Hôm nay,  

Bánh Căn

05/09/201700:00:00(Xem: 8652)
BANH CAN_vangia17
Hàng Bánh Căn Xóm Chùa đường Trần Hưng Đạo, Vạn Giã.

Đường Bình

Đi xa, ai cũng nhớ Quê Hương, nhớ nơi tôi đã sanh ra và lớn lên. Tôi nhớ cảnh củ người xưa, những kỷ niệm xa xưa còn in đậm trong tâm tư như thể mới xẩy ra ngày hôm qua.

Tôi đang ở trong một thành phố nhỏ, nơi này ít người Việt, muốn ăn một món ăn có hương vị quê hương thì rất khó. Có lúc tôi tự chế, ăn cho đã thèm, mà dù có nổ lực mấy đi nửa thì nó cũng không sao bằng với cái hương vị bên nhà.

Một trong những món ăn mà tôi thích nhứt là bánh Căn. Không biết ai đã sáng chế ra món bánh này, từ lúc nào, và vì sao nó lại có cái tên bánh "Căn", vì sao cùng một loại bánh mà người Saigon Miền Nam lại gọi là bánh "Khọt". Cái danh từ bánh Căn nghe thấy thèm, còn Khọt thì nghe hơi bẩn, khó cho mình bỏ vào miệng, nhưng nếu có lở bỏ vào miệng rồi thì tôi nghỉ cũng khó mà nuốt xuống cổ họng. Tôi đã đi qua 11 tỉnh miền nam, thăm nhiều chợ, ăn nhiều thứ nhưng riêng bánh Khọt thì rất khó mà tìm thấy trong vùng này. Ngay cả thành phố Saigon cũng không dể tìm ra một hàng bánh Khọt. Nói chung bánh Căn không phổ thông trong toàn thể miền nam nước Việt. Ngược lại, bánh Căn là món bánh rất phổ thông ở miền Trung. Nó là loại bánh rất bình dân và rẻ.

Nguyên liệu làm bánh căn rất đơn sơ, chỉ cần một chén bột gạo pha với nước,  một bó hẹ xắc nhỏ. bỏ vào cái oánh nhỏ, cho chút dầu, bắt lên bếp xào chín. Nước chấm thì lấy mấy con tôm tươi, bầm nhỏ, xắc nhỏ trái cà chua, lấy cái xoan nhỏ, vài chén nước, bỏ tôm và cà vô  nấu cho sôi, thêm nước mấm cho vừa ăn, bỏ ít đường cho ngọt, khi ăn, thêm xí ớt cho cay.

Bà con ở nước ngoài muốn ăn bánh Căn cho đúng khẩu vị Ninh Hòa thì hơi khó. Ở nước ngoài không có bán lò và khuôn bánh Căn. Thường thì mình gọi bạn bè tới, xúm nhau pha bột, đúc bánh trên cái lò ga, khuôn bánh thì dùng khuôn bánh muffin, bằng gan thép, loại làm bánh Thửng của Việt Nam, ăn tạm cho vui.

Bánh Căn ngon kiểu Ninh Hòa, phải đúc bằng lò đất sét, đốt bằng than đưót.  Khuôn bánh Căn làm bằng đất sét.  Cái lò đựng than, hình tròn, đường kính to khỏan 6 tất, trên có cái nắp mặt bằng, có mười cái lổ. Mổi cái lổ có một cái khuôn tròn và cạn to bằng cái chén em. Mổi khuôn có cái nấp vung để đậy.


Trước khi đúc bánh, mình châm nửa, quạt than cho đỏ hồng, để khuôn lên, chờ cho nóng, múc một giá bột đổ vào khuôn, đậy cái nấp vung lại, chờ bột chín, cầm cái thìa, múc cái bánh ra, bỏ vào dĩa, phết lên ít mở hẹ là xong. Thường thì cứ hai cái bánh úp lại thành cập. Muốn ăn bao nhiêu cập tùy ý.

Cái bánh Căn ngon phải được đúc với lửa thật cao, cái bánh phải dòn, trên mặt cái bánh có mấy cái lổ nhỏ ly ty. Lúc ăn, gắp cái bánh nóng đầy mở hẹ nhúng vào chén mắm, bỏ vào miệng nhai, dòn dòn, béo béo thơm thơm mùi hẹ, vừa nhai vừa húp một húp nước mắm nghe caí rột. Ngon de kêu.

Muốn chơi sang bỏ thêm cái hột vịt hay hột gà vào bánh, đợi bánh chín, dở nấp vung ra thấy trồng đỏ nằm giửa cái bánh trông giống như cái cờ Thiên Hoàng của Nhựt Bổn.

Cách ăn bánh Căn bây giờ khác hơn hồi xưa một chút xíu. Trước 75 bánh căn lấy từ khuôn ra, để vào dĩa, phết mở hẹ, rồi đưa cho khách ăn. Bây giờ, mở hẹ đựng trong cái tô, bánh đúc xong, lấy bánh ra để vào dĩa, đưa cho khách ăn mà không phết mở hẹ. Người ăn lấy cái chén, múc chén mắm, múc muổn mở hẹ bỏ vào chén mắm, gắp cái bánh nhúng vào mắm mà ăn.

Ăn bánh Căn ngon phải ngồi trước hàng bánh, vừa đúc vừa ăn bánh nóng mới ngon miệng. Ở Ninh Hòa, tháng Mười trời mưa lác đác, lành lạnh, trùm cái áo mưa, ngồi trước hàng bánh, ăn cái bánh Căn nóng, nước mắm thật cay thì tuyệt vời.

Tôi về Việt Nam nhiều lần, và đi nhiều nơi trong nội địa Việt Nam. Mổi lần về tôi đều cố gắng tìm cho đưọc những món đặc sản của quê hương ăn cho đã cơn nhớ. Có một lần, từ Saigon, tôi lên chiếc AirBus 320 của Hàng Không Việt Nam, chỉ mất 35 phút đồng hồ là về đến Nha Trang. Tôi vội xách cái balô, ra khỏi phi cảng,  bắt chiếc Taxi chạy lên Ga cho kịp chuyến xe lữa 6 giờ sáng đi Vạn Giã. Xe chạy đến Ninh Hòa, xe ngừng mười lăm phút rồi chạy tiếp. Ra đến ga Giã lúc 8 giờ sáng, bốc hành lý đi ra khỏi phi cảng, tôi lên xe ôm chạy xuống xóm chùa đường Trần Hưng Đạo gần chợ cá, có hàng bánh Căn ngay bên vệ đường, ăn một chầu no nê, vô cùng thích thú.

Đường Bình



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.