Hôm nay,  

Ra Khơi

22/10/201000:00:00(Xem: 10746)

Ra Khơi

Huệ Trân
Bốn mươi hai người, đủ thành phần nam phụ lão ấu, mỗi người tay xách một giỏ mây kết hoa tươi, tuần tự chờ bước lên chiếc xe bus vừa rẽ vào sân chùa. Những người không xách giỏ hoa thì đông đến gần hai trăm, đang đứng rải rác thành từng nhóm, quanh khuôn viên chùa để chờ những chuyến xe bus sau.
Không ai bảo ai mà gương mặt những người xách giỏ hoa đều trầm lắng như nhau.Những hũ sành dài, ngắn, những bình sứ vuông, tròn, trong mỗi giỏ hoa được người xách cực kỳ tôn trọng trong từng bước đi, từng chuyển động.
Đó là tro cốt người thân của bốn mươi hai gia đình, cùng ra khơi ngày 17 tháng 10 năm 2010 do chùa Phật Tổ tổ chức, để tro cốt người thân được hòa vào biển cả theo ước nguyện.
Những chuyến xe bus tuần tự rời chùa, hướng ra bến cảng Long Beach. Trời không mưa nhưng thật nhiều gió lạnh. Gió trùng dương hay gió trong lòng"
Tàu rời bến trong tiếng niệm Phật của Chư Tăng Ni và Phật tử.
Bấy giờ, gió bốn phương lồng lộng, chở âm thanh niệm Phật lan tỏa không gian, bay lên, bay xa, quyện vào mây trời, vào sóng nhấp nhô. Phút giây, qua tiếng niệm Phật thành khẩn của muôn lòng như một, con tàu thế gian đã hóa thân thành cánh buồm Bát Nhã, nghẹn ngào tiếng nấc mừng vui, nhạt nhòa nước mắt của sự cảm ứng nhiệm mầu…
“Thấy rồi, mây ngũ sắc
Thuyền Bát Nhã ra khơi
Biển trầm luân khô cạn
Thuyền trôi trên mây trời
*
Thấy rồi, giọt nước mắt
Tuệ nhãn bừng tâm si
Tóc râu Xá Lợi Phất
Rụng trên đường Phật đi
*
Thấy rồi, tâm sám hối
Từ vết chém. giây oan
Là nợ duyên tiền kiếp
Vay, trả, đều hân hoan
*
Thấy rồi, sương dốc núi
Phủ một trời hoa bay
Tạ ơn Người đã mở
Vòng tay lóng xương gầy…” (*)


Ra giữa biển khơi, tàu tắt máy để bập bềnh sóng biếc. Với chén nước trong và đóa hoa tinh khiết, Thượng Tọa trụ trì chùa Phật Tổ làm lễ sái tịnh cho từng hương linh. Rồi sợi giây buộc trên giỏ hoa từ từ buông lỏng …. Thả xuống …. Thả xuống …. Tiếng niệm Phật òa vỡ không gian bao la ….
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật …
 Bốn mươi hai giỏ hoa chạm mặt biển.
 Nước mắt thân nhân, lặng lẽ rỏ xuống đại dương, thay lời tiễn biệt ….
Tro cốt người đi, tan dần vào sóng. Sóng biếc trùng dương thân ái đón nhận từng vệt sóng mầu tro, nhấp nhô mạn tàu, quẩn quanh, quyến luyến, trước khi hòa vào đại dương . …
Trời bỗng mưa nhẹ hạt.
Giữa trùng khơi mênh mông, có không, còn mất, bỗng quá nhỏ nhoi. Xin hứng trọn mưa này, gió này, để một lần, hiểu được tận cùng ngôn ngữ thế gian rồi cũng chỉ là hoa đốm:
“Nước rơi từ mắt là NƯỚC MẮT
Đau đến từ thương là ĐAU THƯƠNG
Chất bao nhiêu mới gọi là CHẤT NGẤT"
Đoạn bao nhiêu mới gọi là ĐOẠN TRƯỜNG" (**)
Tiếng niệm Phật tưởng chừng như vọng từ Linh Thứu Sơn, từ Liên Trì Hải Hội, từ vườn Yêm La, từ Trúc Lâm, từ Vương Xá …
ĐÓ LÀ TIẾNG GỌI TRỞ VỀ BẢN THỂ.
Tàu nổ máy, quay về bến.
Nhưng bến, nào phải chỉ là hướng đất liền xa xa kia! Mà bến sẽ ngay dưới chân ta, khi tâm chí thành khởi niệm xướng hồng danh Chư Phật.    
 Dù chỉ xướng hồng danh một vị Phật, dù chỉ một vị Phật thôi, nhưng bằng tâm kim cương trong vắt không chút uế nhiễm, thì ĐI hay Ở, lập tức đồng một nghĩa như nhau.
Ngoài kia, sóng đã biết mình là nước nên sóng đang an lạc reo vui.
Bốn mươi hai dòng sông đã hòa vào biển cả để trở thành vô sinh bất diệt.
Huệ Trân
(Thuyền Bát Nhã ra khơi 17 tháng 10 năm 2010)
(*) HT
(**) TQL

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.