Hôm nay,  

Lấy Thân Làm Tòa

26/11/201900:00:00(Xem: 5074)

Mấy ngày qua bọn con trẻ chạy rong ruổi khắp kẻ chợ nghêu ngao hát rằng:

   Bất phân thắng baị

   Nhất Gianh nhị giải

   Vĩnh Trị thái hoà

   Biếm tăng biên ải

Quan quân, dân chúng cứ xôn xao cả lên, không biết điềm gì đây? Quốc gia đã cạn kiệt sức người, sức của. ruộng đồng hoang hoá, tang thương khắp nơi. Bảy lần Chúa Trịnh cùng chúa Nguyễn đánh nhau nhưng bất phân thắng baị. Không biết bọn con trẻ được ai mớn cho mà ngày ngày hát bài lạ đầy ẩn ý thế này? Quan hộ thành cho người điều tra, gạn hỏi khắp nơi nhưng xem ra chẳng có tung tích gì!  Người người bàn tán, chợ búa xôn xao đầy vẻ  bất an. Đời Vĩnh Trị nạn binh đao có vẻ tạm yên. Hai chúa lấy sông Linh Giang làm giới tuyến, giang sơn chia hai giaỉ. Không phải hai Chúa đã chán nạn binh đao mà vì cả hai đều kiệt sức nên tạm hưu chiến chờ cơ hội mới.

Tháng chạp năm ấy Vĩnh Trị xuống chiếu trục xuất sãi-vãi ở các chùa trong  kinh thành, đày lên Cao Bằng. Chiếu có đoạn viết:" ... Bọn sãi-vãi ở các chùa lười biếng, phá giới, làm những chuyện hủ hoá. Bọn chúng trốn xâu lậu thuế, Trong chùc chứa chập bọn trốn quân dịch. Trẫm xét thấyđể bọn chúng trong kinh thành không lợi ích gì nên nay xuống chiếu, nội trung tuần tháng chạp tất cả sãi-vãi phải rời khoỉ kinh thành, tất cả phải lên Cao Bằng. Kẻ nào bất tuân sẽ bị chiếu theo luật mà xử.."

Kinh thành dậy sóng, sấm động trời quang. Dân kẻ chợ cùng sãi- vãi trong thành ta thán ai oán  nhưng không biết làm sao được. Sĩ phu cũng ngao ngán nhưng không dám cưỡng mệnh vua. Saĩ - vãi các chùa lần lượt khăn gói ra đi. Có vị tăng than rằng:

- Rõ là pháp nạn! Năm xưa đời Hồng Võ bên Tàu cũng từng thế này.

Chúng tăng đồng thanh:

- Hay là chúng ta làm sớ tâu thỉnh cầu hoàng thương suy xét laị?

Nhưng tất cả ngao ngán vì ai cũng biết rõ Vĩnh Trị sẽ không nghe mà còn sẽ trừng trị nặng hơn. Từng nhóm tăng đành rời chùa lên nước non Cao Bằng. Thiền sư Tông Diễn mấy ngày nay không noí lơì nào, ngài đăm chiêu nghĩ cách giải pháp nạn này. Ngài bảo với mọi người:

- Tôi phải quay laị Thăng Long và tìm cách gặp hoàng thượng!

Các vị tăng can gián:

- Không được đâu, ngài sẽ bị haị mất thôi!

- Tôi phải về, dù chết tôi cũng phải gỡ được pháp nạn nầy! thiền sư Tông Diễn trả lời. Sau đó ngài quyên một số tiền mua một viên ngọc quý để về kinh tìm cách dâng lên vua. Cải trang về đến kinh  nhưng đã mấy ngày cũng không sao gặp được vua. Ngài dúi cho quan thị vệ một số tiền nhờ hắn dâng quà lên vua và xin tiếp kiến. Hộp ngọc dâng vua ngài viết sẵn một tờ sớ bỏ vào trong, sớ có đoạn viết rằng:"... Kể từ đời lý, đời Trần quốc gia hưng thịnh, đaọ pháp xương long, văn hiến hiển quang... ấy nhờ một phần Phật pháp, ấy nhờ sự phò hộ của chư tăng-ni. Các thiền sư: Cam Mộc , Vạnh Hạnh, Huyền Quang, Pháp Loa... gánh vác việc quốc gia! Các vua Nhân Tông , Thánh Tông.. há chẳng phải là sư sao? Đến đời các vua tiền triều của bệ hạ, quốc gia loạn lạc binh đao, văn hiến suy đồi, Đạo pháp cũng có phần suy theo. Trong chúng tăng cũng có những người phá giới, lầm lạc làm ảnh hưởng đến đạo pháp và tăng chúng, nhưng đó nào phải lỗi của toàn bộ chúng tăng càng không phải lỗi của đạo pháp. Nay bệ hạ xuống chỉ biếm tăng thật muôn vàn đau thương, thật di họa cho quốc gia. Thần chỉ là một ông tăng bình thường nhưng không nỡ ngồi nhìn pháp nạn, không nỡ để bệ hạ bị danh xấu về sau nên nay mạo muội dâng sớ xin bệ hạ anh minh soi xét... 

Tông Diễn thiền sư "

Vĩnh Trị tiếp ngọc , đọc sớ trầm ngâm hồi lâu rồi bảo thị vệ:

- Giờ ngọ ngày mai cho kẻ dâng ngọc vào bệ kiến

Đúng hẹn Tông Diễn thiền sư vào triều. Ngài đi khoan thai , từ tốn không có chút gì e dè, sợ sệt cả. Thi lễ xong Vĩnh TRị liền hỏi gằn:

- Ngươi không sợ chết sao?

- Khải bẩm bệ hạ! Nếu chết mà đạo pháp hưng long, danh bệ hạ khoỉ bêu xấu về sau thì thần sẵn sàng

Vĩnh Trị tiếp:

- Trong triều thì có bọn sinh đồ ba quan làm hư hoaị triều chính. Chùa chiền thì bọn saĩ-vãi trốn xâu thuế, lậu binh làm hư hoaị pháp nước, vậy thì oan ức gì mà kêu ca?

Thiền sư Tông Diễn thưa:

- Binh đao loạn lạc, bá tánh ly tán , quốc gia tang thương cũng có những kẻ trốn vào chùa ẩn náu làm ô danh hoaị giới nhưng đó chỉ là thiểu số vả laị lẽ vô thường thịch quá rồi suy lẽ nào quy cho tăng chúng!

Vua  và thiền sư đối đáp suốt buổi chiều hôm ấy. Càng đối đáp càng hoan hỉ. Cuối cùng vua xuống thềm đỡ hoà thượng lên rồi ngài quỳ xuống xin sám hối:

- Trẫm vì hồ đồ không suy xét, cộng với lời sàm tấu, xuí dục của bọn hủ nho mà sân hận mù quáng xuống chiếu biếm tăng. Lỗi này tại thân trẫm. Trẫm đau lòng sám hối. Giờ trẫm xin thiền sư chỉ giáo trẫm phải làm gì đây?

Hoà thượng Tông Diễn cũng không ngờ tình thế chuyển biến như vậy nhưng ngài mau chóng đỡ vua lên rồi xin vua rút laị chiếu chỉ biếm tăng. Vĩnh Trị nhận lời và cho thiền sư về quán dịch nghỉ ngơi hẹn hôm sau vào có việc.

Hôm sau vua thết tiệc đãi thiền sư và cho vời những người thợ tài hoa của Cục Bách Tác đến xuống lệnh:

- Trẫm vì phút nông nỗi mà phạm lỗi lớn. Nay trẫm đau lòng sám hối trước chư Phật có sự chứng minh của thiền sư Tông Diễn. Từ bây giờ trẫm sẽ hết lòng hộ pháp, hộ tăng. Trẫm ước   muốn đem tấm thân tứ đaị này làm toà ngồi của Như Lai. Vậy trẫm hạn định cho các ngươi từ bây giờ cho đến trước tết Nguyên Đán phải tạc xong bức tượng Như Lai ngồi trên lưng trẫm. Các ngươi hãy gấp rút thi hành, nếu chậm trễ sẽ chiếu theo phép nước trừng trị. Quan trưởng Bách Tác Cục và các thợ đồng quỳ xuống:

- Chúng thần phụng mạng

Thiền sư Tông Diễn hoan hỷ vô cùng. Ngài ứng tác bài thơ ngay taị triều:

   Nhân sinh vô thập toàn

   Toàn nhân thị phản hoàn

   Tri quá tức thời chỉ

   Thậm hiền thậm vi quý

Vĩnh Trị xúc động noí với triều thần:

Tông Diễn thiền sư là bậc tăng tài, là sứ giả Như Lai. Nếu không có ngài trẫm sẽ đắm sâu vào việc phá tăng haị đạo. Nay nhờ ngài ta mới tỉnh ra!

Triều thần nhìn ngài cảm kích lắm . Ngài vẫn ung dung tự taị như không có gì và từ tạ xin lui ra.

Mồng một têt năm Vĩnh Trị thứ hai mươi,  pho tượng Phật ngồi trên lưng vua đựợc rước về chùa Hoè Nhai ở  Đông Bộ Đầu của thành Thăng Long. Năm ấy kinh thành mở hội lớn tưng bừng Sãi - vãi cùng bá tánh tứ dân quanh thành nườm nượp trẩy hội về chùa đảnh lễ bức tượng độc nhất vô nhị của Thăng Long thành.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.