Hôm nay,  

Nhận Diện Vấn Đề

07/06/201407:42:00(Xem: 6149)
Nhận diện vấn đề
Thục Quyên

Trung Cộng nhìn thấy thời cơ và đã đi thêm một bước quyết định trong mưu đồ bành trướng của họ: giàn khoan HD-981.
Hơn một tháng đã qua, sự sôi sục, chuyển qua nhốn nháo rồi dịu dần của dân chúng, và sự bất động của nhà cầm quyền Việt Nam, mà vài ba tuyên bố đã gây hiểu lầm cũng đã được chỉnh lại đúng đường lối bằng những lời vuốt ve quỵ luỵ "nước bạn láng giềng Trung Quốc" của bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Phùng quang Thanh tại hội nghị Shangri-La.

Ông đại tướng Thanh thật ra không hề nói một điều gì mới lạ. Làn sóng những bài viết và phản biện đi từ trách móc đến rủa xả ông ta chỉ cho thấy hoặc là sự nhẹ dạ hoặc là sự tuyệt vọng của đa số người dân Việt Nam còn lưu tâm và có khả năng lưu tâm đến vận mạng đất nước. Nhẹ dạ để lại hí hửng tin tưởng và hy vọng sau vài lời tuyên bố "thùng lon rỗng" (1), hay qúa tuyệt vọng như người khát nước trong sa mạc nóng bỏng, lao đầu vào cái ảo ảnh Fata Morgana trước khi gục xuống.

Dừng lại và nhìn sâu vào sự việc.
Sau một tháng tròn biết bao nhà trí thức, chuyên môn, đã vận dụng khả năng và sự suy nghĩ của mình để hiến kế cho nhà cầm quyền Việt Nam đối phó cấp bách với Trung Cộng. Nhưng bây giờ giả thuyết sự xâm lấn chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông của Trung Cộng là một hành động bất thình lình làm Đảng và nhà nước Việt Nam bối rối không biết xử trí ra sao đã rõ là sai hoàn toàn. Những vị cầm quyền cho thấy họ có một đường lối rất rõ ràng, không suy chuyển: kẻ im, người nói, chia vai trò với nhau rất nhịp nhàng, ăn khớp với thời điểm.
Điều đáng nói là dân không được biết đường lối này như thế nào, sẽ đưa dân tộc tới đâu, nên dân không thể suy nghĩ , bàn cãi hay không đồng ý. Khổ thay dù những người lãnh đạo vì tư lợi hay chỉ vì yếu kém, một mai khi đất nước mất chủ quyền là mất chủ quyền, không có hai loại nặng nhẹ khác nhau, và lúc đó có ngã ngũ tội tình thì cũng chẳng còn cứu vãn được gì.
Do đó việc làm cấp bách hiện nay , thiết nghĩ không phải là năn nỉ , kêu gọi hay trách móc (chưa đủ nữa hay sao? thế nào là nước đổ lá khoai?) mà phải là nổ lực bạch hóa những gì đảng Cộng sản và nhà nước đã thỏa thuận, ký kết với Trung Cộng.
Không biết chỗ đứng của mình, không biết trong tay mình có gì, không biết giặc ở những chỗ nào, đã nắm những yếu điểm nào của mình thì làm sao mà trở tay?

Kẻ đứng ngoài nói dễ, kẻ ở trong làm khó.

Vẫn biết như vậy. Nhưng nếu suốt tháng nay tốn bao công sức, giấy mực, để tính tóan mò mẫm những gì Mỹ, Nhật, Phillipines, rồi Nga, ASEAN, nghĩ và ......có thể sẽ làm, mà ngay trong nhà mình, mình không biết chuyện gì đang xảy ra, ngay cả những gì đã xảy ra cũng không biết nốt. Thế thì có khác chi chúng ta đang đóng vai hiệp sĩ mù qườ quạng đánh gió?
Có những tin tức Trung Cộng phóng vào dư luận thế giới mà Việt Nam không thể chống đỡ vì không có dữ kiện chính xác. Thí dụ tin Trung Cộng khẩn cấp đem tàu qua đón hơn 3000 người lao động , đem máy bay chở công nhân bị thương của họ, được báo chí thế giới đăng tải. Lẽ dĩ nhiên cũng có vài nhà chuyên môn ngọai quốc bình luận đây là một phản ứng thổi phồng để buộc tội Việt Nam, nhưng vài tiếng nói này không có chút ảnh hưởng gì để đảo ngược hình ảnh bất lợi về người Việt Nam mà bộ máy tuyên truyền Bắc Kinh reo rắc.
Trong khi ấy, nếu có con số người lao động China thực tình có mặt tại Việt Nam để đưa ra : 30.000? 150.000? 200.000? nghĩa là 10 lần? 50 lần? 70 lần hơn con số 3000 Bắc Kinh nhắng nhít báo động thì tình trạng trung thực có thể được đưa ra rõ ràng, một cách thật đơn giản và thuyết phục. (Kể thì cũng nên lưu ý những người này đang làm gì khi mà những vùng sinh sống của họ nghe nói nhà nước Việt Nam không có quyền kiểm soát?)

Cũng là một cách thật đơn giản để người dân Việt từ Bắc chí Nam hiểu đất nước xiêu vẹo này đã nghiêng nhiều về phía vực thẳm, nếu có một bản tổng kết số lượng hầm mỏ, công trường, trung tâm....nằm trong tay người China trên đất Việt.
Nếu có những bài phóng sự hoàn toàn đứng đắn ghi lại rõ ràng tình trạng người dân Việt sống chung quanh những nơi này, và cuộc sống những công nhân Việt Nam làm cho những hãng xưởng Trung Cộng.
Rất đơn giản và thuyết phục vì ngọn lửa yêu nước và tính tự trọng của người Việt sẽ đánh bạt ngay cái tình trạng bị đánh giá là vô cảm trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Vô cảm hay không có tin tức? Thiếu hiểu biết hay vì đã bị uốn nắn để tin vào sự bất lực của mình?

Cứ nhìn tất cả những vấn đề liên quan tới cái công hàm -mà có thể không phải là công hàm- năm 1958 của thủ tướng Phạm văn Đồng đang xích chân Việt Nam thì Việt Nam cần mang ra nghiên cứu tất cả những công hàm liên quan tới biên giới, hầm, mỏ, rừng, đất, người khác đã ký giao cho Trung Cộng. Phòng hờ những điều mình tuyên bố bây giờ về Hoàng sa Trường Sa đã không giúp lấy lại mà còn trở thành những lý luận vững chắc giúp Trung Cộng được thêm chỗ khác.

______________________________________________________________________

(1)https://www.danluan.org/tin-tuc/20140604/thuc-quyen-giac-da-vao-nha-lay-gi-ma-danh

.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.