Hôm nay,  

Anh Bộ Đội

28/04/201715:11:00(Xem: 10239)

blank


Anh Bộ Đội

 Trần Thi

Sau tháng Tư 1975, chính quyền “cách mạng" hay đặt tên các phương tiện giao thông vận tải xuyên Việt với hai chữ Thống Nhất đi kèm. Chẳng hạn như tuyến đường sắt Thống Nhất, rồi từ đoàn tàu (hỏa) Thống Nhất, đến tàu (thủy) Thống Nhất…     


Thời đó, "phó thường dân Nam bộ" hiểu hai chữ “Thống Nhất” này một cách rất "giản đơn:" Từ ngoài Bắc, người thì đua nhau kéo vào Nam; Còn từ trong Nam, hàng thì lũ lượt chở ra Bắc.


Có lần vào cảng Sài Gòn để tiễn người cậu về Bắc, Hùng thấy con tàu Thống Nhất khệ nệ chồng chất đủ mọi thứ "phồn vinh giả tạo" để đem về đất Bắc hà. Khi đó, Bắc hà là một xứ sở mà trong Nam có ai hỏi đến thì đều được trả lời là "ngoài ấy cái gì cũng có." Nhưng thực sự thì trong Nam "có cái gì," "ngoài ấy" đều muốn lấy hết cả.


Đứng cùng người cậu chờ kiểm soát trước khi lên tàu, Hùng thấy có anh bộ đội đẩy đến một chiếc Honda định đưa lên tàu. Nhân viên kiểm soát ngăn lại, yêu cầu hút hết xăng trong xe ra để tránh hỏa hoạn rồi mới cho lên.


Để xe ở đó, anh bộ đội thoăn thoắt quay ra ngoài.  Chỉ tí xíu sau đã thấy anh trở lại với chiếc xe khác mới mượn được, rất giống như xe của anh.  Rất nhanh nhẹn, anh bộ đội lấy ra một ống cao su và đưa lên miệng hút xăng từ xe anh rồi cắm ống hút vào bình xăng của xe bên cạnh mới đem đến để chuyển xăng qua.


Được một lúc, khi xăng ngưng không còn chạy qua ống hút, anh bộ đội kiểm soát lại thì thấy xăng vẫn còn nhiều trong xe. Anh bộ đội lại đưa ống lên miệng, hút xăng mạnh hơn và cắm ống hút vào bình xăng xe bên cạnh. Làm như vậy vài lần, mà cũng thấy xăng vẫn còn hoài trong xe.  Xem ra anh bộ đội đã hơi "nóng máy.”


Trên cổ áo của anh bộ đội, thấy đeo toàn là sao, mà Hùng không biết là cấp bậc gì. Nhưng qua dáng vẻ cao ngạo hãnh tiến, Hùng đoán anh bộ đội chắc phải là cấp chỉ huy.  Tò mò khẽ hỏi người cậu, thì Hùng được biết anh bộ đội là Trung Úy.


Cứ hút xăng như vậy mấy lần, anh bộ đội đã toát mồ hôi, nhưng xăng trong xe anh vẫn "kiên cường bám trụ” không chịu đi ra hết.  Nhìn anh Trung Úy vật lộn với hai bình xăng, Hùng đoán anh không biết đến nguyên lý bình thông nhau mà, ở miền Nam, Hùng được học khái niệm vào năm cuối bậc tiểu học: Khi chất lỏng được lưu chuyển giữa hai bình thông nhau, thì sau khi đã ổn định, chất lỏng trong hai bình sẽ ở cùng một mực ngang nhau. Vì thế chẳng bao giờ mà xăng từ xe anh bộ đội lại có thể chạy hết sang xe bên cạnh một khi hai chiếc xe có cùng chiều cao và đứng cùng trên một mặt phẳng.


Trông anh Trung Úy cứ muốn "khắc phục" chuyện hút xăng theo kiểu "với sức người, sỏi đá cũng thành cơm," người cậu của Hùng cũng ngượng. Ông lên tiếng:  “Này đồng chí ơi, đồng chí làm như thế không được đâu....”


Ông chưa kịp nói hết, thì anh bộ đội Trung Úy đã cởi phăng chiếc áo đang mặc và nằm xuống phía dưới xe bên cạnh để xem xét. Chắc anh bộ đội nghĩ là chiếc xe này có motor của phản động "cài đặt" ở đâu đó để "chống phá cách mạng," không để anh "hoàn thành xong nhiệm vụ" hút xăng ra khỏi bình. Thế! Cho nên cần phải "triệt hạ" cái motor "phản động" này ngay.  


Vừa ngả người nằm xuống xem xét máy, anh bộ đội vừa trả lời trống không: “Được chứ sao lại không? Đế quốc Mỹ nó mạnh như thế đấy, mà ‘đây’ còn đánh cho chúng nó tan tác chạy không kịp, nữa là chiếc xe này...” Hình như cũng là người lớn lên tại tỉnh thành, cho nên anh bộ đội không phát âm là "chiếc xe ‘lày’."


Người cậu của Hùng, cũng là đảng viên, nhưng nghe anh bộ đội Trung Úy nói như thế, và dù có bẽ mặt, nhưng ông cũng chưa muốn "tan tác" như đế quốc Mỹ, cho nên đành giã biệt Hùng và lẳng lặng đi lên tàu Thống Nhất quay về lại xứ Bắc hà.


Vừa có thành tích đánh Mỹ, lại vừa thấu triệt được tinh túy của câu thơ để đời "với sức người, sỏi đá cũng thành cơm" của Tố Hữu, một đại thi hào của nền thi ca xã hội chủ nghĩa, thì anh bộ đội Trung Úy đúng thật là văn võ song toàn.  Cộng thêm với khí thế hung hăng ngất trời “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng,” nghe nổ to còn hơn pháo đùng, thì anh bộ đội chắc chắn sẽ thăng tiến rất nhanh trong binh nghiệp.


Mấy mươi năm trước, anh bộ đội hút xăng đã mang quân hàm Trung Úy.  Đến năm 2017 này, anh bộ đội Trung Úy hẳn đã trở thành Ông Bộ Đội Trung Tướng hay ngay cả Đại Tướng.  


Ai biết được là Ông Bộ Đội đó lại không đang nắm giữ chức vụ lãnh đạo to kềnh trong Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay?

 Trần Thi – 4/2017


NOTE: Tác giả Trần Thi là cộng tác viên của đặc san Lâm Viên online tại www.dslamvien.com  

 


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.