Hôm nay,  

Giữa Chợ Đời!

14/07/201100:00:00(Xem: 8319)
Giữa Chợ Đời! 

hai_anh_em_bui_doi-large-contentHai anh-em bé Vũ bụi đời bán vé số ở bãi trước Vũng-Tàu. Ảnh chụp ngày 8, tháng 7, 2011.

Tác-giả: Diamond Bích-Ngọc
Âu cũng là một phước duyên cho gia-đình chúng tôi trong kỳ nghỉ hè năm nay, 2011. Được về thăm lại quê-hương, chia xẻ đến những kẻ khó khăn, tất bạt; họ vẫn ngày ngày sống trôi dạt bên đời gian nan vô cùng vất vả. Từ những trẻ em làng quê, người già cơ-nhỡ vùng đất Bắc xa xôi; đến các sinh-viên nghèo hiếu học được chúng tôi trao tặng học-bổng trong miền Nam và như mọi lần, không quên trao chút quà đến các thương-phế-binh Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa tận trong các hang cùng, ngõ hẹp.
Vẫn biết Việt-Nam hôm nay có biết bao điều trái-nghịch: kẻ giàu - người nghèo quá cách biệt. Điềm Lành, sự Dữ như sáng, trưa, chiều, tối tuần-tự luân-phiên nhau tiếp diễn. Trong cái khó nghèo nẩy sinh tình-nghĩa và cũng trùng trùng sự lừa lọc, gian-tham. Giữa sang-giàu, tiền-của là sân-si của tội-lỗi, xa-đọa trầm-luân và hủy-diệt. Chúng tôi trở về đây giữa triệu triệu nhân sinh đang hăm hở, hối hả sống trong cảnh chen chúc mưu-sinh, khói bụi xe cộ ngất Trời và nạn nhân-mãn ngày càng gia-tăng trầm-trọng.
Tôi nhớ đến ánh mắt của những đứa trẻ ở bãi biển Vũng-Tàu trong một quán ăn buổi sáng. Hai anh em sà đến bàn chúng tôi kỳ-kèo:
“Cô ơi! Mua cho con tấm dzé số đi cô!”
Chúng đã lê-la khắp mọi quán và đều bị xua đuổi một cách vô-tình. Những hình-ảnh này đã quá quen thuộc từ năm đầu tiên; 1999 khi tôi trở về Việt-Nam làm phim tài-liệu đi từ Bắc chí Nam, đến tỉnh nào cũng gặp những trẻ em dạng này. Lang bạt, kỳ-hồ giữa chợ đờì mưu-sinh (kiếm sống). Lần đầu tiên gặp chúng, tôi cố nuốt không trôi phần ăn trước mặt và bối rối không biết xử trí ra sao. Nhưng bây giờ, hơn mười năm sau với bao nhiêu là kinh-nghiệm, tôi đã rất bình-tĩnh và vui vẻ hỏi chuyện:
“Các con tên gì" Bao nhiêu tuổi" Có đói bụng hông" ngồi xuống ăn sáng với gia-đình cô nhe!”
Chúng dạ thật to, liền sau đó một cậu bé khác độ 10 tuổi xin nhập bọn. Thằng em dơ tay (như trong lớp học) xin rằng:
“Cô cho con ăn hủ-tíu nhe cô!”
Tôi vừa gật đầu xong thì thằng anh lanh miệng xin liền:
“Còn con cho xin đĩa cơm gà được hông cô"”
“Con nữa! Cho con đĩa cơm sườn cô ơi!”
Tôi nhìn chúng vừa thương-tâm, vừa buồn cười trước những ánh mắt thơ dại và kêu bồi bàn dọn thức ăn cho chúng. Một chị trong quán ăn vừa lau bàn vừa chỉ từng đứa giới thiệu:

“Thằng nhỏ này tên Tài, 10 tuổi. Cha bị xe đụng chết, Mẹ bỏ đi lấy chồng khác. Nó ở với Bà nên đi bán vé số kiếm chút đỉnh.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt cậu bé hỏi:
“Con ở một mình với Bà hả"”
Nó thành-thật trả lời:
“Dạ! Lúc trước ở với chú của con nữa. Giờ chú con vào tù rồi!”
“Sao dzậy"” Tôi hỏi lại liền. Nó bảo:
“Tại chú con là du-đãng, đi quýnh lộn dzới người ta nên bị công-an bắt.”
Tôi lại hỏi:
“Chú con tên gì"”
“Dạ! Tên Đen”.
Tôi giựt bắn mình; vì mười năm trước cũng tại quán này một thằng bé mang cái tên “Đen” rất lạ. Người nhỏ thó, lủi thủi vào đây bán vé số, chúng tôi cũng cho nó ăn uống như thế này. Thằng bé Tài hồn nhiên kể:
“Cô biết hông" Hồi trước chú con cũng đi bán dzé số như con đó!”
Thôi đúng rồi! Không thể nào lầm được. Thức ăn dọn ra, tôi âm thầm nhìn cách chúng ăn uống. Ngồi đối diện với tôi là hai anh em thằng bé Vũ 10 tuổi. Đứa anh dùng đũa đút phở cho đứa em 5 tuổi vì nó còn quá bé. Lạ thật! khi so sánh với những trẻ con của các gia-đình giàu có. Mạnh ai nấy lo, đâu có cảnh thằng anh đút cho đứa em ăn như thế này.
Trước khi từ-giã, tôi mua cho chúng hơn mười tấm vé số để cho người tài-xế đang đợi ngoài kia, cậu ta không dám vào ngồi cùng bàn ăn uống dù tôi đã hết sức kêu mời. Phu-quân tôi nửa đùa, nửa thật hỏi mấy bé:
“Nè! Các cháu. Cô vừa mua vé số xong, mỗi tờ là 10 ngàn đồng. Bây giờ chú bán lại hết cho mấy đứa nhưng mỗi tờ chỉ với giá 5 ngàn thôi. Tức là nửa giá, cháu nào mua lại không"”
Chúng nhíu mày suy-nghĩ đôi chút rồi lắc đầu quầy-quậy và cầm khư khư số tiền kiếm được trong tay. Điều này chứng tỏ rằng những tờ vé số ấy vô cùng khó khăn để đánh đổi thành tiền.
Trước khi từ-giã chúng, tôi bảo:
“Nè! Các con. Dù có nghèo hèn đến đâu cũng cố gắng sống thiện, sống tốt. Không ăn trộm, ăn cắp. Không trở thành du-đãng như chú con nhe chưa!”
Chúng vừa dạ nhỏ vừa ăn-uống say mê. Tôi bước đi lòng bỗng trùng đau quặn-thắt. Nỗi đau dành cho từng thế-hệ trẻ trôi qua mà tôi đang là một nhân-chứng thực-thể. Đời thằng Đen mịt mù trong tù-ngục. Rồi đời thằng Vũ, đứa em bé nhỏ của nó và thằng Tài sẽ ra sao trong mười năm tới nữa" Bi thương quá; những đứa trẻ giữa chợ đời Việt-Nam hôm nay.
Tác-giả: Diamond Bích-Ngọc; viết trong hồi-ký trên bước đường chia-xẻ tình-thương tại Việt-Nam, tháng 7, 2011.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.