Hôm nay,  

Danh - Lợi - Thú

04/03/200800:00:00(Xem: 8505)

Trong Chúa Nhật I Mùa Chay, cả ba bài Tin Mừng (Chu kỳ Năm A, B, C) đều nói đến việc Chúa Giêsu “để cho qủy (Satan) cám dỗ”. Tuy nhiên, chúng ta có thể để ý đến một số điểm sau đây, trước khi đi đến một vài suy tư áp dụng vào tinh thần sống Mùa Chay Thánh của mỗi người chúng ta:

Bài Tin Mừng Năm B trích trong Tin Mừng Thánh Mátcô (1:12-15) chỉ nhắc đến việc Chúa Giêsu ‘chịu Satan cám dỗ’ mà không ghi lại các chi tiết; trong khi Tin Mừng theo Thánh Mátthêu (4:1-11) (Năm A) và Tin Mừng theo Thánh Luca (4:1-3) (Năm C) thì tường thuật đầy đủ hơn; tuy nhiên, trong bài Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, thì lần cám dỗ thứ hai là cám dỗ “gieo mình xuống khỏi tường Đền Thánh”, lần thứ ba là cám dỗ “vinh quang thế gian”; còn trong Tin Mừng theo Thánh Luca thì lần cám dỗ thứ hai là cám dỗ “vinh quang thế gian”, còn lần thứ ba là “gieo mình xuống khỏi tường Đền thờ”; riêng lần cám dỗ thứ nhất đều là “hóa bánh ra nhiều”.

Cả ba lần chịu cám dỗ, Chúa Giêsu đều dùng lời “Thánh Kinh” để chống lại ‘tên cám dỗ’. Sau ba lần cám dỗ không được, qủy (Satan) bỏ đi “chờ dịp khác” (theo Thánh Lucca) và “các Thiên Thần đến hầu hạ Ngài” (theo Thánh Mátthêu). Riêng Thánh Mátcô có nói đến sự việc ‘Chúa Giêsu sống giữa lòai vật trong hoang địa’.

Về địa điểm khi Chúa bị cám dỗ, cả ba Tin Mừng đều ghi là “nơi hoang địa”, còn thời gian là sau (trong) 40 đêm ngày (nhịn ăn uống). Ngòai ra cả ba sách Tin Mừng đều ghi lại việc Cám dỗ sau biến cố Chúa Giêsu đến xin Thánh Gioan Baotixita làm “phép Rửa cho Ngài” và Thánh Thần Chúa hiện ra dưới hình chim bồ câu đậu xuống trên Ngài và có tiếng từ trời nói: “Đây là Con yêu dấu của Cha…”. Như vậy, biến cố Chúa chịu cám dỗ đó xãy ra vào những ngày mở đầu cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu; vì thế bài Tin Mừng theo Thánh Mátcô (Năm B) có nói đến việc Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời và nói: “Thời giờ đã tới; Nước Thiên Chúa đã đến gần; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”.

“Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” là chương trình sống cho Mùa Chay, và cũng là chương trình sống cho cả cuộc đời chúng ta trong suốt cuộc hành trình Đức Tin (vừa dài, vừa nhiều gian khổ, và đầy những cám dỗ thử thách) tiến về “Hứa Địa” là “Quê hương thật của chúng ta” (‘Sinh ký tử quy’, Sống gửi, thác về là như vậy!).

Nhờ ơn Chúa giúp, chúng ta cố gắng thắng cơn cám dỗ; ‘ma quỷ bỏ đi!’ nhưng ‘chờ dịp khác!’ và như vậy cuộc đời của con người chúng ta luôn phải đối diện với cám dỗ và thử thách. Vì thế Giáo Hội ở trần gian còn được gọi là Giáo Hội chiến đấu (đối với Giáo Hội trên trời là Giáo hội chiến thắng, và Giáo hội đau khổ nơi luyện tội). Đã chiến đấu thì cũng có lúc thắng, lúc bại. Có những khi vì yếu đuối, chúng ta trót sa ngã phạm tội bằng cách này hay cách khác. Lúc đó chúng ta cần ăn năn sám hối và nhờ lòng tin vào “Chúa là Đấng Từ bi và Nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương…” chúng ta can đảm đứng dậy và tiếp tục cuộc hành trình qua sa mạc cuộc sống, nhờ ‘Cột Lửa’ là ánh sang Đức Tin soi dẫn… Cứ đi và đi mãi đến cuối cuộc đời.

Có vô vàn cám dỗ khác nhau; nhưng tất cả đều quy về ba mối chính: DANH – LỢI – THÚ… Ham danh, ham lợi ham phú quý là bản tính của con người. Ai cũng muốn địa vị cao sang, ai cũng  muốn giàu có ai cũng ham thích thú vui.

Chúa Giêsu đã “để cho qủy cám dỗ” để dạy chúng ta: Phải chấp nhận cám dỗ và thử thách  (cf. Tho Roma  12, 12 ) ; nhưng để thắng cám dỗ chúng ta phải kiên trì cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa (Kinh Thánh) “vì tinh thần thì mạnh mẽ, nhưng thể xác thì yếu đuối…” (Mátthêu 26:41). Hạ mình khiêm tốn, “nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro…”; Thiên Chúa yêu thương và nâng đở những người có tinh thần khó nghèo và khiêm tốn; ‘vì Kinh Thánh có lời viết: Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng; nhưng ban ơn cho những  người có lòng khiêm nhường’ (Giacôbê 4:6…). Hành trình Đức Tin là một cuộc “đồng hành”; chúng ta cần thông cảm yếu đuối của nhau, tha thứ và cầu nguyện chung cho nhau, nâng đỡ lẫn nhau, “chị ngã, em nâng…”  thay vi  lên mặt tự phụ, khinh chê, dèm pha và kết án người khác.

“Cầu nguyện… hãm mình (ăn chay)… và sống tinh thần bác ái yêu thương (làm phúc, bố thí), là những phương thế tuyệt vời để thắng cám dỗ, để đền tội, để được Thiên Chúa yêu thương, tha thứ và giúp đỡ chúng ta trên con đường về quê thật là Nước Hằng Sống.

Xin Chúa thương chúc lành cho mỗi người chúng ta trong Mùa Chay Thánh năm nay. Xin Mẹ Maria và các Thánh chuyển cầu cho chúng ta.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.