Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Mặt Trái Của Toàn Cầu Hóa

20/12/200600:00:00(Xem: 11831)

Mặt trái của Toàn cầu hóa

...Dân Việt tại Việt Nam có thêm việc làm trong khi dân Việt tại California phải đi tìm việc khác...

Trong vòng ba tuần nữa, Việt Nam sẽ chính thức và toàn diện bước vào sân chơi toàn cầu hoá khi trở thành hội viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và vừa đạt thỏa thuận với Hoa Kỳ về quy chế thương mại bình thường và vĩnh viễn PNTR. Mở đầu một thời kỳ mới với rất nhiều triển vọng vào năm tới, Việt Nam nên cần quan tâm đến những vấn đề gì thuộc mặt trái của hiện tượng toàn cầu hoá nói trên" Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu về đề tài ấy qua cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện.

Hỏi: Ngày 11 tháng Giêng tới đây, Việt Nam sẽ chính thức trở thành hội viên của tổ chức WTO sau khi đã đồng thời đạt thỏa thuận về quy chế thương mại bình thường và vĩnh viễn với Hoa Kỳ. Viễn ảnh 2007 vì vậy là rất nhiều triển vọng rộng mở cho Việt Nam.

Theo thói quen của Diễn đàn Kinh tế này, chúng ta thường báo trước những mặt tiêu cực của mọi biến chuyển kinh tế để những người trong cuộc, dù là quốc doanh, tư doanh hay thường dân, có thể chuẩn bị ứng phó. Lần này, chúng tôi xin đề nghị là chúng ta cũng sẽ trao đổi về mặt trái hoặc những rủi ro của việc toàn cầu hoá đó vào năm tới.

Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi vì vậy là Việt Nam nên tự chuẩn bị cho những gì sẽ xảy ra"

- Cũng theo tập quán của diễn đàn này là trình bày nghịch lý, tôi xin được nói ngay rằng Việt Nam sẽ chưa gặp hoặc thấy ra những rủi ro hay vấn đề trong sáu tháng trước mặt đâu.

Qua năm tới, tốc độ tăng trưởng của khu vực Đông Á có thể giảm sút vì thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, chủ yếu do chu kỳ suy trầm nhẹ tại Hoa Kỳ. Đó là bức tranh toàn cảnh. Trong khu vực đó, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn sẽ được duy trì ở mức gần 8%, khoảng 7,6 đến 7,8% như năm nay và không giảm sút như các xứ khác nhờ điều mà tôi xin gọi là “hiệu ứng WTO và PNTR”. Nhờ sự lạc quan từ hai bờ Thái bình dương - tại Việt Nam và từ thị trường xuất khẩu và đầu tư lớn nhất là Hoa Kỳ - thì sau vài tuần rà soát lại thủ tục để đôi bên cùng bơi trên một dòng nước, dù kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm nhẹ và nhập khẩu ít hơn, Việt Nam vẫn không bị ảnh hưởng nặng, hoặc nặng như các nước Đông Á khác. Một phần không nhỏ cũng do sự hiện hữu và tác động của cộng đồng người Việt sống tại Mỹ!

Hỏi: Trên diễn đàn này, ông hay cảnh báo về những thách đố Việt Nam có thể gặp sau khi gia nhập WTO. Lần này, ông lại có vẻ lạc quan! Ông có thể giải thích vì sao không"

- Trên diễn đàn này, quả thật là chúng ta đã liên tiếp cảnh báo về nổi khó khăn Việt Nam sẽ gặp, từ tình trạng thiếu thông tin khiến dân chúng và doanh nghiệp chưa biết rõ về luật chơi mới của WTO cho đến các vấn đề về lao động và nông nghiệp, hay những đòi hỏi về cải cách doanh nghiệp và ngân hàng, v.v.... Tuy nhiên, nghịch lý nếu có ở đây chỉ là vấn đề thời điểm. Ngay trước mắt, sự lạc quan vẫn là quy luật phổ biến và có nói thì cũng chẳng ai nghe. Sự lạc quan ấy sẽ thổi lên cả chục trái bóng đầu tư hay đầu cơ, kể cả trong thị trường chứng khoán hay bất động sản của Việt Nam. Sau đấy mới bị xối nước lạnh.

Hỏi: Chuyện xối nước lạnh ấy, có cách gì người ta thấy trước được không"

- Tôi xin mượn một ẩn dụ thật ra phổ biến trên các thị trường tài chánh, là khi thấy bà già hay gánh hàng xén cũng chơi “stock”, là ôm tiền mặt đầu tư vào thị trường chứng khoán như đánh bạc thì ta biết là giá cổ phiếu sẽ sụt thê thảm. Đấy là chỉ dấu tiên báo ít sai lắm! Sự hồ hởi của quần chúng ít thông tin về thị trường là hiện tượng phổ biến. Cho nên, qua năm tới, Việt Nam sẽ còn lạc quan và chỉ thấy thành quả của một thiểu số sôi nổi ở mặt ngoài nên chưa nhìn ra một làn sóng đáy đang thách đố chính phạm trù toàn cầu hóa.

Hỏi: Qua mấy kỳ trước, ông từng đề cập tới mặt trái của hiện tượng ấy khi phân tách phản ứng bảo hộ mậu dịch và bảo vệ nông sản tại các nước giàu khiến các xứ đang phát triển như Việt Nam có thể sẽ bị thiệt hại mà cứ tưởng rằng từ nay nhờ toàn cầu hoá mà mức sống của người dân nghèo sẽ được cải thiện. Vấn đề có nằm ở đó hay chăng"

- Thưa đúng như vậy và đây là vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm sau khi hồ hởi với WTO. Vấn đề ở đây là thời điểm và giác độ khảo cập, là cái phương hướng tìm hiểu nội vụ.

Hỏi: Ông có thể trước tiên trình bày bối cảnh của vấn đề này, sau đó phân tách những yếu tố quyết định rồi ảnh hưởng của chúng hay không"

- Hiện tượng toàn cầu hóa hay kinh tế nhất thể hoá trên thế giới thực ra chỉ trở nên toàn  diện từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, ngẫu nhiên lại trùng hợp với sự sụp đổ của Liên xô và mô thức kinh tế chính trị học Mác-Lênin. Kể từ đấy, ngoại thương và đầu tư tài chính đã bành trướng mạnh và thực tế nâng cao mức sống của người dân tại các nước nghèo, kể cả các nước Đông Âu hay Trung Âu. Biến chuyển ấy cũng trùng hợp với quyết định đổi mới của Việt Nam sau năm năm do dự chỉ đổi mới ở khẩu hiệu và biểu ngữ. Kể từ 1991, người ta ca tụng tự do mậu dịch và kinh tế thị trường rồi càng hồ hởi lạc quan vì hiệu ứng của cách mạng công nghệ tín học, của nền kinh tế tri thức, v.v... Thế rồi....

Hỏi: Thế rồi, nghĩa là ông đang nói đến làn sóng đáy, thế rồi chuyện gì đã xảy ra"

- Thế rồi người ta khám phá rằng thành quả của toàn cầu hóa lại không được phân phối đồng đều cho người dân ở hai thế giới xin tạm gọi là giàu và nghèo. Đây là một nghịch lý rất lạ có thể giải thích những vấn đề Việt Nam sẽ gặp sau này.

Kết quả của toàn cầu hoá là các nước nghèo càng tham dự thì mức sống người dân tại đấy càng sung túc hơn, một cách tương đối theo tốc độ gia tăng lợi tức. Điển hình là tại Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và cả các nước Âu châu trong khối Xô viết cũ lẫn các xứ Hồi giáo Trung Đông. Mạnh nhất và nhanh nhất là tại Đông Á với lợi tức đồng niên một đầu người tăng bình quân là hơn 6% một năm trong 10 năm qua. Hiệu ứng thịnh vượng ấy kéo theo một sự lạc quan phổ biến trên các thị trường chứng khoán và địa ốc của họ.

Nhưng, mặt trái của vấn đề là người dân tại các nước giàu lại thấy là họ nghèo đi. Hoặc lợi tức hay lương bổng không tăng mạnh như họ mong đợi hoặc đã thấy tại các xứ khác. Nói cho dễ hiểu là dân Đức hay dân Pháp thì thấy việc làm và lợi tức của họ đã chảy qua Ba Lan hay Hungary; dân Mỹ thì cho là họ mất việc và mất lương vì hãng xưởng dời qua Mexico, đầu tư tại Hoa lục hoặc đặt làm gia công tại Ấn Độ.... Nói cho gần gũi vớI cộng đồng Việt Nam thì nhiều shop may của người Việt tại Mỹ phải đóng cửa và nhà đầu tư vượt Thái bình dương về lập cơ sở sản xuất tại Việt Nam và xuất khẩu ngược về Mỹ. Dân Việt tại Việt Nam có thêm việc làm trong khi dân Việt tại California phải đi tìm việc khác, nhiều người bèn tìm cơ hội mới tại Việt Nam và kiếm ra tiền còn nhanh hơn!

Hỏi: Ông đang trình bày một hiện tượng rất lạ mà xét ra cũng có vẻ hợp lý. Nhưng, thưa ông, đấy là cảm quan ấn tượng của thị trường và xã hội hay là thực tế của kinh tế"

- Quy luật của kinh doanh là tìm nơi sản xuất ra rẻ nhất với lợi nhuận cao nhất. Doanh giới của thiên hạ hiểu rõ quy luật ấy và đạt lợi nhuận rất cao, có thể được thấy trên thị trường chứng khoán. Nhưng, mặt trái của loại quyết định kinh doanh phải nói là chính đáng ấy là tỷ trọng của lương bổng hay lợi tức của công nhân viên bị giảm sút khi doanh nghiệp đầu tư ra ngoài, hoặc đặt làm gia công ở nước ngoài, ở các nước nghèo mà có khả năng thỏa mãn doanh nghiệp. Người dân ở các nước nghèo có thêm việc làm và nếu lại có trình độ tay nghề cao – là trường hợp chưa xảy ra cho Việt Nam – thì họ còn góp phần nâng cao năng suất và lợi tức của doanh nghiệp đầu tư, từ các nước giàu.

Ngược lại, phần vụ lao động - tức là lực lượng công nhân viên tại các nước công nghiệp phát triển - lại chiếm một tỷ trọng nhỏ hơn so với tư bản. Lực lượng ấy không thấy lợi tức của họ gia tăng đáng kể. Ít ra gia tăng không nhanh bằng thành phần lao động của các nước nghèo. Đồng thời, cuộc cách mạng về công nghệ tin học còn khiến họ bị mất việc ngay trong lĩnh vực họ tưởng là có ưu thế cao là công nghệ thông tin. Họ tự thấy là nạn nhân của toàn cầu hoá. Vì sống trong các nước dân chủ - người ta không thể trở thành công nghiệp tiên tiến nếu không có dân chủ - họ bèn vận động vào chính trường.

Hỏi: Đây chỉ là hiện tưởng cục bộ tại một số quốc gia công nghiệp hay là trường hợp phổ biến trong các nước giàu"

- Tôi nghĩ là xu hướng này có thể thấy tại mọi nơi, kể cả từ quốc gia Tây phương ít vấn đề nhất và có kinh tế và tương lai gắn bó nhất với Á châu là Australia. Nó là trào lưu phổ biến tại Pháp, Đức, Nhật, Ý hay Tây Ban Nha và cả Hoa Kỳ. Tại nhiều nơi, họ nói đến “chủ nghĩa kinh tế dân tộc”, tức là hạn chế tự do đầu tư và mậu dịch để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Tại Hoa Kỳ, sau giai đoạn năm năm tăng trưởng ngoạn mục cùng các đầu máy kinh tế khác của thế giới, từ 2001 đến 2005, người dân bắt đầu than phiền là công nhân viên không được tưởng thưởng đúng mức, lợi tức gia tăng quá chậm vì toàn cầu hoá. Người ta nói đến mậu dịch công bằng, “fair trade”, thay vì mậu dịch tự do, “free trade”.

Chính làn sóng đáy ấy cũng góp phần đưa tới kết quả bầu cử tháng trước tại Mỹ mà vì có thói ghét Mỹ hoặc chỉ biết bọc xuôi theo truyền thông thuộc dòng chính lưu của Hoa Kỳ, nhiều người kể cả tại Việt Nam cho là vì vụ Iraq. Ngoài vụ Iraq, đảng Dân chủ còn thắng cử tại Mỹ vì phản ứng bảo vệ quyền lợi của lao động và nghiệp đoàn, với hậu quả tất yếu là bảo hộ mậu dịch và nghi ngờ toàn cầu hoá. Mà việc ấy không chỉ là hiện tượng đặc thù của Mỹ vì cũng đang và sẽ được thấy tại Âu châu, tại Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha.

Hỏi: Ông đang chấm vào một điểm bất ngờ mà nhức nhối của toàn cầu hoá. Theo như ông dự đoán thì tình hình sẽ ra sao và ảnh hưởng thế nào tới Việt Nam khi đang hồ hởi bước vào toàn cầu hoá"

- Chúng ta không thể biết chắc mọi chuyện về tương lai, nhưng căn cứ trên những biến đổi vừa qua, đây là những điều có thể xảy ra với xác suất cao trong năm tới, nhất là từ giữa năm trở đi, tức là sau khi Việt Nam hết reo vui vì viễn ảnh toàn cầu hóa.

Thứ nhất, vì kinh tế toàn cầu trong năm tới sẽ tăng trưởng chậm hơn do hiệu ứng của suy trầm nhẹ tại Mỹ, các nước sẽ cạnh tranh kịch liệt hơn để giành thị phần xuất khẩu. Kết quả là phản ứng bảo hộ mậu dịch sẽ chỉ tăng chứ không giảm giữa các nước.

Thứ hai, toàn cầu hóa sẽ bị khựng và các nước sẽ thỏa hiệp song phương hoặc từng nhóm với nhau để trao đổi và chia sẻ lợi ích. Hiện tượng kinh tế nhất thể hoá có thể bị chặn và thay thế bằng kinh tế tự do trong từng khối với hậu quả bất lợi cho các nước nghèo.

Trong từng khối đó, người ta có thể thấy lạm phát gia tăng, lãi suất được nâng cao và các thị trường tài chính chuyển động mạnh, lên rất nhanh mà sụt cũng mau. Thị trường chứng khoán tại Việt Nam mà hồ hởi sảng thì nhiều người sẽ phá sản.

Thứ tư, tại các nước giàu, thị trường sẽ bị chính trường chi phối mạnh hơn, doanh nghiệp bị kiểm soát kỹ hơn để hãm đà đầu tư vào các nước nghèo và bảo vệ quyền lợi của công nhân viên ở nhà. Vì vậy, họ thận trọng hơn khi đầu tư vào các nước nghèo như Việt Nam nếu môi trường nơi đó không thực sự thông thoáng và có lợi.

Nói chung, sự thăng trầm của thị trường hay tâm lý của tác nhân kinh tế chỉ là chu kỳ, có lúc triều cương, có khi thoái trào. Việt Nam lại gia nhập cuộc chơi ấy khi toàn cầu hóa có thể bị khựng, từ giữa năm tới trở đi. Dù là cuối năm, ta vẫn cần nói đến nghịch lý ấy.

Cảm ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.