Hôm nay,  

Mở Cửa Trái Tim*

23/09/201100:00:00(Xem: 6903)
Mở Cửa Trái Tim*

ht_nhat_hanh_doan_quoc_sy-large-contentTừ phải: Tác giả cùng với chú Trần Kiêm Đoàn, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Sư Ông Thích Nhất Hạnh, và một Phật Tử.

Bạch Xuân Phẻ

Chẳng biết rong chơi miền Tịnh Độ
Làm người một kiếp cũng bằng không. *
Thành phố Escondido hiền hòa với đồi núi chập chùng. Chúng tôi cùng gia đình lái xe từ Sacramento về tham dự khóa tu học dành cho người Việt tại Tu Viện Lộc Uyển. Sau năm ngày tu tập và hành trì, chúng tôi và đại chúng đã được nhiều lợi lạc. Sự thành công của khóa tu được thể hiện qua nhiều sắc thái, từ không gian yên tĩnh đến sự làm việc nhịp nhàng của mọi người. Sự thành công đó cũng được biểu hiện qua lời nói và sự hành trì của thiền sinh cũng như nội dung của khóa tu. Lối hành xử của thiền sinh là điều cần nhắc đến. Khóa tu học này có khoảng trên 500 người và trong đó có một số ít người Tây phương. Chúng tôi được biết khóa tu học tuần trước dành cho người ngoại quốc có hơn 900 người cũng được thành công viên mãn mặc dù đã có những ngày bị cúp điện. Chúng tôi đã gặp những thiền sinh cả Việt lẫn Tây đã trở lại tu học thêm một tuần nữa.
Đối với một người Việt trẻ tuổi lớn lên trên xứ người, cảm nhận một cảnh tượng mà hơn 500 người Việt ngồi thiền và đi thiền hành trong im lặng gần 2 tiếng mỗi ngày mà không nói một lời nào. Đó là một thành công lớn. Sự im lặng hùng tráng này chính là sự gặt hái của khóa tu Mở Cửa Trái Tim. Mỗi buổi sáng khi tiếng chuông chùa báo thức lúc 5 giờ, khi chúng tôi thong dong đi thiền hành dưới ánh trăng vàng vằng vặc trên con đường dẫn đến Thiền đường Thái Bình Dương, chúng tôi đã có được sự an lạc trong tâm hồn. Cái hay hơn nữa là ở đó đã có mặt đông đảo thiền sinh đang ngồi tĩnh tọa. 
Mỗi buổi sáng như thế thì Sư Ông cũng đã có mặt đúng giờ, đó là một bài học Thân giáo mà người đã và đang dạy chúng ta. Không những thế, vào ngày thứ tư khi đi thiền hành lên núi cao - Thạch Định* (mất hết khoảng 50 phút một chiều), Thầy cũng đã có mặt ở đó trầm lặng và ngồi thiền bất động trên tảng đá thật to. Có lẽ điều ngạc nhiên nhất là từ đứa bé ba tuổi, con của tôi, đến bà lão gần 83 cũng đều nở nụ cười sau gần một tiếng đồng hồ leo núi. Ai cũng tươi cười và có niềm an lạc. Sự đồng hành của Thầy đã làm núi rừng Lộc Uyển thêm huyền diệu. Thầy đã dạy cho thiền sinh nhiều bài học trong đó thân giáo, khẩu giáo và ý giáo là hùng hồn nhất. Ngoài ra, năng lượng chánh niệm đều được hun đúc hằng ngày.

Thêm vào đó những bài giảng của Thầy đã làm xung động và chuyển hóa được nhiều người. Tôi đã chứng kiến những giọt nước mắt long lanh của những bà mẹ, những cái gật đầu thoả đáng của những bậc làm cha, những trận cười thoải mái của đại chúng và những tiếng đùa cợt của trẻ thơ. Đó là những niềm hạnh phúc. Ngoài ra, vào buổi vấn đáp, Thầy đã cho phép những thiền sinh trực tiếp hỏi Thầy mà người hỏi được ngồi ngang hàng với Thầy. Một sự bình đẳng tuyệt đối, mà có lẽ Thầy đang nhắc đến Phật tánh của mỗi người. Cuối cùng, chúng tôi có cơ duyên được dùng cơm trưa cùng Thầy. Mâm cơm của Thầy rất đơn sơ, chỉ có cơm trắng, chút rau và một ít đồ xào. Thế mà Thầy mời từng người, Thầy mời cụ Doãn Quốc Sỹ, Thầy mời chú Trần Kiêm Đoàn, Thầy mời tôi và những người chung quanh. Cái chan chứa tình người của Thầy đầyViệt Nam và thật cao thượng.
Có lẽ hai bài thơ dưới mà tôi cảm tác là tiếng nói trung thật nhất của khóa tu Mở Rộng Trái Tim như người bạn, Trần Quang Sơn, cùng tham dự nhận diện. "Your poems capture the essence of the retreat well." Với nỗi niềm đó, xin được chia sẻ và mời quý vị cùng thong dong cõi Ta Bà như Thầy dạy: Mỗi bước chân đi vào Tịnh độ.
Tiếng Hát Những Bước Chân
Kính tặng Sư Ông, Tăng thân và đại chúng khóa tu Mở Cửa Trái Tim.
Sáng tinh mơ tiếng nỉ non của đá
Tiếng vọng hư vô hùng vĩ núi rừng
Sao lấp lánh như niệm Thầy đã định
Tuệ giác nào như Cực Lạc đâu đây
*
Sáng tinh mơ tiếng ngân chuông cổ
Tỉnh giấc mơ mộng đẹp cõi phù du
Tiếng huyền diệu từ bi và giải thoát
Đưa người về tìm lại Bụt trong ta
*
Sáng tinh mơ ngồi thiền niềm an lạc
Năng lượng thanh lương quyện cõi cát tường
Thầy ngồi đó hùng hồn trang Thân giáo
Mỉm cười trên huyễn hoặc sắc không
*
Sáng tinh mơ thiền hành đây Tịnh độ
Đi một dòng sông đến bến Giác bờ
Niệm Định Tuệ, ôi pháp môn mầu nhiệm
Thở đi thôi ! Thầy bảo: "Hiểu và Thương."
Đại Ẩn Tự - Chùa Lộc Uyển 9/17/2011
CHUÔNG CHÙA LỘC UYỂN
Kính tặng Sư Ông, Tăng thân và thiền sinh khóa tu Mở Cửa Trái Tim, 2011.
Trăng mai vằng vặc sáng
Tiếng chuông chùa nhẹ buông
Thiền hành đôi gót nhẹ
Khóm trúc lay miệng cười
*
Trăng mai vằng vặc sáng
Tiếng chuông chùa vang xa
Đẹp như bản tình ca
Vơi đi nỗi nhớ nhà
*
Trăng mai vằng vặc sáng
Sắc không cõi thái hư
Vô thường giọt sương sớm
Tịnh Độ cõi Ta Bà
*
Trăng mai vằng vặc sáng
Niệm Định Tuệ vô biên
Hành giả đời chánh niệm
Phật thân bất nhị nguyên
Thiền đường Thái Bình Dương
Tu Viện Lộc Uyển - Deer Park, Escondido, CA.
09/18/2011.
Bạch Xuân Phẻ
* Tựa khóa Tu học dành cho người Việt Nam năm 2011.
* Thơ của Sư Ông Thích Nhất Hạnh
* Tên mà nhà văn Trần Kiêm Đoàn đặt cho đỉnh núi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.