Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tôi Hết Còn Tin Vào Nơi Chốn Ấy

22/04/200200:00:00(Xem: 3385)
A free man, when he fails, blames nobody.
(Được tự do rồi, thất bại, đừng ăn vạ ai).
(J. Brodsky, Phận lưu vong, The Condition We Call Exile)

Of course, it's one hell of a way to get from Petersburg to Stockholm; but then for a man of my occupation the notion of a straight line being the shortest distance between two points has lost its attraction a long time ago.
(Đường từ Petersburg tới Stockholm xa thấy mồ; nhưng với một người nghề ngỗng như tôi, ý niệm đường thẳng - khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm - đã mất sự quyến rũ của nó từ lâu rồi.)
(Diễn văn nhận Nobel văn chương).

Ngay từ năm 1972, khi Joseph Brodsky "chiều" theo lời yêu cầu của nhà nước, rời khỏi nước Nga, vì tội danh thành phần ký sinh, nhà thơ ăn bám, ông vẫn luôn luôn bị hỏi về nước Nga và nhất là khi nào thì trở về quê hương. Ông thường trả lời đại để: "Tôi thấy thật khó mà tưởng tượng tôi như là một du khách, một diễn viên đi trình diễn ở một nơi mà tôi đã sinh ra, đã trưởng thành... Kẻ sát nhân còn có thể luyến tiếc phạm trường, nhưng thật là vô duyên khi mầy mò diễn lại một màn yêu đương. Tôi có thể về đó như là một cá thể rất riêng tư và gặp gỡ một vài bạn bè, nhưng về để cười cười nói nói, nhận những lời chúc tụng, tôi thấy thật là khó chịu".
Nước Nga hết còn hiện hữu. Nó trở thành ngôn từ đối với ông. "Tôi hết còn tin tưởng ở xứ sở đó. Tôi không quan tâm (đến chuyện này). Tôi đang viết bằng tiếng nước tôi, và tôi thích tiếng nước tôi. Tôi thực sự không biết giải thích thế nào cho ông thấy. Xứ sở là... những người của nó. Tôi là một trong những người đó, và tôi thấy quá đủ hoặc quá thiếu về tôi rồi... Khi Thomas Mann từ Đức đến California, người ta hỏi ông về văn chương Đức, ông trả lời: Văn chương Đức là nơi tôi đang ở (German literature is where I am). Nếu một người Đức dám chấp nhận điều này, tôi cũng dám chấp nhận. Bây giờ tôi sửa soạn để chết tại đây. Cũng chẳng quan trọng chi chuyện đó. Vả chăng tôi cũng không biết chốn nào khá hơn. Mà nếu có biết, tôi cũng chưa kịp sửa soạn để đổi đời."
Sự không trở về Nga của Brodsky tương phản với Solzhenitsyn. Nhưng có một thời cả một chế độ và bộ phận đầu não của nó là Bộ Chính Trị đã run sợ trước một cá nhân Solzhenitsyn. Tầm vóc anh hùng và sự ám ảnh ông gây ra cho họ, những con người bên trong Điện Cẩm Linh, có lẽ không một nhà văn nào sánh nổi, nhất là ảnh hưởng của nó trong lịch sử hiện đại. Cả nhân dân Nga-xô và Tây-phương đều không chịu nổi Solzhenitsyn, về bộ râu của ông, còn dị hợm hơn cả của Dostoevsky, về sự quan trọng và luôn cả tự coi mình là quan trọng, nhưng trên hết vẫn là thái độ không khoan nhượng với cả chủ nghĩa Cộng-sản lẫn Dân chủ hiện đại. Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Liên-xô chẳng những không chịu nổi mà còn tỏ ra khiếp sợ. Ngày 23 tháng 6 năm 1992, khi B. Yeltsin ký sắc lệnh huỷ bỏ tất cả những điều luật vẫn được dựa vào đó để bách hại đám đông và vi phạm nhân quyền, sắc lệnh này đã đem hồ sơ mật của Solzhenitsyn ra trước ánh sáng. Và người ta mới thấy được sự xuẩn ngốc, nỗi khiếp sợ của Bộ Chính Trị trước một con người dám chống lại cả một chế độ. Trong bao nhiêu năm trời, họ loay hoay với câu hỏi phải làm gì với ông: Dụ dỗ, làm câm nín" Liệu sẽ thắng qua tuyên truyền, phỉ báng, hay là phải bắt bỏ tù" Lạ một điều ông không bao giờ thất vọng. Thái độ bất cần, bất cẩn của ông thật đáng nể. Ngay từ năm 1965, ông đã từng gọi Lênin là con rắn độc. Hơn nữa ông đã tiên đoán được ngày tàn của chế độ đó: "Đây là một chính quyền bị liệt, hết còn trông mong gì được nữa." Và đây là Solzhenitsyn vào năm 1971, sau khi nhà ông bị lục soát, ông viết cho trùm mật vụ KGB, Yuri Andropov: "Trong bao nhiêu năm tôi đã im lặng trước luật rừng của đám côn đồ dưới quyền ông, trước sự kiểm tra, tước đoạt thư từ giao dịch, dọ thám, làm tình làm tội những người quen biết, nghe lén điện thoại, khoét lỗ tường, đặt máy nghe lén... Nhưng sau cuộc lục soát vừa rồi tôi không im lặng nữa".
Không phải lỗi ở ông nếu những tác phẩm quan trọng nhất, những năm tháng đẹp đẽ nhất đều ở sau ông. Thế kỷ này, câu chuyện về phẩm giá, về tư cách con người, không cá nhân nào vươn tới tầm vóc của Solzhenitsyn.
Nếu cuộc đời Solzhenitsyn là tác phẩm vĩ đại nhất của ông, ngược lại, Brodsky luôn cưỡng lại sự bi thảm, và thần thoại hóa: "Đừng bao giờ để bị đánh gục, ngay trong ý định tự hạ mình trở thành nạn nhân của chế độ đó... Thi sĩ, kẻ không bao giờ là nạn nhân". Ông kính phục và coi Solzhenitsyn là Homer của Liên-bang Xô-viết. Nhưng ông không chấp nhận một sự dấn thân chính trị, coi đó không phải là một giải pháp đối với ông.
Brodsky sinh năm 1940 tại Leningrad. Khi còn là một học sinh, sự tức giận, nổi loạn của ông ít nhắm vào ý thức hệ Cộng-sản mà về vẻ u ám của văn hóa Xô-viết và sự thừa mứa hình lãnh tụ. "Có cậu bé Lênin, như thiên thần có cánh với mớ tóc nâu", ông viết trong nhật ký thời trẻ. Rồi Lênin trong những năm 20, 30; chẳng có một sợi tóc trên chỏm đầu, mặt nghệt ra...". Bộ mặt này đã ám ảnh mọi người dân Nga. Cố tránh né nó là bước đầu của ông để trở nên lạnh lùng, dửng dưng.
Stalin chết năm 1953. Kỷ niệm về cái chết của ông trùm đỏ ở một cậu bé mười hai tuổi như tiên đoán số phận nhà thơ, có lẽ đó cũng là điều Akhmatova cảm nhận về ông, sau lần đầu gặp gỡ. Ông kể lại cho nhà văn Solomon Volkov, lần đó, ông và bạn đồng học được tụ tập trong diễn đường của trường. Và bà "trưởng tràng" cho họ biết tin. "Bà ta bắt đầu bài điếu văn", và "bất thình lình rú lên bằng một giọng man dại: 'Quỳ xuống! Tất cả chúng ta hãy quỳ xuống'. Cả diễn đường khóc òa. Mọi người đều khóc. Có một điều gì đó mong muốn tôi cũng làm như vậy, nhưng - xấu hổ thật, lúc đó, và bây giờ, hãnh diện, tôi nghĩ vậy - tôi đã không khóc." Về nhà thấy mẹ khóc, cậu bé ngạc nhiên, cho tới lúc cha nháy mắt ra dấu thông cảm, và cậu bé nhận ra chẳng có lý do đặc biệt gì để mà bực mình vì cái chết đó.
Mười lăm tuổi cậu bỏ học. Từ 1956 đến 1962, làm mười ba nghề. Theo cả đoàn thám hiểm tới biên giới Trung-hoa, Siberia, đỉnh băng sơn. Làm trợ tá tại nhà xác, cưa xẻ, moi bộ đồ lòng tử thi... "Vậy mà tôi lại thích nghề đó, ông có tin tôi không"", Ông nói với ký giả David Remnick. "Thật xấu hổ khi bỏ nghề."
Bước vào tuổi 20, ông bắt đầu làm thơ. Ông nhập vào một đám người viết trẻ, có Y. Rein, D. Bobyshev và A. Naiman. "Ý tưởng về cá nhân, một người của riêng người đó, đó là tài sản đáng tự hào của chúng ta", sau này ông viết: "Nhưng khả năng thực hiện thật nhỏ nhoi, nếu kể như sau cùng, điều đó hiện hữu". Con đường độc nhất là văn chương và kinh nghiệm riêng tư về đọc sách. Và Brodsky nổi loạn chống lại chế độ bạo chúa bằng cách trầm mình vào ngôn ngữ, vào Pushkin, và Baratynsky, Mandelstam và Tsvetayeva, Pasternak và Akhmatova. Ông học tiếng Ba-lan và đặc biệt, tiếng Anh. Thật khó mà có những cuốn sách tiếng Anh. Sau cùng ông có được hai tuyển tập thi ca do Oscar Williams, và Louis Untermeyer tuyển chọn; thật là quí giá, trong đó có hình đen trắng những người hùng của ông, trên tất cả, có Auden, Frost, và Hardy. Qua những bức hình nhỏ xíu đó, ông tưởng tượng ra họ, tiếng nói, nhân cách của họ.
Năm 1961, Rein người lớn nhất trong bọn, đưa Brodsky tới yết kiến người chị, Akhmatova, nhà thơ vĩ đại nhất hiện còn đang sống của nước Nga, một bà lớn, nữ thần thi ca diệu kỳ, như ông sau này đã gọi bà. Ông đọc vài bài thơ, bà tỏ vẻ thích, và sau đó nhận đỡ đầu cả nhóm, đặc biệt ngưỡng mộ, và lo lắng cho Brodsky, và năm 1962, đã tiên đoán số phận bi thảm của ông:

I don't weep for myself now
But let me not be on earth to witness
The golden stamp of failure
On this yet untroubled brow.

(Bây giờ tôi không khóc cho chính tôi
Nhưng cầu sao, tôi đừng có mặt trên trái đất để chứng kiến
Ấn thích vàngẠ của sự thất bại
Trên hàng mi chưa nhuốm sầu này).

1963 chấm dứt thời kỳ Băng Tan, với Khruschev. Thời kỳ tân-Stalinist kéo dài 20 năm sau đó. Ngay cả bây giờ, một vài sử gia vẫn còn tự hỏi tại sao chính quyền Cộng-sản bắt đầu cuộc thanh trừng bằng cách bắt giữ một nhà thơ 23 tuổi chưa được nhiều người biết tới. Nhưng đó chỉ là một bí mật đối với người nào còn nghi ngờ bản năng của thú dữ khi nhận ra đâu là nguy cơ lớn lao nhất đối với chế độ. Và bắt lầm còn hơn bỏ sót. Tiếp theo sắc lệnh của Tối-cao Xô-viết, tăng cường cuộc chiến đấu chống lại những thành phần vô dụng đối với xã hội, KGB Leningrad đã bắt giam Brodsky về những tội: Có quan điểm thế giới có hại cho nhà nước, thoái hóa, "hiện đại", bỏ học và dĩ nhiên, ăn bám... ngoài chuyện làm thơ xấu xa, làm hư hỏng tuổi trẻ. Một số nhà văn nhà thơ đứng sau ông, nhưng đồng minh quan trọng nhất của ông là nữ ký giả Frida Vigdorova, đã can đảm tham dự phiên tòa, ghi lại hết những diễn biến rồi quảng bá những tài liệu đó. "Bản tin" của nữ ký giả này được coi là một tác phẩm văn học mang tính chống độc tài, chống chế độ tập trung quyền lực, hơn cả những tác phẩm của Havel:
Tòa án: Công việc của anh"
Brodsky: Tôi làm thơ, tôi dịch thuật. Tôi tin rằng...
Tòa án: Không có "Tôi tin rằng". Đứng thẳng lên. Không được dựa vào tường. Trả lời Tòa án như đã được chỉ định. Nào, bây giờ anh làm việc toàn thời gian phải không"
Brodsky: Tôi nghĩ tôi có một việc làm toàn thời gian, vâng.
Tòa án: Trả lời rõ rệt.
Brodsky: Tôi làm thơ. Tôi nghĩ chúng sẽ được xuất bản. Tôi tin tưởng rằng...
Tòa án: Tòa không cần biết tới chuyện "Tôi tin rằng". Hãy trả lời, tại sao anh không làm việc"
Brodsky: Tôi làm việc, tôi làm thơ.
Tòa án: Tòa không quan tâm tới chuyện đó. Tòa quan tâm tới xí nghiệp mà anh làm việc.
Brodsky: Tôi có hợp đồng với nhà xuất bản.
Tòa án: Hợp đồng có cho anh đủ tiền để nuôi sống bản thân không" Hãy kể chúng ra, cho biết rõ ngày tháng, số tiền.
Brodsky: Tôi không nhớ rõ. Luật sư của tôi giữ những hợp đồng đó.
Tòa án: Tòa hỏi anh.
Brodsky: Ở Moscow, hai cuốn sách dịch thuật của tôi đã được in.
Tòa án: Kinh nghiệm làm việc của anh"
Brodsky: Nhiều hay ít...
Tòa án: Tòa không quan tâm đến chuyện nhiều hay ít.
Brodsky: 5 năm.
Tòa án: Anh làm việc ở đâu"
Brodsky: Trong xưởng thợ. Với đoàn thám hiểm...
Tòa án: Đại khái, chuyên môn của anh là gì"
Brodsky: Thi sĩ, dịch giả.
Tòa án: Ai chỉ định anh là thi sĩ" Ai cho anh vào hàng ngũ những thi sĩ"
Brodsky: Chẳng ai cả. Ai cho tôi vào hàng ngũ nhân loại"
Tòa án: Anh có học về cái đó không"
Brodsky: Học về cái gì"
Tòa án: Để trở nên thi sĩ. Anh không hề cố gắng học xong trung học, nơi mà người ta sửa soạn cho anh, người ta dậy anh...
Brodsky: Tôi không tin chuyện này liên quan đến học vấn.
Tòa án: Như vậy là thế nào"
Brodsky: Tôi nghĩ... vậy thì, tôi nghĩ, điều đó đến từ ông Trời.

Một người làm chứng nói con trai của anh ta đã rơi vào ảnh hưởng xấu xa của Brodsky, và đã bỏ việc làm, quyết định nó cũng là thiên tài. Cũng người này đã nói, thơ của Brodsky, những suy tư về thời gian, sự chết, tình yêu, có vẻ chống Xô-viết. "Bài nào"", Brodsky ngắt lời. "Hãy kể tên một bài". Người đó chịu thua.
Vigdorova viết thư cho Chukovskaya về phiên tòa: Có thể một ngày nào đó, anh ta là một nhà thơ lớn. Nhưng làm sao tôi quên nổi vẻ mặt của anh ta, lúc đó - không trông mong một sự trợ giúp, ngạc nhiên, khôi hài, và thách đố, tất cả cùng một lúc".
Sau cùng ông bị kết án năm năm, lưu đầy nội xứ. Ông làm việc tại một trang trại ở Norinskaya, vùng đất sũng nước gần Bạch Hải. Chỉ có Akhmatova, người đã từng trải qua những nỗi thống khổ nhiều hơn thế nữa, đã từng mất bao nhiêu thân quyến, bao nhiêu bạn bè trong cái lò xay thịt người là những năm tháng dưới sự thống trị của Lênin và Stalin, chỉ có bà mới có thể nở một nụ cười kèm theo lời nhận xét cay đắng: "Hãy tưởng tượng bản tự thuật mà họ đang sáng tạo cho thằng em tóc hung của chúng ta" Chính anh ta đã mướn tụi nó làm đấy!".
Khi được hỏi ông nghĩ gì về những năm tháng tù đầy, Brodsky nói cuối cùng ông đã vui với nó. Ông vui với việc đi giầy ủng và làm việc trong một nông trại tập thể, vui với chuyện đào xới. Biết rằng mọi người suốt nước Nga hiện cũng đang đào xới "cứt đái", ông cảm thấy cái gọi là tình tự dân tộc, tình máu mủ. Ông không nói giỡn. Buổi chiều ông có thời giờ ngồi làm những bài thơ "xấu xa", và tự cho mình bị quyến rũ bởi "chủ nghĩa hình thức trưởng giả" từ những thần tượng của ông. Hai đoạn thơ sau đây của Auden đã làm ông "ngộ" ra:

Time that is intolerant
Of the brave and innocent
And indifferent in a week
To a beautiful physique,

Worships language and forgives
Everyone by whom it lives;
Pardons cowardice, conceit,
Lays its honor at their feet.
(Thời gian vốn không khoan dung
Đối với những con người can đảm và thơ ngây
Và dửng dưng trong vòng một tuần lễ
Trước cõi trần xinh đẹp

Thờ phượng ngô ngữ và tha thứ
Cho những ai kia mà nó sống nhờ họ;
Tha thứ sự hèn nhát, trí trá
Để vinh quang của nó dưới chân họ).

Ông bị xúc động không hẳn bởi cách mà Auden truyền đi sự khôn ngoan - làm bật nó ra như trong dân ca - nhưng bởi ngay chính sự khôn ngoan, ý nghĩa này: Ngôn ngữ là trên hết, xa xưa lưu tồn dai dẳng hơn tất cả mọi điều khác, ngay cả thời gian cũng phải cúi mình trước nó. Brodsky coi đây là đề tài cơ bản, trấn ngự của thi ca của ông, và là nguyên lý trung tâm của thơ xuôi và sự giảng dạy của ông. Trong cõi lưu đầy như thế đó, ông không thể tưởng tượng hai mươi năm sau, khăn đóng, áo choàng, ông bước lên bục cao nơi Hàn lâm viện Thụy-điển nhận giải Nobel văn chương, nói về tính độc đáo của văn chương không như một trò giải trí, một dụng cụ, mà là sự trang trọng, bề thế xoáy vào tinh thần đạo đức của nhân loại. Nếu tác phẩm của ông là một thông điệp đơn giản, đó là điều ông học từ đoạn thơ của Auden: "Sự chán chường, mỉa mai, dửng dưng mà văn chương bày tỏ trước nhà nước, tự bản chất phải hiểu như là phản ứng của cái thường hằng - cái vô cùng - chống lại cái nhất thời, sự hữu hạn. Một cách ngắn gọn, một khi mà nhà nước còn tự cho phép can dự vào những công việc của văn chương, khi đó văn chương có quyền can thiệp vào những vấn đề của nhà nước. Một hệ thống chính trị, như bất cứ hệ thống nào nói chung, do định nghĩa, đều là một hình thức của thời quá khứ muốn áp đặt chính nó lên hiện tại, và nhiều khi luôn cả tương lai..."


Trước khi rời nước Nga, Brodsky viết cho Bí thư Đảng Cộng-sản Liên-xô, Leonid Brezhnev: "Tôi thật cay đắng mà phải rời bỏ nước Nga. Tôi sinh ra tại đây, trưởng thành tại đây, và tất cả những gì tôi có trong hồn tôi, tôi đều nợ từ nó. Một khi không còn là một công dân Xô-viết, tôi vẫn luôn luôn là một thi sĩ Nga. Tôi tin rằng tôi sẽ trở về, thi sĩ luôn luôn trở về, bằng xương thịt hoặc bằng máu huyết trên trang giấy... Chúng ta cùng bị kết án bởi một điều: cái chết. Tôi, người đang viết những dòng này sẽ chết. Còn ông, người đọc chúng, cũng sẽ chết. Tác phẩm, việc làm của chúng ta sẽ còn lại, tuy không mãi mãi. Đó là lý do tại sao đừng ai can thiệp kẻ khác khi kẻ đó đang làm công việc của anh ta."
Chẳng có gì chứng tỏ Brezhnev đọc thư. Cũng không có hồi âm.

Có nhiều nhà thơ có tài, có thể ở vào chỗ anh ta khi đó, Efim Etkind viết. Nhưng số phận đã chọn đúng anh ta, và ngay lập tức anh hiểu trách nhiệm về địa vị của anh - không còn là một con người riêng tư, nhưng trở thành một biểu tượng, như Akhmatova đã trở thành một biểu tượng quốc gia của người thi sĩ Nga, khi bà bị số phận lọc ra giữa hàng trăm nhà thơ, năm 1946. Thật quá nặng cho Brodsky. Ông có một bộ não tệ, một trái tim tệ. Nhưng ông đã đóng vai ông tại tòa án một cách tuyệt vời.
Brodsky không được may mắn với sức khỏe của ông. Tim ông bị mổ hai lần. Ông hút thuốc còn nhiều hơn Bogart, uống cà phê hơn cả Balzac. Khi tôi (David Remnick) tới gặp ông thực hiện cuộc phỏng vấn cho tờ Washington Post, một nhiếp ảnh viên tới. "Ông có thuốc lá không"", Brodsky hỏi thay cho câu chào. "Tôi đang chết vì thèm thuốc."
Ông từ chối vai trò kẻ tuẫn nạn nổi tiếng và chỉ làm công việc của ông: làm thơ, nhưng khi bị đòi hỏi, ông tiến lên, ở tòa án, ở lưu đầy xứ người, ông làm việc này một cách tuyệt hảo. Y. Rein, là bạn của Brodsky và cũng là một nhà thơ lớn, đã từng tuyên bố tại Moscow: Nước Mỹ hãy nhớ lấy lời này. Brodsky là một tiếng nói Nga lớn lao nhất của thời đại anh ta. Anh ta đến từ một thời đại tiếp theo những trại tù, những cấm ngăn, một thời đại tự nuôi nó bằng văn chương trong khi chẳng còn chi, nếu có chăng, chỉ là trống rỗng. Và anh luôn luôn là số một của chúng tôi.
Nadezhda Mandelstam,Ạ trong hồi ký "Hy vọng Rã Rời" (Hope Abandoned) viết, Brodsky là một người trẻ tuổi đáng kể, người sẽ đi đến một chung cuộc hẩm hiu, tôi sợ vậy. Bà đã nhầm. J. Brodsky đã đi đến tận cùng, đúng, nhưng ông đã chết khi tác phẩm được hoàn tất, được in ra bằng những ngôn ngữ quan tâm tới ông, tại một nơi là nhà, hay đại khái đủ như là nhà. Đó là ngôn ngữ, chứ không phải tự thuật. Với tiếng nói Nga, ông luôn luôn là kẻ trung thành. Với nước Nga ông luôn luôn nghi ngờ, cho tới cùng. Đối với ông, chỉ là thi ca, không phải anh hùng ca.

Năm 1991, ông được tặng danh hiệu Poet Laureate (Thi sĩ Quế Quan, Nhà Thơ Với Vòng Nguyệt Quế); và trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội (Hoa-kỳ), ông đã đưa ra đề nghị nhà nước nên tài trợ việc phát hành tuyển tập thi ca Hoa-kỳ, để được bán tận cửa từng gia đình, hoặc bầy trong những tiệm thuốc, quán ăn, hay ở phòng ngủ khách sạn ven đường (motel rooms), bên cạnh cuốn Thánh Kinh, Gideon Bible. "... Năm triệu ấn bản tuyển tập thi ca Hoa-kỳ có thể bán ra, với giá 2 đô-la/một, tại một xứ sở có hai trăm năm chục triệu người dân. Có thể không bán hết liền một lúc, nhưng dần dần, từ từ, trong một thập kỷ, đại khái vậy. Những cuốn sách đi tìm độc giả. Nếu không bán hết, cũng tốt thôi, hãy để chúng nằm đó, nếm bụi bặm, bị gặm nhấm, và mục nát ra. Luôn luôn sẽ có một đứa bé lôi ra được một cuốn sách (câu ra được, fish a book out) từ thùng rác ở nhà xe. Tôi đã từng là một thằng bé như thế..."

Chẳng bao giờ có bất cứ lý do gì để trở lại St. Petersburg:

Having sampled two oceans as well as continents,
I feel that I know what the globe itself must feel: there's no where to go.
Elsewhere is nothing more than a far-flung strew
of stars, burning away.

(Tạm dịch:
Đã nếm trải hai đại dương cũng như hai lục địa
Tôi cảm thấy rằng, tôi biết được, chính trái đất này phải cảm nhận như thế nào:
Không có nơi nào để mà thoát cả.
Bất kỳ đâu đâu, có khác gì một chùm sao xa xăm tắt lịm dần.

Hoặc:
Đất, biển nào
cũng thế thôi
Cũng đành như trái đất cũng đành:
Chẳng có nơi nào, để mà đi tới
Cứ như chòm sao,
thất tán,
tắt lịm dần).

Một vài tuần lễ, trước khi Brodsky được giải Nobel văn chương vào năm 1987, ký giả David Remnick gặp gỡ nhà thơ, tại căn phòng dưới hầm, nơi con phố Morton Street, khu Greenwich Village, New York. Thời kỳ đổi mới vừa bắt đầu. Thơ của ông được in ấn ở Nga, lần đầu tiên sau hơn hai thập kỷ. Ông chẳng giấu diếm, dù chỉ một tí, niềm vui. Đối với một chế độ (như thế), việc xuất bản tác phẩm của ông, và những tác phẩm bị "biếm" khác, là trả lại cho "khổ chủ" tài sản đã bị ăn trộm, ăn cắp.
Đâu cần phải biết ơn kẻ trộm!

***

Khoảng năm 1988, do sinh kế, gia đình tôi mở ngay một sạp báo trước ngõ. Chủ nhân đích thực, ông cán bộ nhà kế bên. Như một cách giữ chỗ, trước khi về hưu, và cũng muốn giúp đỡ gia đình ngụy. Cư xá nơi tôi ở vốn thuộc nhà nước cũ, đa số là công chức có nghề chuyên môn, được chính quyền mới cho lưu dụng, sau ba ngày cải tạo.
Đó là những chuyện ngay sau ngày 30 tháng Tư, 1975.

Thời điểm 1988-89 đã có chủ trương cởi trói cho những nhà văn cách mạng, có thể nhờ vậy, văn chương, văn nghệ sĩ nguỵ cũng được ăn theo. Một số sách trước 1975 nay thấy tái bản, dưới tên khác. Do biết chút ngoại ngữ, tôi được một người quen làm nghề xuất bản mướn dịch, những tác phẩm, thí dụ như của nhà văn y sĩ người Anh, Cronin. Rồi một người quen, trước 1975 cũng có viết lách, lúc đó làm chân sửa mo-rát cho một nhà xuất bản nhà nước, cho biết, ông chủ của anh muốn tái bản cuốn Mặt Trời Vẫn Mọc, dịch Hemingway, của tôi.
Tới gặp, ông cho biết cần phải sửa. Thứ nhất, bản dịch của tôi dùng nhiều tiếng địa phương, như "bồ tèo", "xập xệ"... Thứ hai, có rất nhiều chỗ dịch sai. Tôi coi lại, quả như thế thật.
Trước 1975, sách dịch chạy theo thị hiếu người đọc, theo nhu cầu thương mại. Cứ thấy một tác giả ăn khách là đua nhau dịch. Hồi đó, tôi làm cho nhà xuất bản Vàng Son của ông Nhàn, một chi nhánh nhà xuất bản Sống Mới. Nhà in số 32 Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần nhà tôi, là của linh mục Cao Văn Luận. Trước đó, cuốn Ngày Dài NhấtẠ do tôi dịch cũng đã đụng với một nhà xuất bản khác. Thế là, dịch chối chết, cốt sao ra trước kẻ địch! Rồi tới Hemingway đang được mùa. Huỳnh Phan Anh, ông bạn tôi "chớp" ngay Chuông Gọi Hồn Ai. Tôi "vớ" thế hệ bỏ đi, tuy Mặt Trời Vẫn Mọc! Ngồi ngay tại nhà in, dịch tới đâu, thợ sắp chữ tới đó.
Đọc lại, ngượng chín người. Thí dụ như câu: cuối năm thứ nhì (của cuộc hôn nhân), at the end of the second year, tôi đọc sao, thành: cuối đệ nhị thế chiến, at the end of the second war!
Sau đó, tôi làm việc với nhà xuất bản, sửa lại bản dịch, dưới sự "kiểm tra" của Nhật Tuấn, ông em của Nhật Tiến. (Làm việc ở đây không có nghĩa nhà xuất bản trả lương, nhưng tôi có nhận một số tiền tạm ứng, tính vào nhuận bút cuốn sách, khi tái bản). Lâu lâu ghé trụ sở "phía Nam", của nhà xuất bản, tôi có lần được biết mặt một số nhà văn Miền Bắc, trong số đó có Nguyễn Khải. Cũng ở nơi đây, tôi gặp một số người viết trẻ như Đỗ Trung Quân, khi đó làm chân chạy việc cho nhà xuất bản nọ. Rồi cứ thế, tôi biết thêm một số anh em khác, như Nguyễn Đông Thức, con trai bà Tùng Long (nhà văn, chủ nhân tạp chí Phụ Nữ Diễn Đàn tại Sài-gòn trước 1975) lúc đó làm cho tờ Tuổi Trẻ. Rồi Đoàn Thạch Biền, đã viết ở Văn, dưới bút hiệu Nguyễn Thanh Trịnh. Họ đều biết tôi, trước 1975.
Tôi không nhớ rõ, ai trong số họ, đề nghị tôi viết, cho tờ Tuổi Trẻ, mục điểm sách. Bài đầu tiên là về cuốn Thám Tử Buồn. Một truyện dịch từ một tác giả Liên-xô. Thảm cảnh nước Nga sau đổi mới. Băng hoại tinh thần, đạo đức đưa đến tội ác. Có những cảnh như con cháu đưa bố mẹ tới huyệt, chưa kịp chôn, đã tranh nhau chạy về nhà giành giật của cải, gia tài. Bố mẹ trẻ ham chơi, bỏ con chết đói: khi khám phá, miệng đứa bé còn con gián chưa kịp nuốt thay cho sữa. Cuốn tiếp theo, là Ngôi nhà của những hồn ma, của Isabel Allende. Tới cuốn thứ ba, là bị đụng. Một cuốn của Hoàng Lại Giang, "ông chủ" bất đắc dĩ của tôi. Bài viết, đọc lại trên báo, tôi thấy không được. Trong có từ "ngụy".
Thật tình mà nói, không biết do tôi, hay đã bị sửa. Có thể do tôi. Bởi vì vào thời điểm đó, ngụy là một từ chúng tôi rất ưa dùng, nhất là khi được ngồi với một hai đấng quan cách mạng. Nhưng một khi xuất hiện chính thức trên một bài viết như thế, vấn đề lại khác hẳn. Tôi ngưng viết cho Tuổi Trẻ.
Một bữa đang đứng bán báo, Đ. ghé. Tôi quen anh qua Huỳnh Phan Anh, cả hai cùng dân nhà giáo, trước 1975. Lúc này anh làm cho tờ Tuổi Trẻ. Chuyện đôi câu, anh đưa tôi mớ tiền. Hỏi, tiền gì. Tiền nhuận bút, đưa trước. Hỏi, báo nào" Anh mỉm cười, báo hải ngoại!
Hóa ra là, lúc đó có chủ trương, nhà nước làm "báo chui", ở hải ngoại, do mấy quan cách mạng ở trong nước cầm chịch. Bài viết, theo Đ., tha hồ đập nhà nước, y chang báo phản động ở hải ngoại, chắc vậy! Khó mà nói được, đây là nhằm giải tỏa áp lực ở trong nước, hay nhân cơ hội tóm bắt thành phần chống đối.
Đúng thời gian này, một khách hàng quen sạp báo nhờ kiếm giùm bản dịch tiếng Pháp Tội Ác và Trừng Phạt của Dostoevsky. Kiếm được rồi, như để trả ơn, ông khách úp mở chìa cho xem một tờ Time được ngụy trang bằng cái vỏ bọc là trang bìa tờ Đại Đoàn Kết. Tôi hỏi mượn. Trong số báo có bài tiểu luận: Sách, những đứa con của trí tưởng (Books, children of the mind).
Bài trên Time là nhân vụ cháy một thư viện nổi tiếng ở Nga, hình như thư viện thành phố St. Petersburg. Thiệt hại, theo tác giả, không thể tưởng tượng, và "không thể tha thứ" được. Ông tự hỏi, tại sao lại xẩy ra một chuyện "quái đản" như thế. Rồi ông tự giải thích: cái nước Nga nó vốn vậy. Chỉ ở nơi đó mới xẩy ra những chuyện tréo cẳng ngỗng như thế. Ông dẫn chứng: thời gian thành phố bị quân đội Đức Quốc Xã vây hãm 900 ngày, cuộc vây hãm dài nhất lịch sử hiện đại; trong khi nhân dân thành phố lả vì đói và lạnh, tiếng thơ Puskhin vẫn ngân lên từ đài phát thanh thành phố cho cả nhân dân Nga cùng nghe. Nhưng theo ông, cũng chính nước Nga là quốc gia đầu tiên, dưới thời Nữ hoàng Catherine, đã đưa ra lệnh kiểm duyệt báo chí, và đầy văn nghệ sĩ đi Siberia... Đọc bài báo, lén lút, những khi vắng khách, nhìn những cuốn sách đang nằm trên sạp, tôi chợt nhận ra một điều: chúng đều mới tái sinh, từ đống tro than, là cuộc phần thư 1975. Cuốn Khách lạ ở thiên đường, của Cronin đang nằm kia, vốn đã được dịch. Nhiều cuốn khác nữa, chúng đang nhìn tôi mỉm cười: Hà, tưởng gì, chúng mình lại gặp nhau!
Tôi viết về nỗi vui tái ngộ, về cuộc huỷ diệt trước đó. Về những đứa con của trí tưởng, có khi cần phải được tẩy rửa bằng "lửa". Tuy đau xót, nhưng đôi khi thật cần thiết. Nhân đó, tôi viết về những tác giả đang nổi tiếng, và tiên đoán, một cuộc phần thư "thứ nhì" sẽ xẩy ra, do chính họ, tự nguyện, nếu muốn lịch sử văn học Việt Nam lại có một cuộc tái sinh!
Đ. nhận bài hí hửng mang về. Đâu hai ba bữa sau, anh trở lại, trả bài viết, lắc đầu: không được! Nhưng thôi, tiền tạm ứng, biếu anh luôn!
Hỏi, anh cho biết, ông chủ nhiệm của tờ báo "hải ngoại", sau khi đọc bài viết, đã đi gặp thủ trưởng, yêu cầu: nếu cho đăng những bài như thế này, phải cấp cho ông một "cái bùa hộ mệnh", chứng nhận nhà nước cho phép ông làm chủ nhiệm hoặc chủ bút một tờ báo "phản động"! Nếu không sau này, cả ông lẫn người viết đều đi tù!
Lệnh "miệng" thì được, bố ai dám thò tay ký một lá bùa "quái đản" như thế!
Đoàn Thạch Biền loáng thoáng nghe, chạy lại: để tôi, đăng trên "báo nhà", tờ Công Luận, trụ sở ở khu thuộc nhà thờ Đức Bà, đối diện Bưu Điện thành phố, nơi có mấy quán cà-phê, đám văn nghệ sĩ thường la cà, tụ tập. Nhưng rồi cũng lắc đầu. Người viết thử lại một lần nữa, với tờ Kiến Thức Ngày Nay, trụ sở lúc đó ở đường Trần Hưng Đạo. Tuần sau trở lại, gặp một anh thư ký trẻ măng, kính cận dầy cộm. Anh nhìn, ngạc nhiên ra mặt: ông là ai mà tôi chẳng biết" Chẳng nghe nói" Anh giải thích: Thường ở đây, bài chỉ cần đánh máy hai bản, một lưu, một đưa sắp chữ. Bài của ông, phải ba. Một đưa qua mấy anh bên Hội Nhà Văn thành phố, để mấy anh quyết định, nếu cần xin ý kiến thành uỷ! Các anh cho biết, cho đăng, nhưng phải sửa lại rất nhiều.
Tôi xin lại bài viết.
Bài sau đó, nằm trong tay một trong số những người thuộc ban chủ biên tờ Tuổi Trẻ. Anh nói: tôi giữ lại đây, hy vọng sau này có dịp đăng. Như một cách giúp đỡ, anh đề nghị, vì tôi có sạp báo, mỗi tuần anh nhờ tôi điểm hết những đầu sách mới ra, theo kiểu tóm tắt nội dung, không cần phê bình. Tòa báo sẽ cộng giá bán những cuốn sách, thành tiền nhuận bút.
Liền sau đó, tôi gặp lại một người bạn, trước là nhiếp ảnh viên cho một hãng tin nước ngoài. Qua anh, gia đình chúng tôi thực hiện chuyến đi dài, chạy trốn quê hương.
Viết lại câu chuyện, tôi bỗng nhớ những ngày làm việc tại nhà xuất bản nọ. Ngoài Nhật Tuấn, và Hoàng Lại Giang tôi có dịp trò chuyện, những người khác đều không biết tôi, và tôi cũng chẳng biết họ. Nghĩa là hai bên chẳng có chuyện gì dể nói. Nhớ thái độ cởi mở, quí mến, và thân thiện, của mấy người bạn trẻ. Những lời ân cần của anh phụ trách tờ Tuổi Trẻ (hình như tên Thức, nhưng không phải Nguyễn Đông Thức. Thời gian còn Kim Hạnh).

Những người viết Miền Nam trước 1975, ở lại, hình như đều viết trở lại. Tôi có lẽ là người đầu tiên được một nhà xuất bản nhà nước đề nghị tái bản, tuy là bản dịch, tác phẩm Mặt Trời Vẫn Mọc.
Trường hợp Sông Côn Mùa Lũ, của Nguyễn Mộng Giác, một tác giả hải ngoại, được xuất bản (tái bản) ở trong nước làm nhớ tới nhận định của ký giả người Mỹ David Remnick, như ở trên đã nói: Đâu cần phải biết ơn kẻ trộm!
Có người đặt vấn đề, về ý nghĩa một bộ sách như Sông Côn Mùa Lũ, bầy kế bên những tác phẩm thuộc dòng chính thống như Lênin toàn tập, Nhật Ký Trong Tù... Ở đây, theo tôi, nếu có sự thất thế, tủi nhục, thì phần lớn là thuộc về kẻ trộm, không phải người mất trộm!

Kẻ mất trộm, không chỉ là tác giả cuốn sách.

Nguyễn Quốc Trụ (http://www.saomai.org/~tinvan/unicode/index.html )

GHI CHÚ 1: Tôi bắt đầu điền đơn, và đột nhiên đúng lúc đó, tôi hiểu, và nói:
-Nếu tôi từ chối"
-Sẽ nóng lắm đấy.
Lại tù thôi, tôi chẳng ngán. Nhưng có điều ở đó buồn chết đi được.
-Tôi phải để bà con ra sao"
-Ghi là cháu.

(Solomon Volkov: Chuyện trò với Joseph Brodsky, NXB The Free Press, NY. 1998

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.