Hôm nay,  

Mỗ

21/11/201900:00:00(Xem: 8873)

 Ngấp nghé bước lên hàng năm, mắt nhiều vết chân chim, da cổ chùng, da bụng nhão… Mỗ cảm nhận cái già đã hiện tướng, cái vô thường đã lãng đãng… nên phát tâm tu học đặng kiếm chút phước huệ về sau. Ban đầu Mỗ cũng bố thí, ăn chay, đi chùa… một sự cố gắng phi thường, vì xưa nay Mỗ chỉ ăn nhậu chơi bời thả giàn, giờ chịu giảm bớt hưởng lạc để cho đi; việc ăn chay kể cũng khá vất vả. Mỗ than:

 - Trời, sao mấy ông thầy giỏi quá! đồ chay nhạt nhẽo, ăn cứ như bò nhai rơm, đã vậy còn mau đói bụng thấy mồ!

 Nói thì nói vậy, nhưng Mỗ quyết tâm ăn chay vào những ngày vía trong tháng. Nhiều lúc Mỗ mong sao cho những ngày ấy qua nhanh một chút:

 - Những ngày vía thời gian sao trôi chậm thế? có hai mấy tiếng mà sao dài dễ sợ.

 Vợ Mỗ trêu:

 - Anh ăn chay ngày viá mà còn mong cho qua mau, vậy là chưa chứng quả đâu! ráng cố gắng đi, mai kia còn phước thì laị làm quan tiếp!

 Con gái lớn của Mỗ cười ngặt nghẽo:

 - Mẹ ráng tu theo ba, nếu không ba có phước nhiều, kiếp sau laị làm ông lớn. Mấy con nhỏ chân dài nó đu theo là mẹ thua đó.

 Mỗ thấy người mình rất quý kinh Pháp Hoa nên cũng tụng theo. Ngày đầu được mươi trang là đuối, thở hổn hển, mồ hôi ướt cả mặt và lưng áo. Mỗ cố gắng lắm nhưng cái thân ngũ tuần không còn dễ dàng điều khiển theo ý nữa: Bụng thì phinh phính, ngồi rất khó khăn; còn khớp gối cứng đơ không sao xếp bằng được, chỉ mươi phút là phải đổi tư thế, khi thì quỳ, lúc thì quặt ra sau…Quả thật khó khăn để bắt đầu ở cái lứa tuổi này! Nhưng phải công nhận Mỗ thật sự quyết tâm, sau một thời gian thì Mỗ cũng tụng xong bộ Pháp Hoa. Mỗ thú thật không hiểu gì mấy, miệng lẩm bẩm:

 - Thầy dạy, tu học phải dùng lý trí chứ không dùng cảm tình, sao Bồ tát Thường Bất Khinh ngớ ngẩn thế? sao cứ suốt ngày đi bái người ta chi cho họ giận dữ đến độ chửi mắng và đánh đập, thế thì vô tình làm cho người ta tạo nghiệp xấu. Bồ tát phải biết điều này chứ! Rồi còn tháp của Phật Đa Bảo, bay lơ lửng trên không trung, sao giống như tháp của Lý Thiên Vương trong Tây Du Ký thế!

 Mỗ cố công tìm hiểu, phân tích, chia chẻ… nhưng càng nghĩ thì càng thấy rối trí, một hôm Mỗ lên chùa lễ Phật và thăm hoà thượng đã truyền giới. Hoà thượng hỏi thăm thì Mỗ thật thà thưa:

 - Con bỏ công sức làm việc thiện thì thấy cũng dễ, duy có việc tụng kinh sao khó quá, có lẽ do thâm sâu và cao siêu quá nên con không thông, dù có tụng qua nhưng như nước đổ lá môn.

 Hoà thượng trầm ngâm một lúc rồi bảo:

 - Lỗi một phần tại ta, Phật pháp như biển cả, kinh điển nhiều như núi, căn cơ mỗi người mỗi khác…Ấy vậy mà ta cứ bảo chung chung, cho nên Phật tử chẳng nắm được cái cốt lõi của giáo lý, cũng như không biết cái căn bản của việc tu học. Chả trách các Phật tử hiểu đạo lơ mơ lắm, trong khi các tín đồ của đạo khác họ nắm vững giáo lý của họ! Việc này kéo dài đã lâu, càng ngày càng tệ. Bây giờ các Phật tử đến chùa chỉ chăm chăm cầu siêu, cầu an, dâng sớ, giải hạn…Những người khá hơn chút thì tụng thời kinh, đốt nén nhang, bỏ ít tiền vào thùng phước sương… thế là xong! Mấy ông thầy danh văn lợi dưỡng, mượn đạo tạo đời và mấy ông thầy dựa quyền lực thế tục, xu phụ quyền thế…Cũng chỉ mong thế thôi! Bọn họ đang ngày đêm phá hoại chánh pháp, chăm chăm xây chùa to Phật lớn để thoã mãn cái hiếu kỳ của người ta, nhằm mục đích làm du lịch chứ nào phải để tu. Thứ nữa là để tô vẽ cho bộ mặt của quan quyền. Sư tử trùng cấy khắp nơi, từ cao đến thấp, từ xa đến gần; nhân danh Phật sự nhưng làm việc ma!

 Thầy nói một hơi rồi ngưng, hình như thấy mình hơi vô lý khi không xổ cả tâm tư với Mỗ nên nói:

 - Ta lan man quá, đi lạc đề mất, giờ quay laị chuyện của anh nhé! Với người khác thì ta không nói làm gì, nhưng anh đã quy y và thọ giới với ta thì ta phải có trách nhiệm. Ta nói với anh một lời này: Khi con người ta có quyền thế trong tay thì dễ tạo nghiệp xấu lắm, chỉ vì chút danh lợi, địa vị mà họ sẵn sàng haị người, haị vật… để giữ lấy cái vị trí của mình với bất cứ giá nào. Anh đã quy y, đã là Phật tử thì hãy nhớ lấy: Danh lợi chỉ một thời nhưng hậu hoạ của nghiệp xấu thì vĩnh kiếp, đừng vì chút danh lợi mà phải trả giá về sau. Việc học Phật của anh cứ theo chỉ dẫn này nhé! Anh về nhà, lúc rảnh rỗi pha một bình trà và đọc cuốn sách mỏng này “ Phật Pháp Căn Bản”. Anh hãy đọc thật chậm, thật kỹ để hiểu tại sao Phật dạy đời là khổ, nguyên nhân của khổ, cách hết khổ, con đường đi đến hết khổ. Anh phải biết căn bản về những gì gọi là chân chánh của sự thấy biết, suy nghĩ, nói năng, hành động, sanh kế, cố gắng, niệm, định…Sau đó, hằng ngày tụng kinh ít laị, dành thời gian ngồi lắng tâm, lắng hơi thở, tưởng nhớ Phật ( về hình tướng và những đức tính), quán xét hành vi và tâm tư của mình.

 Sau đó thầy đưa cho Mỗ những bản kinh ngắn như: kinh Hạnh Phúc, Châu báu, Nghiệp… và bảo:

 - Anh về làm theo chỉ dẫn của tôi và tụng những bản kinh này, sau vài tháng hoặc khi nào cảm thấy có sự thay đổi từ tâm đến hành thì lên cho tôi biết.

 Mỗ về và làm theo lời hoà thượng, một thời gian sau thì Mỗ thấy khá thoải mái, không còn khó khăn như lúc đầu. Một ngày nọ Mỗ lên chùa khoe với hoà thượng:

 - Những bản kinh ngắn thầy đưa hôm nọ, con thuộc hết rồi. Kinh văn ngắn, lời lẽ dễ hiểu, dễ đọc tụng và dễ thực hành. Những bản kinh ấy khác với Pháp Hoa hay Bát Nhã… quá đồ sộ và thâm sâu khó hiểu..Sau khi tụng thuộc lòng, ngày ngày con đều tụng cả. Con cảm nhận sự an lạc, thâm tâm nhẹ nhõm rất nhiều, nhìn vật nhìn người rõ ràng hơn; có thể buông được ít nhiều những thứ mà trước kia cứ ôm đồm bám víu… Nhưng giờ thì laị có một vấn đề khác xảy ra. Gần đây có người bảo con lẫn lộn giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa. Họ còn bảo: đi bên nào thì đi một bên, chứ đi hai bên thì sẽ không đi được! giữa hai bên có nhiều khác biệt, cần phải chọn một!

 Hoà thượng cười hoan hỷ:

 - Vậy thì dễ, chẳng có chi là vấn đề cả! Anh cứ thế mà làm, anh đã có được chút pháp hỷ thì hãy giữ gìn và làm cho nó tăng trưởng, đừng dừng laị, mỗi ngày một chút, mỗi đời một chút…Lâu dần cũng sẽ có lúc ngộ. Còn việc người ta nói thế nào đó thì mặc kệ họ. Anh không thể xây lâu đài mà không có nền móng, còn nếu như anh chỉ có nền móng không thì cũng chẳng tới đâu! Anh cứ vững tâm mà tiến bước, nếu ai còn nói nữa thì anh bảo với họ rằng: Tôi chẳng biết nhỏ hay lớn chi cả, tôi chỉ tu theo giải thoát thừa mà thôi!

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất lăng thành, 8/2019

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.