Hôm nay,  

Bụi Thu Mờ

19/11/201518:02:00(Xem: 16653)


 
blank
 .
Những buổi sáng cuối thu sao mà đầy sương. Con đường trắng như một dòng sữa chảy, trôi bồng bềnh trong làn sương mờ đục chẳng thấy rõ mặt người bên kia vỉa hè. Lắm khi thấy mình trôi đi trên hai chân khiu khẳng. Nơi đây không gần một bến sông, không gần một mặt hồ, mà sao sương phủ! có lẽ hàng cây sồi lâu năm ​ph​ủ trùm nhiều mộng ướ​t​ ủ dột nên sáng thu về mờ đục như sương. Ngày không biết lên bao giờ vì nắng vừa le lói đã chết ​yểu ​sau những áng mây trắng đục..
Em có còn ngồi đó để nhớ có một thời linh hồn tôi vẽ chân dung: Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn / mà mùa thu dài lắm ở chung quanh(Nguyên sa) Tóc em ngày đó dài lắm, bàn tay tôi lùa trong vùng tóc rối, đã mấy lần không tìm được lối ra. Để tình ấy đậu lại ở đường ngôi rẽ phân vân. Và ước đẫm môi tôi​,​ nụ hôn tóc thơm mùi cỏ nội cùng sương mai. Tóc ngắn mà mùa thu thì quá dài. Phải chăng không tha thiết gì một mùa thu úa bất hạnh, mà thầm trách cho một mùa thu ​dài ​lê thê?  
Ngày ấy cũng quanh mấy ngã đường thành nội u trầm. Sáng mùa thu không trong xanh mà mơ màng​. Như thành phố còn ngái ngủ, chưa kịp rửa mặt, nhìn cái gì cũng mờ mờ. Những con sâu đo buông mình từ trên hàng cây bàng lá đỏ. Cứ đong đưa làm hoảng hốt những bước chân học trò. Ngày ấy cũng sương khói như hôm nay tù mù quanh bờ hồ ven thành cổ. Chẳng biết là sương muối từ dưới mặt hồ sen bốc lên hay từ các đám mây thấp như tầm tay với, những đám mây mọng nước chạm trên đỉnh đèo rồi tan ra ngàn ngàn giọt sương nhỏ, rơi xuống nội thành rồi cứ lửng lơ. Những tưởng nội thành ​là ​nhiều sương. Đi ra thành, qua sông về ​Đ​ập ​Đ​á lại thấy sương càng nhiều hơn. Con sông Hương giờ như mái tóc nàng con gái, chợt bạc trắng sau một đêm trằn trọc mơ chồng. Chiếc cầu Tràng Tiền như chiếc lược ngà, cài hờ hửng những bước chân bồng bềnh lãng du về bên ni bên nớ. Cũng mù sương khắp chốn, bàng bạc trong hồn. .
Bên kia Thôn Vỹ, nắng không lên trên hàng cau, vườn ai lá thu không còn xanh biếc, sương khói cứ theo sông nước ​mà ​đắn đo để nhân ảnh mịt mờ xa xăm. Sương mù như thế thì làm sao thấy rõ được người, nên cảm nỗi nhớ người cứ la đà như sương...Ôi! cái mảnh đất thần kinh sao mà đẹp, mà buồn. Đẹp vì sông nước l​ả​ng đãng vào thu như tranh thủy mặc. Buồn vì sương mù nhiều​ lắm​​. Bởi một nắng mà hai sương​: sương sớm và sương khuya. Trong hai sương đó luôn phủ xuống trên vai gầy của em ​những​ nhọc nhằn cơm áo.     
Chạnh nhớ câu chuyện xưa của một Tô Đông Pha tài hoa mệnh bạc. Tuổi trung niên mà sớm mang kiếp lưu đày biếm trích. Đi từ nội địa kinh kỳ ra tới đảo hoang, đi từ khi 45 tuổi tóc hai màu tiêu muối hư phù, lúc tuổi đời chuẩn bị bước về những năm tháng nhàn hạ hưu trí. Đi biền biệt đến năm 66 tuổi tóc trắng như lau mới trở lại cố quận phai màu. Lúc ấy cũng vào mùa thu. Mùa thu và tóc trắng.
​.​
Hai thứ tóc, người đi ngoài bảy ngàn dặm​.​
Một thân côi, thác đổ xuống mười tám thác ghềnh​.​

Đi đày đọa cuộc lao viễn mộn​g​​. Lúc thăng lúc trầm​;​ lúc ngồi ghế quan quyền cao​,​ tay cầm cọ nét trúc phong trần tiêu sái​;​ lúc làm nông dân cày cuốc nhà tranh vách đất mà đức trọng xao xác những vần thơ. Miên man một dòng thơ ngút ngàn trong cuộc lữ đọa đày​.​ Tuệ Sĩ gọi là phương trời viễn mộng. Những lao viễn mộng tù đày trên thân xác của tuổi chớm già, khi gió heo may nhè nhẹ về mà bạo tàn như bão lốc. Nhưng trong lòng, thơ vẫn phiêu lãng một cuộc lữ bạt ngàn. Thơ lúc ấy là cứu rỗi. Thơ lúc đó là nghiệp chướng đam mê. Cứ đeo đẳng mộng đời, hay mộng đời cứ đeo đẳng lấy thơ. Cũng như Phùng Quán đã lắm lần "vịn ​câu ​thơ mà đứng dậy". Thơ chính là chổ tựa và bám víu cuối cùng cho con người khi thân phận bị cu​ố​n phăng trên dòng lũ mệnh số hắt hiu​ bạo tàn​. 
Sương mù sáng hôm nay cũng giống như sương mù Đà Lạt. Sương đó như mây thấp ngang đầu, đi ngang qua những ngọn đồi thông ướt át, đi qua tháp chuông có con gà gáy trong mùa thu. Sương la đà quanh gót chân theo triền dốc quanh co​,​ cũng như theo cành liễu rũ ven hồ mọng nước. Mùa thu không có phấn thông vàng bay mà chỉ có phấn bụi cây bông liễu sa xuống mặt hồ. Tô Đông Pha hình như cũng có tả: 

Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu. Thiên nhai hà xứ vô phương thảo. 
​(​Lớp bụi phấn bông liễu trên cành, gió thổi rồi vơi dần. Ven trời hàng vạn nẻo, nơi nào không là cỏ non? Tuệ Sỹ dịch.​) 

Liễu miên là lớp bụi mỏng của bông liễu. Vô phương thảo là cỏ xanh non phương nào trong mùa thu. Thật ra Tô Đông Pha diễm phúc ngút ngàn khi trong cuộc lưu đày ấy có nàng Triêu Vân. Như người tình tri bỉ tri kỷ trong cơn hoạn nạn, ​người tình trẻ​ tuổi đời thanh xuân như cỏ non. Nàng mất khi xuân mãn 34 tuổi và lúc ấy Tô Đông Pha đà 61. Một đầu tóc xanh, một đầu tóc trắng, trong mùa thu chia tay vĩnh quyết ngàn trùng khói sương. 
Đích thực đó là lần màu quan san biệt ly mãi mãi. Người trẻ xuân nồng đi về trong đất lạnh, kẻ luống thu già mãi miết cuộc lưu vong. Quan san là quan ải núi non. Trong mùa thu chia lìa ấy lá phong đỏ vàng ngập bìa rừng. Xa xăm mây trắng quyến luyến chân núi.
.
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong Thu đã nhuốm màu quan san. (Truyện Kiều)  
.
Ngày ấy những tráng sĩ lên đường giã biệt tình riêng, ​nhập ngũ ​nguyện vì non sông bảo vệ giặc Bắc phương, thề da ngựa bọc thây cũng vào mùa thu, trước khi mùa đông về rét buốt nơi đồn trú biên thùy. Biệt ly mà lại có sắc màu? Đó là màu quan san. Mà màu quan san như thế nào nhỉ. Đã có hương thời gian với mùi thạch thảo tim tím nhớ, thì màu quan san ắt cũng là màu sương trắng của nước mắt nhạt nhòa pha lẫn với đỏ vàng của lá chết thu phai. 
Lại quay về sương mù sáng thu nay. Trái đất có làm gì lầm lỗi với cậu bé El Nino mà mùa thu năm nay đã chớm xáo động những đổi thay không lấy gì làm vui. Sẽ lạnh lẽo và băng giá hơn lệ thường. Nghe đâu bên Luân Đôn đã dày đặc sương mù. Sương mù nhiều lắm và không đẹp như tranh của Claude Monet về sương mù bên dòng sông Thames​,​ chấm phá trên nền vải trắng những mảng cọ tung hoành. Sương ở đó dày đặc sánh đến mức người Anh gọi là "súp đậu". Dày đến mức không thể thấy bàn chân mình khi rảo bước trên phố mù căm. Thành phố ngày càng đông dân cư và xưởng máy  thì sương càng trở về mỗi năm mỗi nhiều, về rồi ở lại lâu hơn. Mùa đông tháng 12 năm 1952, Một tấm chăn màu trắng đục và dày đặc của sương mù bao trùm xuống thành phố Luân Đôn. Thành phố bao quanh bởi những ngọn đồi nhỏ, những miền đất trủng nước thấp, có con sông Thames lớn chảy qua. Mặt đất nóng bốc hơi, khí lạnh trên cao đè xuống, màn sương kết tụ là đà không lối thoát, cùng với khói bụi ô nhiễm của xe cộ, các lò sưởi than, các quặng thải li ti của nhà máy công xưởng....
Tất cả quyện đặc lại như màu một bát súp đậu là vậy. Năm đó màn sương kinh hoàng này đã ở lại 5 ngày, giết chừng 4,000 người, làm hơn 100 ngàn người đau yếu vì các bệnh liên quan đến đường hô hấp. Màn sương mù này không thơ mộng và đẹp như thi ca và tranh ảnh. Hồi xa xưa hơn nữa, năm 1873 cũng ​ở Luân Đôn, ​có lần sương mù vào tháng 12, giết 273 người. Sương mù đến nỗi trong nhà hát ca kịch dù đóng kín cửa thế nhưng cũng không thể trông thấy diễn viên, chỉ nghe được tiếng hát. Gia súc và trâu bò chết vì nghẹn thở, tai nạn và tội phạm gia tăng. Tai nạn vì những vụ đụng xe ngựa hay xe tông vào cửa hàng bên phố. Những tay lãng tử say rượu và té xuống dòng sông Thames bên dưới sương mù...Tội phạm vì có những chú bé hay thanh niên làm nghề "linklighters" nghĩa là dẫn đường trong sương mù. Bằng một vài xu, chúng cầm bó đuốc dẫn lừa hành khách vào những con hẽm tối. Sương mù dày đặc ​bao ​che cho các vụ cướp bóc ngay tại gia khi mà các gia chủ còn ở trong nhà...
Mùa thu nơi tôi ở mọi năm trời ​thường vẫn ​cao mà nắng ​không ​oi nồng. Ngày và đêm thì dài bằng nhau. .
​Gió hiu hiu nhẹ nên lá úa nằm ngoan chở che mặt đất. Bầu trời trong không một hạt bụi. Nơi này không có nhiều rừng thu đầy lá phong vàng đỏ. Chỉ có lắm cây sồi và thông cedar. (Những đám rừng cedar đến mùa hè trổ bông bụi bay trong gió, mang theo những hạt phấn làm dị ứng đến sốt người, nước mắt chảy dài, khan tiếng ho đêm.) Mùa thu quanh đây vẫn ​ngai ngái​ màu xanh. Cái màu xanh evergreen của các loài cây sống mãnh liệt chịu đựng hạn hán và giá rét (c​hắc cũng​ chịu đựng như anh và em?) Riêng chỉ có một loài cây Bradford Pear thật đẹp. Tạm gọi là cây Lê Bradfort, vì trái giống trái lê, nhỏ xíu bằng ngón tay út. Ăn chua chua chát chát, nhưng lá cây thì tuyệt đẹp. Đẹp vì khi thu chín lá chuyển sang vàng rồi đỏ cam. Mùa thu dài lá th​ay màu mà​ không rụng, cứ dính vào cành ​cây, những chiếc lá vàng đỏ ​lay xoay​ như chong chóng,​ lấp lánh trong nắng thu. 
​​Những con nắng thu hiếm hoi ​lại ​đỏng đảnh sáng nay không chịu về. Chỉ có sương mù tê tái. Mùa thu nơi đây có lẽ không đẹp như em nghĩ. Chẳng có màu quan san vì mọi chuyện đã xa rồi. Em ngày đó giờ không còn tóc ngắn. Tóc râu tôi chừng cũng lấm tấm sương. Chẳng biết vì tóc điểm bạc hay sương mù. Mà ngay cả con mắt nhìn sáng nay mọi thứ trong sương cũng mờ mờ. Chẳng biết có hạt bụi nào trong mắt. Mùa thu đẫm sương làm sao có bụi! Cũng không có sợi khói nào bay để đôi mắt cay. Không có phấn thông vàng, không có rừng phong đỏ, không có cành ngô đồng và mưa bụi tháng chạp. Trầm hương cũng chưa bay vì năm chưa hết. Vậy mà mắt cứ cay.          
.
Mòn con mắt sầu đưa từ cổ độ
Bụi thu mờ ai phủi với hai tay. (Bùi Giáng) 
.
A! đúng rồi. Sương mù sáng thu này chính là bụi thu ​mờ​​ Chẳng màng tay phủi. Chẳng màng lau kính. ​Cứ để nhạt nhòa cho thu tàn. Tôi bước vào dòng đời, bồng bềnh như sương khói. Và em cũng thế, lâng lâng những gót hài. Mùa thu chắc còn dài. Sương như bụi thu mờ. Mơ phai.    .
​SB. 11.2015​
Sean Bảo
  
   


.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.