Hôm nay,  

Thời Gian Không Đợi

15/11/201900:00:00(Xem: 4456)

Dòng thời gian vẫn âm thầm trôi qua, bốn mùa nối tiếp. Họ vẫn âm thầm như những con chim ẩn mình chờ chết. Thời gian không đợi ai bao giờ

  Họ là ai? Là gia đình một cựu quân nhân VNCH, khi cuộc chiến tàn. Cuộc đời họ cũng khốn khó  như bao người dân nước Việt khác, thậm chí còn nguy khốn hơn nhiều. Họ laị thêm nhiều bất hạnh hơn những đồng đội khác, sang Mỹ diện HO của mấy đợt cuối cùng.

  Bác Hiếu sang Mỹ  năm 2008, lúc đầu có làm hãng CD một năm, sau đó có thuê phòng ở và giữ con cho  chủ nhà. Mấy năm sau bác bị tai biến, liệt nửa người nên chủ nhà không cho ở nữa. Hiện giờ bác và vợ thuê phòng ở gần chợ Trinh ( Morrow ). Hai bác hàng tháng nhận trợ cấp của chính phủ 650 USD, hai bác chi tiền nhà 300 USD, còn laị cho tất cả thực phẩm, thuốc men, đau bệnh, … Ta cứ thử hình dung hai bác mua 5USD cá  về kho để ăn trong một tuần thì có thể biết cuộc sống khốn khó như thế nào! Bác Hiếu năm nay ngoài bảy mươi, tai biến liệt nửa người đã bốn năm nay. Hiện taị bác rất yếu, theo sự cảm nhận chủ quan của chúng tôi thì thời gian còn laị của bác không bao nhiêu. Hai bác sang Mỹ tuổi đã lớn, không con cháu họ hàng, không nhà, xe, tiếng Anh…Cuộc sống thật không phải biết dùng từ gì để miêu tả tâm trạng của hai bác. Hiện nay chủ nhà muốn đuổi hai bác đi để bán nhà. Hai bác thật sự CÙNG ĐƯỜNG! Chúng tôi đến thăm hai bác có tâm sự:”  hai bác già yếu quá, nhớ quê hương nên muốn hồi hương sống những ngày cuối cùng”. Chúng tôi trao đổi với hai bác nhiều điều và cảm nhận đây có lẽ cũng là con đường không tệ vì không có sự lựa chọn nào khác!

  Người Việt sống ở haỉ ngoaị ít nhiều cũng đều phải biết rằng: để có cộng đồng Việt ở hải ngoại, để có sự chấp thuận của chính phủ Hoa Kỳ cho đi định cư… đều nhờ sự hy sinh ngày trước của những quân nhân VNCH. Nếu không có họ thì  nhất định không có cộng đồng người Việt ở hải ngoại hôm nay! Nhưng người đời thường bảo nhau:” kẻ đóng giường cho thiên hạ mà mình thì nằm đất. kẻ đưa đò cho người qua sông nhưng mình khi cần qua thì chẳng có ai đưa”… Dòng đời nhiều khi vô tình đến lạ, sự bận rộn mưu sinh, chuyện cơm áo gạo tiền… nặng trĩu làm cho con người ta đôi khi thờ ơ trước nỗi đau nhân tình… Nhưng rồi chúng tôi laị vô cùng xúc động khi biết chuyện của bác Hiếu, nhiều đồng hương đã sốt sắng  nhiệt tình ủng hộ để giúp hai bác! Lửa nhân ái vẫn âm ỉ cháy, chỉ khi khơi lên thì sẽ ấm nồng. 

  Những ngày sắp tới chúng tôi sẽ gặp bác để bàn bạc thêm về hướng đi của hai bác. Nếu như hai bác vẫn giữ tâm nguyện hồi hương thì chúng tôi sẽ quyên góp mua vé máy bay cho hai bác, nếu có dư thì tặng hai bác để đem về Việt Nam chi dùng.  Chúng tôi cũng lo ngại về những bất trắc có thể xảy ra cho hai bác, rất nhiều trường hợp hồi hương đã dở khóc dở cười; những ngày đầu còn tiền thì mọi người vui vẻ nhưng khi hết tiền thì lập tức thái độ thay đổi ngay. Nếu lúc có tiền thì ngọt ngào bao nhiêu thì khi hết tiền sẵn sàng nhiếc móc, xua đuổi…Thậm chí tống ra khỏi ngôi nhà mà họ bỏ tiền ra mua! Đây là sự thật đã và đang diễn ra.  Vì vậy chúng tôi cũng lo ngaị cho hai bác lắm!

  Vật đổi sao dời, quốc gia thăng trầm thì con dân cũng theo đó mà hưởng phúc hay vạ lây. Cùng một kiếp người nhưng có người hưởng lộc nhiều bao nhiêu thì khi quốc gia hưng vong laị chẳng có trách nhiệm gì. Chỉ tội cho những quân nhân ở laị gánh đủ mọi nghiệt ngã của đời lính baị trận. Đời người ngắn ngủi, vui ít buồn nhiều, chẳng ai trên đời này dám khẳng định mình sẽ sống được bao nhiêu. Càng nghĩ càng thương những phận đời bất hạnh như bác Hiếu, một cựu quân nhân  của VNCH xưa.

 

Steven N

 

P.S. Bài này viết đã lâu, trường hợp hai vợ chồng bác Hiếu khá buồn, hai bác quyết định không hồi hương nữa! sau này vận động một số bạn xin giúp medicare, trợ giúp của chính phủ về chăm sóc y tế, hàng tuần có người chở hai bác đi chợ (mỗi tháng có một số giờ nhất định)… tuy tạm ổn nhưng thật tình tinh thần không thoải mái lắm.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.