Hôm nay,  

Mộng Ban Đầu

06/02/200900:00:00(Xem: 8457)
MỘNG BAN ĐẦU
Hạnh Chi
Nơi đất tạm dung, người Việt chúng ta từng làm quen với những dấu mốc thời gian mang những tên gọi đẹp đẽ như: Ngày của Mẹ (Mother's Day), Ngày của Cha (Father's Day), Ngày tưởng niệm (Memorial Day), Ngày tạ ơn (Thanksgiving Day), Ngày tình yêu (Valentine Day).. v..v…
Mỗi thời điểm, mà nội dung đã mang trọn vẹn ý nghĩa ngay từ danh xưng, mọi người đều biểu tỏ tấm lòng tới đối tượng qua lễ vật, quà cáp hoặc có khi chỉ là cuộc viếng thăm đơn sơ nhưng chí tình, chí thiết.
Riêng tháng hai của mỗi năm, dấu mốc thời gian được quan tâm nhất là Ngày Tình Yêu (Valentine Day). Trong ngày này, nơi bận rộn nhất có lẽ là các tiệm bán hoa vì quà tặng này tương đối thích hợp với khả năng của đại chúng. Dù cả lọ hoa rực rỡ hay một đóa hồng thắm tươi cũng có thể thay ta nói lên những lời đẹp đẽ nhất, biểu lộ những cảm tình thầm kín nhất.
Đáng lẽ trong ngày này, hai chữ "Tình Yêu" phải được viết hoa vì ai cũng có rất nhiều tình yêu. Chúng ta yêu cha, yêu mẹ, yêu thầy, yêu bạn, yêu hàng xóm láng giềng, yêu những người quên mình vì tha nhân v…v…Ấy thế mà, nói đến Ngày Tình Yêu, nhân gian lại thường thu hẹp trí tưởng trong tình yêu lứa đôi, tình yêu nam nữ.       
Cũng chẳng đáng trách, vì từ thời xa xưa, vào năm 269 trước Thiên Chúa giáng sinh, có một mối tuyệt tình vẫn còn âm vang đến ngày nay. Đó là tình tuyệt vọng của một tử tù trai trẻ với con gái của người cai ngục. Người tử tù trẻ tuổi này tên là Valentine. Chàng khờ dại, ngu ngốc phạm trọng tội ngoài xã hội nhưng trong thời gian bị giam cầm, chờ ngày đền tội thì chàng đã có thời gian để suy ngẫm về điều thiện, điều ác, biết sám hối những sai lầm đã phạm. Chính nhờ cái tâm nhu hòa vừa chuyển hóa này mà chàng tiếp nhận được nét đẹp nhân ái từ đôi mắt của cô con gái cai ngục đã nhìn chàng mỗi khi cô vào thăm cha trong giờ cha làm việc. Rồi sự tưởng tượng của chàng bay bổng: "Có thực sự cô phải vào đây thăm cha không" Hay cô vào vì thương hại chàng" Ranh giới từ thương hại đến yêu thương bao xa" Cô có thấy được tình yêu của chàng gửi tới cô qua ánh mắt chàng không" ." Mối tình tuyệt vọng nhưng cuồng nhiệt đó được chàng tuổi trẻ Valentine giãi bầy trên nhiều trang nhật ký và đặc biệt là chàng tự vẽ một tấm thiệp để viết thư tình lên đó, với hàng chữ nắn nót "From Your Valentine", tưởng như hai người đã thương nhau, đã là của nhau rồi.
Người ta tìm thấy tấm thiệp này trong túi áo, sau khi chàng bị hành hình!
Ngoài việc gây tội phải đền tội, thì tình yêu thầm lặng nhưng nồng nhiệt của người tử tù đã gây chấn động trong giới trẻ thời đó. Không biết đích xác bao lâu sau thì ai có sáng kiến  tặng quà cho người mình yêu vào ngày tưởng nhớ Valentine bị hành hình, nhưng tên của người tử tù đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của Tình Yêu, càng ngày càng mạnh mẽ và duy trì cho đến ngày nay. Không chỉ thế, hàng chữ "From Your Valentine" còn xuất hiện trên nhiều mẫu thiệp dành cho Ngày Tình Yêu như một chủ-hữu-từ chứ không phải là danh-từ-riêng nữa.
 Mới đây, trên các nhật báo online, có đăng một tin ngắn thật dễ thương. Đó là chuyện xảy ra vào sáng sớm ngày đầu năm dương lịch 2009 tại thành phố Hanover, nước Đức. Ba em nhỏ, em trai 6 tuổi, hai em gái, 7 và 5 tuổi, quanh quẩn ở một nhà ga, đã được cảnh sát tại đó chú ý vì không thấy người lớn đi cùng các em. Khi được hỏi các em làm gì mà đến nhà ga sớm thế" Và cha mẹ các em đâu" thì các em hồn nhiên và thành thật thố lộ rằng, em trai Mika 6 tuổi thương em gái Anna Lena 7 tuổi, đã cùng quyết định dắt nhau đến xứ Phi Châu ấm áp để thành hôn. Anna Lena còn chu đáo rủ em gái 5 tuổi đi theo để làm nhân chứng cho lễ cưới. Cảnh sát hỏi tại sao phải sang tận Phi Châu làm lễ cưới thì Mika hãnh diện bảo rằng đó là sáng kiến của em sau khi em kể cho hai cô bé nghe về chuyến nghỉ hè vừa qua của gia đình em thì cả 3 em đều đồng ý rằng xứ Phi Châu rất thơ mộng và lý tưởng đề tổ chức lễ cưới. Hai gia đình của các em là bạn thân thiết lâu năm, hiện đang tụ họp ở một nơi để đón giao thừa đêm qua và mọi người còn đang ngủ say khi các em lén mở cửa, hướng về nhà ga của thành phố với dự tính trọng đại cho đời mình.

Đây quả là một kinh nghiệm quá mới mẻ với các nhân viên cảnh sát vì không thể buộc tội Mika bắt cóc hay rủ rê "vị thành niên" Anna Lena, cũng không thuyết phục được các em quay về vì "Chúng tôi thương nhau lắm! chúng tôi muốn làm lễ cưới và thành vợ chồng ở Phi Châu. Em gái của Anna Lena sẽ làm chứng mà!"
Tuyệt vời thay, cái sơ-tâm mới đơn giản và thần tiên nhường bao!
Cuối cùng, cảnh sát trưởng phải đích thân gặp các em, từ từ hỏi han, thân mật, chẳng hạn như "xứ Phi Châu nóng lắm, các em mang những gì trong túi xách đây"" Thôi thì đủ cả, kiếng mát, nón vải, quần áo tắm. Chàng Mika còn cẩn thận lấy theo một bông hồng bằng ny-lông trên lọ hoa ở trong bếp để nếu Phi Châu không có hoa thì cô dâu Anna Lena cũng có đóa hoa này cầm trên tay khi trao đổi lời thề nguyện.
Phải vất vả lắm vị cảnh sát trưởng mới có thể giải thích cho cặp uyên ương này biết rằng các em không thể đến Phi Châu nếu các em không có tiền, không có vé máy bay.
Cũng vất vả không kém cho các nhân viên cảnh sát khi thuyết phục để các em chịu dẫn họ cùng về nhà "Xin tiền cha mẹ rồi đi mua vé bay cũng chưa muộn. Xứ Phi Châu ấm áp vẫn ở đó chờ các em mà!"
Ôi, có mộng ban đầu nào tinh khiết, đẹp đẽ và thơ ngây như mối tình đầu này không"
Mai kia mốt nọ, khi trưởng thành, dù còn gần nhau hay đã xa, dù mỗi người có, hay không có hạnh phúc riêng, nhưng kỷ niệm thần thoại về giấc mộng đầu này chắc chắn vẫn là những gì vô giá mà kiếp nhân sinh có đau thương tới đâu cũng không bôi xóa được.
Nếu biết địa chỉ các em, thế nào cũng có người  gửi tới những tấm thiệp Valentine đặc biệt nhất vì tất cả những người đang yêu nhau trên thế gian này, ai chẳng muốn có một tình yêu thơ mộng đến thế! 
Sơ-tâm sẽ chính là chân-tâm.
Chỉ khác, chân-tâm nhận diện cảnh mà không dính cảnh.
"Ba mươi năm trước, thấy núi là núi, sông là sông.
Gặp được thiện trí thức chỉ dạy, là các pháp không có tự thể cố định, chỉ do duyên hợp mà thành, nên thấy núi không là núi, sông không là sông.
Ba mươi năm sau, từng quán chiếu không ngừng, tâm đã lặng lẽ  như như, cái thấy đã thuần thục, chỉ là sự nhận biết tĩnh lặng, trong sáng, không phân biệt, không dính mắc, thì lại thấy núi là núi, sông là sông."
Mất ba mươi năm để thấy lại cái thấy cái ban đầu như thiền-sư Duy Tính đời nhà Tống, có phải là uổng phí thời gian chăng"
Không đâu! chớ nghe vậy mà tưởng vậy.
Sơ-tâm tuy trong sáng nhưng còn là tâm phàm phu, thấy cái gì cũng thật. Núi cũng thật, sông cũng thật. Khi có trí tuệ để quán sát mới biết bản chất vạn hữu chỉ là duyên hợp, núi đứng đó mà không phải núi, sông chảy đó mà không phải sông; từ đó, mới trở về cái thấy của sơ tâm, tuy đối tượng cũng vậy, nhưng nay khác là thấy, mà không dính mắc.    
Cái thấy này là quá trình học hỏi, quán chiếu để từ sơ-tâm tới chân- tâm. Nguyên lý này cũng đưa đến sự thực chứng, vọng chính là chân, cũng như sóng chính là nước.
Thương thay, trên thực tế, kiếp nhân sinh thường dễ dàng đánh mất những giấc mộng đầu đẹp đẽ cùa sơ-tâm trong giòng cuồng lưu tam độc, như tinh thần hai câu kết trong bài kệ Tứ Sơn của vua Trần Thái Tôn:
"Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình"
mà thầy Thanh Từ dịch rất hay:
"Lang thang làm khách phong trần
Quê nhà ngày một muôn lần dặm xa".    
Chữ "Quê nhà" đây là chỉ cho sơ-tâm, Phật-tánh. Cái tâm-vọng dắt ta lang thang mỗi ngày mỗi xa chân-tâm; chỉ khi nào nhận ra lẽ vô thường mới buông bỏ những dính mắc để vọng thành chân.
Tình yêu bao la mà Đức Thế Tôn ban cho chúng sanh là lời xác quyết  sơ-tâm chính là Phật-tánh sẵn có trong tự thể mỗi loài. Sơ-tâm sẽ được tưới tẩm, nuôi dưỡng bằng trí-tuệ, để tỏa sáng hào quang của Phật-tánh, rồi tùy căn cơ trí tuệ cạn hay sâu của mỗi loài mà Phật-tánh hiển lộ.
Tin tưởng điều đó, chúng ta sẽ duy trì và vun bồi được biết bao nhiêu tình yêu; không phải chỉ với một đối tượng, cũng không phải chỉ giữa người với người mà do năng lượng Phật-tánh tỏa sáng, tình yêu này sẽ thăng hoa trong mọi ngày, tới mọi loài.
Nếu ai hỏi:
- Vì sao mà tin tưởng có tình yêu rộng lớn như thế"
Hãy nhẹ nhàng trả lời:
-Vì chúng sanh là Phật sẽ thành.
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, Mùa Valentine 2009)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.