Hôm nay,  

Bidong Bây Giờ

28/05/201910:12:00(Xem: 7037)

Bidong, Bidong…blank


Hòn đảo cách bờ hơn nửa giờ ca-nô cao tốc, chỉ rộng 1 cây số vuông, nguồn nước ngọt ít oi và (hầu như) không có thú rừng nhưng, theo hồ sơ còn lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Hội Hồng Nguyệt Malaysia, nó từng là nơi tiếp nhận tạm cư cho hơn 300,000 người vượt biển từ Việt Nam trong những thập niên 70-90 của thế kỷ trước. Hơn 1,000 thuyền nhân Việt Nam đã gửi thây ở đây và trên các đảo lân cận khác. Số trẻ em ra đời trên đảo trong thời gian đó cũng bằng số người qua đời…

Vậy mà đã hơn 40 năm rồi, từ khi Bidong mở cửa vào tháng 8/1978 để tiếp cư cho dòng người tỵ nạn vượt thoát chế độ chính trị hà khắc ở quê nhà. Bây giờ, trong chuyến thăm viếng Bidong vào tháng 4/2019 vừa qua của nhóm bạn tự đặt tên là “Bidong Family” (phần đông là từ Australia), hình ảnh hòn đảo nhiều kỷ niệm đó đã hoàn toàn không còn nhận ra… blank


Thuyền ra cửa biển..."


Trái ngược với những lần dắt díu vượt biên trong bóng đêm, hồi hộp sợ công an phát giác, mửa mật vì sóng gió biển khơi, hoặc hãi hùng khi đối mặt với hải tặc... chuyến đi thăm Bidong của nhóm được thực hiện êm ru như "Tháng Ba bà già đi biển". Hai chiếc ca-nô cao tốc xé nước băng ra đảo từ bến phà du lịch Redang (thuộc bang Terengganu). Chưa kịp chụp hình hoặc quay phim cảnh Bidong từ xa đã thấy nó lù lù trước mặt...

blank

Hội ngộ Bidong


Trong nhóm có nhiều người về Bidong lần đầu nhưng cũng có một số đã thăm lại hòn đảo này vài lần. Dù mới hay cũ, cảm giác vẫn giống nhau khi đặt chân lên cầu jetty, bồi hồi và xúc động.

blank

Căn lều qua đêm


Bây giờ, bạn có thể ngủ lại đêm ở Bidong nếu xin được giấy phép từ Viện bảo tàng – cũng dễ, chỉ thủ tục hành (là) chính thôi mà. Bạn cũng có thể thuê các căn lều cá nhân (giá khoảng 10 đô Úc một căn) từ nhân viên phục vụ du lịch trên đảo. Đây là một trải nghiệm tuyệt vời mà người viết đề nghị nên làm, vì có lẽ hiếm khi bạn có dịp lang thang tìm lại dấu vết xưa, ngắm hoàng hôn trên đảo, tắm đêm ở bãi Zone A và, nếu may mắn như chúng tôi, một bữa BBQ hải sản tươi roi rói.


      blank  blank


blank

Cánh Buồm Tự Do


Biểu tượng của khát vọng tự do, với 5 cánh buồm bao quanh chiếc trống ở giữa, vẫn sừng sững trên Đồi Tôn giáo trong ánh hoàng hôn Bidong. Tượng đài cũng vừa được trùng tu cách đây 2 năm. Chúng tôi đến chiêm bái, đặt tay mình lên Lời Tri Ân (bằng tiếng Mã):

Thuyền nhân Việt Nam tri ân Hoàng gia, Chính phủ và nhân dân Malaysia đã giúp đỡ chúng tôi qua cơn nguy khó.

và bốn câu thơ truy niệm (bằng chữ Nôm):

Nơi đây hương khói ngàn thu                                                                                                                               Thuyền nhân tạm nghỉ trong mồ trùng dương Buồm cao ghi dấu can trường                                                                                                                      Trống thiêng gọi kẻ bốn phương tìm về

mà nghe cả biển trời bao la tình tự dân tộc.


blank

Cầu tàu về đêm


Cầu jetty được xây mới với kinh phí 1 triệu Mỹ kim năm 2012 sau khi chính phủ tiểu bang quyết định biến Bidong thành “Hòn đảo di sản di dân và du lịch”.  Ban đêm, cầu jetty được thắp sáng bằng hệ thống đèn solar, lung linh huyền ảo. Nhân viên của Viện bảo tàng Terengganu, cơ quan trách nhiệm bảo trì và phát triển Bidong, cho biết hàng tuần có khoảng 500 người đến thăm địa điểm này, trong đó có nhiều nhóm người Việt từ khắp nơi trên thế giới. Hiện tại, Bidong cũng là trung tâm nghiên cứu hải dương của Viện đại học Terengganu với khoảng vài chục sinh viên thường xuyên cắm trại và thực tập.

blank

Kể chuyện vượt biên


Ai từng một lần lên thuyền vượt biển đều có câu chuyện của mình. Với vài ly rượu, dăm bài hát bên ánh lửa trại, mọi người trải lòng với nhau về một thời long đong khốn khó.

blank

Dưới bóng từ bi


Chùa Từ Bi, nơi gặp gỡ của hàng ngàn người trên đảo vào những ngày lễ vía và là niềm an ủi sâu xa cho những mảnh đời bất hạnh, bây giờ không còn hình dáng xưa qua nhiều năm dài sương gió. Những tượng Phật trong và ngoài chùa bị đập nát cũng vừa được trùng tu lại. Chúng tôi lễ Phật giữa chính điện lộ thiên loang lổ ánh nắng mà vẫn cảm nhận ân đức mát rượi dưới bóng từ bi.

blank

Ông già Bidong


Nhiều câu chuyện được kể lại về Ông già Bidong và sự linh nghiệm của pho tượng.  Thời gian và sự phá hoại của con người đã làm hư hại pho tượng trong nhiều năm. Năm ngoái, một số anh em trong nhóm bạn này đã phục dựng lại pho tượng nhân dịp 40 năm Bidong hội ngộ.

blank

Niềm đau chôn giấu

blank


Phía sau nghĩa trang Zone F là một bí mật của Bidong mà mãi đến tận gần đây chúng tôi mới biết. Đó là một niềm đau chôn giấu của những nạn nhân hải tặc bị cưỡng hiếp giữa biển, của những cuộc tình lầm lỡ vụng dại trong thời tạm cư trên đảo… Những bào thai bị trục phá hoặc sinh non được lén lút (vừa) chôn (vừa) giấu hoặc vất bỏ dưới lớp đất nông nơi này, một bờ đá chênh vênh mà phía sau là vực biển sâu… Quanh đống nhang tàn, chúng tôi đứng cầu siêu cho những linh hồn mồ côi vì vận nước.

blank blank

Nhớ lại một thời…


Và trước khi rời đảo, một số người trong nhóm cũng không quên lưu lại dấu vết kỷ niệm của riêng mình, dù chỉ “để sóng cuốn đi…”

 Bài viết: Lưu Dân  - Hình ảnh: Tôn Thất Vinh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Liên Hiệp Âu châu, cả Anh quốc, Huê kỳ và Canada đều đồng loạt lên tiếng cực lực lên án Xi và đảng cộng sản Trung Quốc là tội phạm chống nhơn loại. Các nước văn minh trên đây đã quyết định trừng phạt Trung quốc vì tội diệt chủng nhằm vào dân tộc thiểu số Duy-ngô-nhĩ ở Tân-cương, miền Tây-Bắc nước Tàu.
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.