Hôm nay,  

Tôi Kết Tội!

21/03/201300:00:00(Xem: 8050)
“Tôi kết tội!” là đầu đề nổi bật của một bài viết trên nhật báo Pháp LAurore (Bình Minh), ra sáng ngày 13 tháng 1 năm 1898 ở Paris, của nhà văn kiêm nhà báo Emile Zola. Bài báo dài 4.500 chữ, chiếm hoàn toàn trang nhất và phần lớn trang 2 của số báo này.

Đã hơn một thế kỷ qua, bài báo này vẫn được truyền tụng như một dẫn chứng về sức mạnh xã hôị của một bài báo bênh vực hữu hiệu cho những kẻ bị đối xử oan ức, bất công, có thể đảo ngược một vụ án phi lý, giải oan cho một sỹ quan lương thiện bị kết tội tù chung thân, sau khi nhà báo Emile Zola bỏ công điều tra tỷ mỷ vụ việc và trình bày mạnh mẽ chính kiến ngay thật của mình trên mặt báo, buộc nhà nước phải xem xét nghiêm minh lại vụ án lớn này.

Tất cả các giáo trình đào tạo các nhà báo trẻ ở phương Tây đều lấy bài báo này làm một tài liệu học phụ sinh động về hiệu quả xã hội của nền báo chí dân chủ, đấu tranh cho công bằng xã hội, chống độc đoán và bất công, từ dó khẳng định sức mạnh của thông tin báo chí là quyền lực thứ tư của quốc gia.

Tóm tắt câu chuyện như sau: Vào năm 1894, viên sỹ quan pháo binh Pháp gốc Do Thái Alfred Dreyfus làm việc taị Bộ Tham mưu bị tố cáo phản bội tổ quốc, cung cấp bí mật quốc gia cho một tùy viên quân sự trong đại sứ quán Đức ở Paris. Alfred Dreyfus bị tòa án quân sự kết tội phản quốc, tuyên án tù chung thân, và đày đi LIle du Diable (Đảo Quỷ) tại Guyane thuộc Pháp.

Một bằng chứng để tòa kết tội là thẩm định chữ viết của anh ngoài bì thư gửi cho tòa đại sứ Đức. Trước tòa, anh một mực kêu oan. Em trai anh là Mathieu Dreyfus và vợ anh Lucie cũng một lòng kêu oan cho anh.

Trước khi bị đi đày, tại sân Trường Quân sự anh buộc phải chịu lễ tước quân hàm và tước vũ khí, thanh kiếm của anh bị bẻ gãy, tiêu biểu cho sự ô nhục của kẻ phản bội.

Hơn hai năm sau, năm 1887, Trung tá Georges Piquart, trưởng ban điều tra, nắm được chứng cứ xác minh kẻ phạm tội chính là Đại úy Walsin Esterhazy chứ không phải là Alfred Dreyfus. Nhưng vì sợ trách nhiệm, cả Bộ Quốc phòng, Bộ Tham mưu và toà án quân sự không muốn thay đổi kết luận vụ án, buông thả theo xu hướng chống Do Thái còn khá mạnh hồi ấy. Trung tá Georges Piquart bị điều sang Phi Châu xa xôi để giữ kín chuyện mới phát hiện. Các vị chức sắc còn dựng lên một phiên tòa quân sự chớp nhoáng để xét xử qua loa kẻ tội phạm thật sự là Đại úy Walsin Esterhazy và tuyên bố trắng án, tha bổng cho viên sỹ quan này vào ngày 11/1/1898.

Hai ngày sau, bài báo của Emile Zola xuất hiện, bán vèo 200 ngàn số một buổi sáng, một kỷ lục chưa từng có . Tít chỉ có 3 chữ, “Tôi kết tội!” - Thư ngỏ gửi Tổng thống Félix Faure - gây ấn tượng mạnh. Nhưng không phải có kết quả ngay.

Thế lực quân đội còn mạnh. Họ phản kích, lu loa là bị vu cáo vô căn cứ, có lúc Emile Zola phải lánh sang London, Anh Quốc. Tháng 2/1898, họ mở tòa án xử nhà báo Emile Zola về tội vu khống, nhưng ngay sau đó, trưóc sự phẫn nộ của công luận, chính quyền đành phải lùi bước, đưa ra xét lại toàn vụ án bởi một tòa án dân sự tối cao vào tháng 6/1899, theo đúng yêu cầu của nhà báo.

Công bằng đựơc thực hiện, pháp luật được tôn trọng, người oan được phục hồi danh dự, tội phạm bị trừng phạt, sau 5 năm diễn biến phức tạp, do sự can thiệp của một nhà báo, công dân Emile Zola.

Sỹ quan công dân Alfred Dreyfus được tự do, được cứu khỏi chết thảm trong tù, được phục hồi danh dự khi vừa tròn 40 tuổi, đoàn tụ với cô vợ Lucie từng vận động hết mình cho ngày trở về của chồng.
toi_ket_toi_thu_ngo
Thư ngỏ 'Tôi kết tội' của nhà báo Emile Zola gửi Tổng thống Félix Faure.
Emile Zola viết bài báo này trong 2 ngày, khi ông 59 tuổi, điểm lại một cách trung thực toàn bộ diễn biến của vụ án, với lương tâm nghề nghiệp trong sáng, trên tinh thần công dân có trách nhiệm.

Ông viện dẫn bộ Luật về tự do báo chí 29/7/1881 để xác định nghĩa vụ và quyền hạn của người làm báo và viết báo. Ông truy cứu tỷ mỷ thận trọng bộ Luật hình sự để nhận định mỗi nhân vật liên quan đến vụ án và đến việc xử án, cuối cùng ông lên tiếng đanh thép kết tội 10 người có trách nhiệm trong việc xử án không công minh, từ Tướng Mercier, Tướng Boisdeffre và Tướng Gonse thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Tham mưu, đến Tướng de Pellieux, Tư lệnh Rewary và Trung tá Paty de Clam khi tham gia xét xử, cho đến 3 chuyên viên Belhomme, Varinard và Couard khi giám định chữ viết của tội phạm.

Ông cũng kết tội 2 báo LÉclair (Ánh chớp) và LEcho de Paris (Tiếng vang Paris), đã cố tình thông tin sai lạc về vụ án. Cuối cùng ông kết tội gắt gao Hội dồng xử án của giới quân sự đã không ngang tầm trách nhiệm và yêu cầu vụ án phải được xét xử lại từ đầu bởi một tòa án dân sự có trách nhiệm và có trình độ cao.

Trong bài viết, Emile Zola đã chỉ rõ nền tư pháp độc lập xét xử công bằng mọi công dân chỉ chiếu theo luật, không theo chỉ thị của một cá nhân nào, là kết quả xương máu của biết bao chiến sỹ hy sinh cho nền cộng hòa, không cho phép ai tước đoạt. Để tạo thêm sức mạnh cho bài báo, bạn bè đồng nghiệp đã thu được 1.482 chữ ký dưới bài báo của ông để công bố và gửi cho Tổng thống Félix Faure. Việc này đã thúc đẩy công lý.

Mong rằng gần 20 ngàn đồng nghiệp trong làng báo Việt Nam có dịp đọc bài báo này để hiểu rõ thêm trách nhiệm công dân của người làm báo, trách nhiệm bảo vệ cuộc sống của bạn đồng nghiệp Nguyễn Đắc Kiên vừa bị đuổi việc vì có ý kiến khác với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Không ai có thể ngồi yên trước những chuyện phi lý, người vô tội bị bịt miệng, giam cầm, kẻ phạm tội chồng chất vẫn ung dung tung hoành trong tự do.

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.