nhiệt” kinh tế chưa lạc quan như vậy sao"

-- Thưa vâng. Đầu đuôi là sáng Thứ Sáu 22, người phát ngôn của Cục Thống kê Quốc gia Bắc Kinh, ông Trịnh Kinh Bình, đã họp báo để công bố kết quả khảo sát tình hình kinh tế trong chín tháng đầu năm, tức là trong ba quý, ba tam cá nguyệt đầu của năm 2004. Về đại thể, tổng sản phẩm hay tổng sản lượng quốc nội GDP đã tăng 9,5% so với cùng kỳ năm ngoái, đây là con số quy ra toàn năm. Nhìn vậy tốc độ này có thấp dần: quý I là 9,8%, quý II là 9,6% và quý III vừa kết thúc là 9,1%. Trên cơ sở ấy, lãnh đạo Bắc Kinh lạc quan loan báo là họ đã thành công trong việc hạ nhiệt nền kinh tế. Ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hoá nên mọi thông tin đều được khắp nơi phân tách ngay sau khi được phổ biến, và các thị trường quốc tế đều đọc kỹ các dữ kiện do Bắc Kinh công bố ra. Kết luận chung là lãnh đạo kinh tế Trung Quốc có đạp thắng, hãm đà, nhưng chưa đủ, và tình hình chưa có dấu hiệu gì khả dĩ nói là “tăng trưởng cao với ổn định”. Cụ thể là tốc độ 9,5% còn là quá cao so với bình quân hay trung bình là 8% một năm suốt năm năm qua. Chưa kể đến một hiện tượng đều được giới nghiên cứu chú ý và, nói theo lối nôm na của ta, là “trừ hao”. Hiện tượng đó là sự thiếu trung thực của thống kê kinh tế Hoa Lục.

Hỏi: Xin ông đơn cử cho một thí dụ về tình trạng thiếu trung thực ấy vì thính giả cũng có thể liên hệ đến những gì đang xảy ra tại Việt Nam.

-- Xin phải nói ngay là Trung Quốc ngày nay đã khác, Việt Nam cũng vậy, vì giới đầu tư trực tiếp hay đầu tư tài chính đều tiếp cận khá sâu vào thị trường nên nắm vững tình hình tương đối chính xác hơn xưa. Đại để thì Trung Quốc có năm cấp hành chính từ dưới lên là xã-ấp, quận-huyện, thành phố, tỉnh và trên cùng là trung ương, trải rộng trên 23 tỉnh, năm khu tự trị hành chính, và bốn thành phố lớn có quy mô của một tỉnh. Cục Thống kê đã khảo sát tình hình căn cứ trên báo cáo của đảng viên cán bộ nhà nước từ cấp dưới lên rồi cộng chung lại, sau đó mới “trừ hao” hoặc điều chỉnh những phóng đại được tích lũy từ mọi cấp.

Một thí dụ là cách đây ba tháng, Cục Thống kê đã tổng kết đà tăng trưởng quy ra toàn năm của hai quý đầu năm là 9,7%, nhưng, nếu cộng lại báo cáo của mọi cấp thì ta có tốc độ rất kỳ lạ là 13,4% trong cùng thời kỳ. Lý do sai biệt này là khi nhà nước đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng là 8%, cấp tỉnh báo cáo là đạt tốc độ 9%, cấp quận-huyện đạt 10-12% và trung ương bèn cắt bớt 2% khi làm số tổng kết. Đây là lời phát biểu của một giới chức nghiên cứu trong Ủy ban Phát triển và Cải cách Nhà nước và được giới nghiên cứu kinh tế bên ngoài chú ý.

Thí dụ khác là năm 1995, thị trấn Phụ Dương của tỉnh An Huy đã xây một phi trường trị giá hơn 300 triệu nhân dân tệ mà không có lợi ích kinh tế gì: suốt năm 2002 chỉ có 920 hành khách, mỗi ngày chưa tới ba người! Kết quả là tỉnh này mắc nợ hơn hai tỷ bạc, gấp năm lần kinh phí đầu tư cho dự án phi trường ấy, vậy mà An Huy vẫn báo cáo tốc độ tăng trưởng là 22% trong năm đó. Vụ việc chỉ vỡ lở khi giới chức đề xuất dự án được đề bạt lên vị trí lãnh đạo tỉnh rồi gần đây bị truy tố về tội tham nhũng và vừa bị xử tử hình tháng này. Đọc báo chí trong nước, ta hiếm thấy loại tin ấy, nhưng các nơi khác đều biết và đều có những kết luận dè dặt hơn về khả năng hãm đà tăng trưởng, nhất là loại tăng trưởng qua các dự án đầu cơ, loại dự án mà Thủ tướng Chu Dung Cơ ngày xưa gọi là “dự án đậu phụ”, rất dễ nát. Bây giờ ta mới trở lại đề tài...

Hỏi: Nhưng vì sao các nước lại đặc biệt chú ý đến tình hình kinh tế Trung Quốc như vậy"

-- Câu trả lời là nhân và duyên. Kinh tế Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng tại Đông Á và chi phối tình hình tăng trưởng hay ổn định của toàn vùng, lại có một hệ thống chính trị độc tài cứng ngắc nên khó ứng phó với các biến chuyển của thị trường, cụ thể là khó điều tiết kinh tế một cách linh động, và có một chế độ ngoại hối hay hối đoái cũng cứng ngắc là giàng giá đồng nhân dân tệ vào tiền Mỹ, trong khi đang bị hiện tượng bong bóng đầu tư. Đó là về cái nhân. Trái bóng ấy có thể sẽ bể vỡ chứ không bị xì chầm chậm nếu chính quyền không hạ nhiệt được bộ máy kinh tế.

Sở dĩ như vậy – và đây là cái duyên – vì ba yếu tố bất ổn là: thứ nhất, lãi suất tại Mỹ đã tăng, tiền hết rẻ để thổi nạn đầu cơ như xưa; thứ hai, nếu Mỹ kim sụt giá nữa, chế độ hối đoái Trung Quốc sẽ bị sức ép rất nặng, gây hậu quả tai hại cho toàn vùng Đông Á; và thứ ba, dầu thô tăng giá quá mạnh so với năm ngoái và còn có thể tăng trong mấy tháng tới. Ngần ấy yếu tố có thể gây chấn động cho kinh tế Trung Quốc và vì chế độ chính trị xơ cứng hiện nay, khủng hoảng kinh tế năm tới có thể dội lên thành khủng hoảng chính trị trong những năm kế tiếp. Người ta không quên là vụ Thiên an môn năm 1989 xảy ra sau những dằn xóc kinh tế năm 1987-1988.

Hỏi: Cho đến nay, việc giảm đà tăng trưởng ấy vẫn chưa có kết quả khả quan hay sao"

-- Từ cuối năm ngoái, giới lãnh đạo Bắc Kinh đã thấy nguy cơ lạm phát xuất hiện sau mấy năm tưởng là phải đối phó với nạn giảm phát. Đến tháng Tư vừa qua, chính quyền xứ này ra lệnh tạm ngưng cấp phát tín dụng và dẹp bớt nhiều dự án vô giá trị, nhưng kết quả vẫn còn thấp và trong quý III vừa rồi khối đầu tư cố định lại tiếp tục gia tăng, thêm gần 26% so với hơn 14% vào quý II. Quy ra toàn năm thì có thể lên tới gần 28% cho năm nay. So với 26,7% cho năm 2003 và 14,5% cho năm năm qua thì con số đầu tư này còn quá lớn, việc giảm đà tăng trưởng rõ là chưa đạt kết quả. Nhưng dường như người ta vẫn chưa nhìn ra mối nguy ấy nên nạn bể bóng đầu tư là rủi ro khó tránh được cho năm tới.

Hỏi: Vì sao ông bi quan như vậy, khi dư luận Á châu và cả các định chế quốc tế đều có dự báo lạc quan cho kinh tế Đông Á năm tới, ít ra thì chỉ có rủi ro giảm đà tăng trưởng chưa tới 1% mà thôi"

-- Thưa vâng, khi Ngân hàng Phát triển Á châu ADB dự báo tăng trưởng 7% cho Á châu, rồi Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra dự báo mới nhất là 4,5% cho kinh tế toàn cầu, dư luận tất nhiên không thấy gì đáng lo. Đầu năm 1997, các định chế quốc tế cũng có những dự báo như thế, dăm tháng sau là vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Thái Lan rồi lan khắp Đông Á khi thế giới còn đang ca ngợi phép lạ kinh tế Đông Á. Lý do ở đây có thể là người ta chưa kết hợp hiệu ứng xăng dầu và lãi suất Mỹ trong các tính toán, lý do khác có thể là họ e sợ tâm lý hốt hoảng. Nhưng, ngoài các định chế quốc tế, giới đầu tư tài chính nhiều nơi thì đã có dấu hiệu lo ngại hơn và đã điều chỉnh dự báo của họ. Đặc biệt là họ chú ý đến vụ Trung Quốc vừa phát hành trái phiếu hôm Thứ Năm 21 tuần trước...

Hỏi: Vụ này có gì là đáng chú ý, vì là một chỉ dấu tiên báo hay sao"

-- Tôi e là còn tệ hơn thế nữa vì tâm lý lạc quan của Á châu. Khi phát hành công khố phiếu, nhà nước muốn vay tiền trên thị trường, thí dụ nôm na như là khi ta mở bát họ, hay chơi hụi, và giới đầu tư có thể trả giá hay mặc cả, xem ai trả tiền lãi cao nhất thì được. Quy luật cung cầu vì vậy quyết định lãi suất. Tuần qua, khi Trung Quốc phát hành hai loại trái phiếu, hơn một tỷ đô la trái phiếu thanh toán bằng đồng Euro và 500 triệu đô la thanh toán bằng Mỹ kim. Kết quả đáng chú ý là trong việc đấu giá hay trả giá để mua các trái phiếu này, tức là để cho nhà nước Trung Quốc vay tiền, người cho vay, là giới đầu tư, lại tấp nập xếp hàng, và đòi cho vay bằng được, với lãi suất rất hạ. Lãi suất trái phiếu Euro là 4,25% và lãi suất trái phiếu Mỹ kim là 3,75%. Chúng ta kết luận ra sao" Rằng giới đầu tư tin là khách nợ Trung Quốc này khả tín, đáng tin, nhất là khi Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh có một khối dự trữ ngoại tệ rất lớn, đến mấy trăm tỷ.

Hỏi: Nhưng, như thế rủi ro của việc cho vay này là gì và những ai đã cho vay như vậy"

-- Tôi xin nhắc lại là giới đầu tư, là các chủ nợ, đã cho Trung Quốc vay bằng Mỹ kim với lãi suất có 3,75%, chỉ cao hơn lãi suất trên thị trường Mỹ có 0,6%. Nếu so sánh thì độ an toàn của hai thị trường này khác nhau một trời một vực. Đấy là nghịch lý từng thấy năm 1997, trước khi khủng hoảng Đông Á bùng nổ. Giới đầu tư Mỹ không dại gì châm tiền vào đấy với lãi suất thấp như vậy, 80% các chủ nợ đó là giới đầu tư Á châu, kế tiếp là Âu châu, nhất là các ngân hàng Đức. Vụ khủng hoảng 1997 khiến giới đầu tư Á châu mất nợ đến sạt nghiệp; vụ khủng hoảng tại Liên bang Nga năm 1998 hay tại Argentina cách đây hai năm cũng khiến các chủ nợ Đức bị thiệt nhiều nhất. Có khi ta đang thấy tái diễn nạn hồ hởi sảng cũng vì các loại tin tức lạc quan như báo chí Việt Nam vừa loan về kinh tế Trung Quốc. Khi tai họa xảy ra, có khi người ta lại tự an ủi là lỗi tại Mỹ nâng lãi suất, hoặc như Malaysia đã đổ lỗi năm 1997 cho giới đầu tư tài chính Tây phương, chủ yếu là Mỹ. Thực tế chính là giới đầu tư Á châu đã không thấy trước những dấu hiệu cảnh báo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.