Hôm nay,  

Bánh Căn

05/09/201700:00:00(Xem: 8609)
BANH CAN_vangia17
Hàng Bánh Căn Xóm Chùa đường Trần Hưng Đạo, Vạn Giã.

Đường Bình

Đi xa, ai cũng nhớ Quê Hương, nhớ nơi tôi đã sanh ra và lớn lên. Tôi nhớ cảnh củ người xưa, những kỷ niệm xa xưa còn in đậm trong tâm tư như thể mới xẩy ra ngày hôm qua.

Tôi đang ở trong một thành phố nhỏ, nơi này ít người Việt, muốn ăn một món ăn có hương vị quê hương thì rất khó. Có lúc tôi tự chế, ăn cho đã thèm, mà dù có nổ lực mấy đi nửa thì nó cũng không sao bằng với cái hương vị bên nhà.

Một trong những món ăn mà tôi thích nhứt là bánh Căn. Không biết ai đã sáng chế ra món bánh này, từ lúc nào, và vì sao nó lại có cái tên bánh "Căn", vì sao cùng một loại bánh mà người Saigon Miền Nam lại gọi là bánh "Khọt". Cái danh từ bánh Căn nghe thấy thèm, còn Khọt thì nghe hơi bẩn, khó cho mình bỏ vào miệng, nhưng nếu có lở bỏ vào miệng rồi thì tôi nghỉ cũng khó mà nuốt xuống cổ họng. Tôi đã đi qua 11 tỉnh miền nam, thăm nhiều chợ, ăn nhiều thứ nhưng riêng bánh Khọt thì rất khó mà tìm thấy trong vùng này. Ngay cả thành phố Saigon cũng không dể tìm ra một hàng bánh Khọt. Nói chung bánh Căn không phổ thông trong toàn thể miền nam nước Việt. Ngược lại, bánh Căn là món bánh rất phổ thông ở miền Trung. Nó là loại bánh rất bình dân và rẻ.

Nguyên liệu làm bánh căn rất đơn sơ, chỉ cần một chén bột gạo pha với nước,  một bó hẹ xắc nhỏ. bỏ vào cái oánh nhỏ, cho chút dầu, bắt lên bếp xào chín. Nước chấm thì lấy mấy con tôm tươi, bầm nhỏ, xắc nhỏ trái cà chua, lấy cái xoan nhỏ, vài chén nước, bỏ tôm và cà vô  nấu cho sôi, thêm nước mấm cho vừa ăn, bỏ ít đường cho ngọt, khi ăn, thêm xí ớt cho cay.

Bà con ở nước ngoài muốn ăn bánh Căn cho đúng khẩu vị Ninh Hòa thì hơi khó. Ở nước ngoài không có bán lò và khuôn bánh Căn. Thường thì mình gọi bạn bè tới, xúm nhau pha bột, đúc bánh trên cái lò ga, khuôn bánh thì dùng khuôn bánh muffin, bằng gan thép, loại làm bánh Thửng của Việt Nam, ăn tạm cho vui.

Bánh Căn ngon kiểu Ninh Hòa, phải đúc bằng lò đất sét, đốt bằng than đưót.  Khuôn bánh Căn làm bằng đất sét.  Cái lò đựng than, hình tròn, đường kính to khỏan 6 tất, trên có cái nắp mặt bằng, có mười cái lổ. Mổi cái lổ có một cái khuôn tròn và cạn to bằng cái chén em. Mổi khuôn có cái nấp vung để đậy.


Trước khi đúc bánh, mình châm nửa, quạt than cho đỏ hồng, để khuôn lên, chờ cho nóng, múc một giá bột đổ vào khuôn, đậy cái nấp vung lại, chờ bột chín, cầm cái thìa, múc cái bánh ra, bỏ vào dĩa, phết lên ít mở hẹ là xong. Thường thì cứ hai cái bánh úp lại thành cập. Muốn ăn bao nhiêu cập tùy ý.

Cái bánh Căn ngon phải được đúc với lửa thật cao, cái bánh phải dòn, trên mặt cái bánh có mấy cái lổ nhỏ ly ty. Lúc ăn, gắp cái bánh nóng đầy mở hẹ nhúng vào chén mắm, bỏ vào miệng nhai, dòn dòn, béo béo thơm thơm mùi hẹ, vừa nhai vừa húp một húp nước mắm nghe caí rột. Ngon de kêu.

Muốn chơi sang bỏ thêm cái hột vịt hay hột gà vào bánh, đợi bánh chín, dở nấp vung ra thấy trồng đỏ nằm giửa cái bánh trông giống như cái cờ Thiên Hoàng của Nhựt Bổn.

Cách ăn bánh Căn bây giờ khác hơn hồi xưa một chút xíu. Trước 75 bánh căn lấy từ khuôn ra, để vào dĩa, phết mở hẹ, rồi đưa cho khách ăn. Bây giờ, mở hẹ đựng trong cái tô, bánh đúc xong, lấy bánh ra để vào dĩa, đưa cho khách ăn mà không phết mở hẹ. Người ăn lấy cái chén, múc chén mắm, múc muổn mở hẹ bỏ vào chén mắm, gắp cái bánh nhúng vào mắm mà ăn.

Ăn bánh Căn ngon phải ngồi trước hàng bánh, vừa đúc vừa ăn bánh nóng mới ngon miệng. Ở Ninh Hòa, tháng Mười trời mưa lác đác, lành lạnh, trùm cái áo mưa, ngồi trước hàng bánh, ăn cái bánh Căn nóng, nước mắm thật cay thì tuyệt vời.

Tôi về Việt Nam nhiều lần, và đi nhiều nơi trong nội địa Việt Nam. Mổi lần về tôi đều cố gắng tìm cho đưọc những món đặc sản của quê hương ăn cho đã cơn nhớ. Có một lần, từ Saigon, tôi lên chiếc AirBus 320 của Hàng Không Việt Nam, chỉ mất 35 phút đồng hồ là về đến Nha Trang. Tôi vội xách cái balô, ra khỏi phi cảng,  bắt chiếc Taxi chạy lên Ga cho kịp chuyến xe lữa 6 giờ sáng đi Vạn Giã. Xe chạy đến Ninh Hòa, xe ngừng mười lăm phút rồi chạy tiếp. Ra đến ga Giã lúc 8 giờ sáng, bốc hành lý đi ra khỏi phi cảng, tôi lên xe ôm chạy xuống xóm chùa đường Trần Hưng Đạo gần chợ cá, có hàng bánh Căn ngay bên vệ đường, ăn một chầu no nê, vô cùng thích thú.

Đường Bình



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.