Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Một Chuyến Đi - Phần Ii

03/01/200100:00:00(Xem: 3673)
Walter Benjamin, trong bài viết về Kafka (16), nhận xét: "điều lạ là, đàn bà nòi đĩ ở trong truyện Kafka không hề tỏ ra đẹp (these whorelike women never seem to be beautiful)... Hơn thế nữa, cái đẹp ở trong thế giới Kafka thường chỉ xuất hiện tại những nơi u tối nhất - ở giữa đám "tề nguỵ" (cho phép tôi liều lĩnh dịch chữ "accused persons" như vầy, cho đúng với "tinh thần bài viết"!)... Vụ Án cho thấy những thủ tục là vô hy vọng đối với tội nhân, vô hy vọng ngay cả khi họ có hy vọng để trắng án. Có thể chính cái gọi là vô hy vọng đã làm lộ ra cái đẹp ở nơi họ; chỉ có họ là được ông ưu ái (17). Benjamin nhớ lại một cuộc trò chuyện giữa Max Brod (18) và Kafka. "Tôi nhớ lại", Brod viết, "một lần trò chuyện với Kafka, bắt đầu bằng Âu-châu ngày-này và sự suy tàn của nhân loại. 'Chúng ta là những tư tưởng hư vô, những tư tưởng tự sát vốn đến từ cái đầu của Thượng Đế', Kafka nói. Điều này thoạt đầu làm tôi (Brod) nhớ tới ý niệm Gnostic (19), về cuộc đời: Thượng Đế chỉ là một ác thần. Thế giới: Sự Sa Ngã của Người. 'Ô, không phải đâu,' Kafka nói, 'thế giới chúng ta chỉ là một cơn xấu tính, bad mood, của Thượng Đế, một ngày xấu của người.' 'Vậy thì có hy vọng ở bên ngoài cái thế giới mà chúng ta biết'. Ông mỉm cười. 'Ôi, nhiều hy vọng, hằng hà sa số hy vọng - nhưng không cho chúng ta, dù chỉ một'. Những lời nói này đã tạo cây cầu tới những nhân vật thực là kỳ quái của Kafka: những kẻ độc nhất đã thoát ra ngoài cái vòng tròn gia đình, chỉ với họ may ra có thể có hy vọng. Những kẻ không phải là loài vật; ngay cả giống lai hoang (hybrids), hay nhân vật giả tưởng như Cat Lamb hay Odradek cũng không luôn; họ vẫn còn ở trong cái vòng tròn gia đình. Không phải ngẫu nhiên mà Gregor Samsa thức giấc như là một con bọ ở trong nhà bố mẹ, mà không ở một nơi nào khác, và cái con vật khác thường nửa mèo nửa cừu đó, là thừa hưởng từ người cha. (Một nhân vật) Odradek như thế là mối quan tâm của người cha trong gia đình. "Những kẻ trợ giúp", tuy nhiên, là ở bên ngoài vòng tròn này. (The "assistants", however, are outside this circle). (20).

Tôi trích dẫn, cả một đoạn dài Benjamin viết về Kafka, là để nhấn mạnh hai điều, có liên can đến Hương Cơ, đến chúng ta.

Thứ nhất: Hương Cơ, một nhan sắc của cố đô, "vầng trăng mười bốn", chỉ tuyệt vời "nhờ" tai nạn, và tiếng đàn của người nữ "tượng trưng cho cả một dân tộc", chỉ tuyệt vời khi nàng không còn có thể đàn được nữa, như lần đàn sau này...

Thứ hai: đã đến lúc chúng ta phải có một cái nhìn khác, về phi nhân.

Nguyễn Tuân, trong một truyện ngắn, cho rằng trăng mười bốn hơn trăng rằm: trong cái chưa chín có cái chưa tàn lụi. Nghe nói ở bên Nhật, có những cảnh chùa dở dang: cứ để dành một khoảng trống cho tín đồ nhập vào. Đây là sự khác biệt rất cơ bản giữa Đông và Tây. Charles Moore, trong lời giới thiệu tác phẩm Ca Ngợi Bóng Tối (21) của nhà văn Nhật Tanizaki, cho rằng đồng minh mãnh liệt nhất (the most powerful ally) của chúng ta (Tây phương) là ánh sáng. Dẫn Louis Kahn, một nhà kiến trúc: 'Mặt trời chẳng bao giờ hiểu được nó tuyệt vời như thế nào, cho tới khi nó ngã xuống bức tường của một tòa nhà'; do đó việc xây nhà dựng cửa (là một trong những đòi hỏi cơ bản, đòi hỏi trú thân, nối kết, quần tụ với nhau, cho dù theo kiểu ăn xổi ở thì với nơi chốn thuộc về con người, hay con người thuộc về nó, nhưng) đối với chúng ta, cái nhà phải tương hợp với mặt trời, đồng minh số một, phải giúp đồng minh ban ánh sáng. Và ông cho rằng Tây phương đã "tá hoả" khi nghe chuyện ca ngợi bóng tối và bóng đen; và đã sững sờ thích thú khi nhận ra rằng, nhạc sĩ, ở đâu đâu cũng thế thôi, tạo nên những âm thanh của họ, là để nắm bắt sự im lặng, và kiến trúc sư, khi tạo ra nhà cửa, là để ôm lấy quãng không.

Thành thử cái thuyết tài mệnh tương đố mà Nguyễn Du vin vào đó để làm khổ cô Kiều, là nằm trong truyền thống Đông phương: không phải ông Trời ghen cái đẹp, mà là: ông Trời chỉ đẹp, khi té xuống, khi nhập vào một con người luân lạc như Kiều. Với Hương Cơ của Trúc Chi, tiếng đàn, trong chín phần hư cần một phần thực, và phần thực này, chỉ có cuộc đời - cuộc nồi da nấu thịt, củi đậu đun hạt đậu, chúng ông "chơi" chúng mày... - mang lại cho nó thôi.

Có lần, người viết nhắc tới nữ văn sĩ người Nga Tatyana Tolstaya, và bài viết Những Thời Ăn Thịt Người qua đó, bà cho rằng cái chế độ toàn trị, cái tư duy chuyên chế không phải tự trên trời rớt xuống, mà đã nhô lên từ những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Nga. Cũng theo tinh thần đó, người dân Đức bây giờ đã hiểu ra một điều: Hitler là một phần của họ, dù có muốn rũ bỏ cũng không thể được.

Cuối thế kỷ, tờ Time lo sửa soạn danh sách một trăm nhân vật nổi cộm, những người để dấu ấn nặng nề lên thế giới, và lên cách sống của chúng ta, ngay cả trong tương lai, từ đó lọc ra Nhân Vật của Thế Kỷ (The Person of the Century). Tờ báo mời độc giả tham gia, và đưa ra một danh sách đề nghị, với những tên tuổi như: Churchill, Roosevelt, Stalin, Lenin, Henry Ford, Bill Gates... Gordon A. Craig, khi điểm cuốn "The Hitler of History", tác giả John Lukacs (279p. nhà xb Knopf) cho rằng, theo Lukacs, người xứng đáng hội đủ điều kiện nhất do tờ báo đưa ra, phải là Adolf Hitler.

Thế kỷ của chúng ta, thế kỷ của bạo động; Hitler chính là hiện thân của nó, kể từ ngày ông kéo nước Đức ra khỏi Hội Nghị Tài Giảm Binh Bị, và Hội Quốc Liên, vào năm 1933, cho tới khi ông ta chết, giữa những hoang tàn đổ nát của Bá-linh, mười hai năm sau đó. Cuộc chiến tranh lớn nhất của thế kỷ sẽ không thể hiểu được, nếu thiếu sự hiểu biết về Hitler, vai trò của ông khi phát động nó. Trong một nghiên cứu, "Anmerkungen zu Hitler", cách đây 20 năm, Sebastian Haffner viết: Thế giới hôm nay, cho dù chúng ta yêu, hoặc ghét nó, là tác phẩm của Hitler. Không có Hitler, không có vụ chia cắt nước Đức và Âu châu;... không có Hitler sẽ không có Israel; không có chuyện xóa bỏ thuộc địa; ít ra cũng không nhanh như vậy; không có chuyện "đứng vùng lên, gông xích ta đập tan" tại Á châu, Ả rập, Phi châu Da đen; Âu châu vẫn ở thế "thượng phong". Câu nói "Chúng ta chưa xong đâu, với Hitler", của sử gia Đức Gerhard Schreiber, bây giờ càng thực hơn, so với thời điểm 1980, khi nó được viết ra.

Cuốn sách giá trị đầu tiên, theo Lukacs, là một tiểu sử về Hitler, của Konrad Heiden (Zurich, 1936). Do sớm sủa, nó không cho chúng ta biết, về chế độ độc tài, nhưng có nhiều thông tin chính xác, chi tiết, về những năm đầu đời, cho tới khi Hitler lên cầm quyền. Vì quá sớm nên cuốn sách cũng chưa đề cập đến một Hitler "bịnh", hay là hiện thân của cái ác, như những cuốn tiếp theo sau. Heiden cũng phê bình thẳng thừng, những huyền thoại gán cho Hitler. Và Lukacs cho rằng cuốn sách vẫn còn có giá trị, nhất là vào lúc này, khi tác giả của nó tin rằng "Hitler đã trở nên thực sự nguy hiểm, vì đã bị địch thủ, và đồng minh nhất thời, đánh giá quá thấp, nói rõ hơn, đã coi thường ông."

Sau khi nhìn lại một số sách vở, một số tác giả, Lukacs đã giữ lại hai quan điểm, mang tính tương đối và khôi phục (rehabilitation); qua đó, ông tin rằng, sau 50 năm chúng ta nhận ra một điều, Hitler đa dạng, rắc rối hơn nhiều, so với con người một chiều, một kẻ cơ hội, như người ta vẫn thường nghĩ về ông.

Gordon A. Craig cho rằng, cái nhìn của chúng ta về quá khứ không bao giờ "chỉ là một cái nhìn thường trực, hoài hoài, bất biến". Nhìn lại (revision) là một phần của tiến trình lịch sử, không thể tránh né được, theo bước đi của thời gian, và theo sự tích luỹ những tri thức, hiểu biết mới. Nó còn được dẫn dắt bởi cơ may. Việc thăm viếng nghĩa trang Waffen-SS, tại Bitburg, vào năm 1985, của Tổng thống Reagan đã "đủ" để khuyến khích niềm thống hối, ân hận tại Đức, đưa đến những cuộc bàn luận về Nazi sau đó.

Một trong những hệ luận rút ra được, đó là, người ta đã không công bằng, khi lọc riêng ra nước Đức, để mà chê trách: hệ thống Xô-viết đâu có chịu thua Quốc xã, về sự tàn nhẫn, độc ác" Tại sao người ta bỏ qua thái độ bài-Bolshevik, của Hitler" Thời điểm nào, ông trở thành "the Hitler of history", hay rõ hơn, khi nào thì tư tưởng của ông thăng hoa, con người của ông tới độ chín mùi, trưởng thành"

Khía cạnh ăn khách, bình dân của ông cũng đáng được lưu tâm. Nước Đức của Hitler thường được coi như là một quốc gia toàn trị hay cảnh sát trị, điều này chỉ tới một mức độ nào đó. Hitler họa hoằn mới dùng từ toàn thể, "total", và phủ nhận ông ta là nhà độc tài. Tinh thần quốc gia nở rộ, khi Hitler lên cầm quyền; nhân dân Đức có chung cảm giác, đây là lúc để tự hào về chính chúng ta, về vai trò của nước Đức trên thế giới, như diễn văn của Hitler vào năm 1934: Tại Đức, lưỡi lê chẳng làm cho dân chúng khiếp sợ. Đây là một chính quyền được hỗ trợ bởi niềm tin tưởng của toàn dân... Đối với họ, tôi không bị rằng buộc bởi bất cứ một cá nhân nào. Tôi trưởng thành từ dân chúng, và tôi luôn ở với họ, tôi trở về với họ. Niềm hãnh diện của tôi, đó là, tôi biết rằng, không một chính khách nào trên thế giới có đủ quyền hơn tôi, để mà tuyên bố rằng ông ta là người đại diện cho dân chúng." Hay như diễn văn vào năm 1923: Vì sự giải phóng của dân chúng, (chúng ta) cần (một điều gì đó) hơn cả một chủ trương kinh tế, hay một nền kỹ nghệ, nếu dân tộc trở thành tự do, điều nó cần, đó là niềm tự hào, quyền năng của ý chí, sự thách đố, hận thù, hận thù, và một lần nữa hận thù". Khi hô hào hận thù, Hitler biết ông tạo nên kẻ thù là những quốc gia láng giềng, và luôn cả thế giới, nhưng ông biết chắc chắn một điều, dân chúng Đức ủng hộ ông. Lukacs, theo Craig, có vẻ đã chọn Hitler là "Nhân Vật của Thế Kỷ", khi viết: Ông ta có thể được coi như một nhà lãnh đạo cách mạng bình dân nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Cần nhấn mạnh khía cạnh bình dân, bởi vì Hitler không thuộc về thời đại dân chủ, quí tộc. Không thể so sánh ông ta với một Caesar, hay Cromwell, hay một Napoleon. Hoàn toàn khác biệt, hơn hẳn họ, ông ta có thể đem đến nghị lực cho đa số người dân, hầu hết là có học, thuyết phục họ đi theo ông, vì những thành quả gây kinh ngạc, hay những cố gắng khác thường, ông làm cho họ tin rằng họ đứng đây là để thách đố với cái xấu, với điều ác. Rồi cuộc chiến, và thất trận sau đó đã đem đến chua xót, cay đắng; và Hitler đã được coi như quỷ dữ, phản-Ky tô (anti-Christ), một hiện tượng vượt ra ngoài tri thức, hiểu biết của con người, rằng con quỷ (sau đó) biến mất vào trong những đám mây siêu hình. Sự thối lui vào một... địa ngục siêu hình được coi như một hình thức khuây khỏa, như thể người ta không muốn chấp nhận phần trách nhiệm "của mình" trong "việc này".

Đã có nhiều lý do tốt đẹp đưa đến hy vọng, tin tưởng, rằng quan niệm phủi tay chua xót nói trên đã mất dần. Nếu không, người ta không thể giải thích được thái độ của dân chúng Đức, đối với những tác giả như Daniel Goldhagen, khi ông cho rằng, những tội ác của Hitler đã được thực hiện đúng theo ước muốn của dân chúng Đức. Điều này cho thấy, tiến trình lịch sử hóa Hitler đã có những thành quả tốt đẹp: coi Hitler như là một phần của lịch sử nước Đức - không phải là một sức mạnh không thể giải thích nổi, ở bên ngoài lịch sử. Những người Đức vẫn còn cảm thấy khó khăn chấp nhận Hitler như là một phần của quá khứ của họ, sẽ chẳng thế nào cảm thấy có được một chút cơ may hạnh phúc, về một hình ảnh Hitler tái lâm, một thứ Diocletian (22), một kiến trúc sư bất hạnh cuối cùng của một trật tự vương giả.

(Hiểu theo tinh thần trên, Tạ Chí Đại Trường trong một bài viết, đăng trên Văn Học mà tôi không còn nhớ số mấy, tháng mấy, đã thật có lý khi cho rằng, Hồ Chí Minh là một "ông vua bất hạnh nhất" của chế độ cung đình ở Việt Nam).

Ngày mai là ngày hôm qua, đó là câu mở đầu cuốn tiểu thuyết Gặp gỡ ở Westphalie của nhà văn Đức, Gunter Grass. Sau Cuộc Chiến Lớn 1939-45, những gì còn lại của nước Đức của ông chỉ là những điêu tàn, và một nền văn chương đã phát sinh từ đó: văn chương của những mảnh vụn, và phản ứng của một nhà văn trước những mảnh vụn đó: Làm thế nào, sau Hitler, những ngòi bút Đức viết lại sự sống, Vũ Trụ Luận" Làm thế nào con chim phượng hoàng thò cái mỏ của nó ra khỏi biển lửa" Heinrich Boll, Nobel văn chương, nhà văn người Đức cùng thời với ông, đã viết: Chúng ta chẳng có bất cứ lý do gì để mà hổ thẹn về một nhãn hiệu như thế... Chúng ta nhìn sự vật như nó là, với con mắt trần tục, thường không hoàn toàn khô, và cũng không hoàn toàn ướt, nhưng mà là ẩm, bởi vì đừng quên, từ La-tinh diễn tả ẩm là humor, diễu cợt*. Nếu Grass không thể chọn một văn phong nào khác, ngoài văn phong ẩm (theo tôi có thể giải thích văn phong của Phạm Thị Hoài trong Marie Sến), ông cũng không thể nào chọn lựa những đề tài khác: những đề tài của tôi đã có sẵn, đã được "chỉ định": chế độ Nazi, hậu quả của nó (theo như người viết được biết, đề tài, nhân vật trong Marie Sến, đều "thực" cả, tác giả của nó không hề hư cấu ra những nhân vật như thế).

(Làm thế nào hoa sen trong biển lửa" Làm thế nào nàng Hương Cơ lại có thể đàn"...)

Văn phong của Trúc Chi không hẳn mang tính khinh bạc của Nguyễn Tuân (sau một cuộc chiến đó, khó mà còn có thể khinh bạc), nhưng mà là "ẩm", theo nghĩa của Heinrich Boll. Cái kiểu nhớ khói tỏa lên từ những đám lá nhà ai đang đốt xưa kia, rồi buồn vì nhân sinh ở đây giờ này không diệu nghệ với con người. Hay như đoạn trò chuyện với vợ, nhân một câu chúc tết hơi sớm của người bạn:
-Hôm nay là mấy ta rồi"
-Mới hăm mấy tháng mười.
-Sớm hơn vua Quang Trung hai tháng.
-Anh nói chi"

Đoạn đối thoại làm tôi liên tưởng tới Nguyễn Tuân, khi "bị" vợ thỏ thẻ có bầu, và lần này có thể sinh đôi:
-Đại bất hạnh!
-Anh nói gì"
-Không!

Như vậy là chúng ta đã từng san sẻ...

Chúng ta còn san sẻ những kỷ niệm về đất Phật.

Ngay khi đọc ông, về những kỷ niệm xứ Phật, tôi cứ tự nhủ, cái giọng văn này có thể là đã được lọc, rửa, bằng khí hậu, con người, thời tiết Lào. Hình như con người của tôi cũng đã trải qua những lọc rửa như vậy, khi chạy trốn quê hương. Dùng một hình ảnh 'thô bạo' của xứ văn minh, đối với một con người từ những xứ mọi rợ tới, nhân viên y tế có thói quen khử trừng, trước khi cho vô đất nước của họ: hình như đó là ý của Phật khi chọn lựa cho tôi một đất tạm.

Tôi vốn không có thói quen cất giữ báo Việt, thí dụ tờ Văn Học (Cali). Mỗi lần muốn viết, tôi đi tìm ông để đọc (để hỏi) lại, nhưng...

Đúng ra, tôi đã cố từ bỏ thói quen đó. Bởi vì muốn giữ cũng không được: cứ nhìn ánh mắt dò hỏi, hoặc ra vẻ ngần ngại, của một vị khách tình cờ gặp gỡ, là lại tắc lưỡi, thôi ông cứ lấy đi, khi nào cần 'sẽ xin thưa lại...'

Lần đọc ông viết về một ông bạn tá túc tại một cảnh chùa nơi đất Phật: tôi cũng đã từng tá túc ở một cảnh chùa, chùa Long Vân, Paksé, trong những ngày chờ đợi vượt sông Mekong. Ông bạn của ông sau ở lại luôn với chùa, với Phật; còn tôi, sau đó nhập vào đám người cùng số phận, trong một trại cấm Thái-lan...

Bức hình Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu mà tôi đã đem theo cùng với tôi suốt cuộc chạy trốn quê hương, là từ ngôi chùa Long Vân ở Paksé. Không hiểu ông có biết nhà thơ tu sĩ Tuệ Sĩ vốn sinh ra và trưởng thành tại Lào. Cho tới lúc tôi vượt sông Mekong, gia đình, thân nhân của nhà thơ vẫn sinh sống tại đó.

Tôi cứ lẩn thẩn so sánh những nhận xét của ông, với của tôi, về xứ Phật. Và tôi cũng thực sự tin rằng, ông còn giữ riêng cho mình, nhiều chi tiết đặc biệt về người về cảnh.

Cứ mỗi lần nghĩ đến đất Phật, tôi lại muốn san sẻ với ông.

Trong chuyến 'hành phương Nam', tới Tiểu Sài-gòn, tôi gặp hai người bạn văn mà có thể chúng tôi đã từng gặp nhau mà chẳng hay. Trúc Chi, và Tạ Chí Đại Trường. Ông sử gia này học cùng năm với tôi, cùng ban B, chỉ khác lớp, tại trường Chu Văn An, khi đó còn ăn nhờ ở đậu bên cạnh trường Pétrus Ký; miếng đất sau trở thành Trung Tâm Học Liệu. Dân toán mà mê sử; còn tôi, văn chương. Hay là người ta cứ phải mê toán đã, rồi muốn mê gì thì mê: con số tuyệt đối, bài thơ tuyệt đối, trang sử tuyệt đối, là một"

Ôi về già, mà làm sao còn hăng say, và hết lòng với nhau như vậy: Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được, ông vội vàng bỏ ra về, ngay khi vừa gặp, để lục lọi cho được một cuốn sách cho tôi. Cuốn này là cuối cùng còn lại trong nhà; không phải để tặng, mà chỉ ký tên trang đầu: cuốn sách do lỗi kỹ thuật, thiếu một trang.

Đó cũng là lần đầu tôi gặp vợ chồng ông bạn văn đã có nhã ý cho tụi này tá túc. Riêng ông chồng, tôi đã có dịp 'đụng độ', trên trang giấy.

Kỷ niệm về một lần đụng độ, tôi quên sạch. Cho tới khi ngồi tại nhà một ông bạn họa sĩ, với ông bạn mới quen, Vũ Huy Quang, vừa là tài xế tắc-xi vừa là một khám phá tuổi già đối với tôi, về một tình bạn chẳng cần quen biết trước. Ôi quá nửa đêm, nghĩa là đã sang ngày hôm sau, ông bạn này cố níu kéo đêm hôm trước, bằng cách tới tận cửa, réo dậy đi mày, đi uống bia với tao. 'Ông bà ấy ngủ rồi...'. Chơi với Vũ Huy Quang là nhiều lúc bực mình lắm đấy, hắn có thể tới 'mộ' mình dựng dậy, nếu cần, chỉ để đi uống với nhau một lon bia; ấy là tôi suy diễn nỗi bực rất đáng yêu, về người bạn vừa mới gặp đã xoắn xuýt lấy nhau này, qua lời cảnh cáo của vị chủ nhà.

Khi nghe tôi nói hiện đang ở tại... ông bạn họa sĩ la lớn: Quên rồi hả, hồi xưa mày "đập" anh ta nặng lắm mà" Tôi ngớ người, không nhớ là đã đụng độ với ông bạn chủ nhà trong trường hợp nào. Ôi chao, lần tới Cali đầu tiên lại là lần phải đối diện với quá khứ, những ngày tuổi trẻ hăng máu Đông Ky-xốt, bạ ai cũng đập, chẳng cần có lý do gì hết. Hoá ra lần này phải trả cả vốn lẫn lời!

Thấy mặt tôi buồn so, ông bạn họa sĩ lại còn gật gù: "Phê bình" là phải vậy! Mũi tên đặt trên cây cung, phải bắn thôi!

Sau đó, tôi hỏi lại ông bạn. Ông xác nhận có, nhưng đó là một bài phê bình thực sự, không có ác ý. Thực sự, nhưng sai, theo ông. Qua bài viết, tôi cho rằng ông không thể viết truyện dài, nhưng ông là tác giả của hai thiên truyện dài tại hải ngoại.

Trong cái "nghiệp" phê bình của tôi, tôi đã đụng độ với quá nhiều người. Riêng trường hợp ông bạn, tôi quên, nhưng rất nhiều lần tôi nhớ. Có khi vừa nhớ, vừa cầu mong, hy vọng rằng bài phê bình của mình có thể có ích nào đó. Ngay cả trường hợp ông bạn, tôi cứ tự hào một cách thật tếu là, biết đâu, nhờ lời nói "khích" của tôi, ông đã để lại cho đời hai đại tác phẩm.

Mà có thể thế thật! Thí dụ như lần đụng độ với Nguyễn Thị Hoàng, khi bà xuất bản cuốn Vào Nơi Gió Cát. Tôi đang giữ mục điểm sách cho phụ trang Văn Học Nghệ Thuật của nhật báo Tiền Tuyến. Trang báo do Thanh Tâm Tuyền phụ trách (sau ông giao lại cho Huỳnh Phan Anh và tôi; Huỳnh Phan Anh, sau bực bội với thằng bạn "láu cá' Bắc-kỳ, cũng dãn ra). Nguyễn Thị Hoàng vừa thành lập nhà xuất bản, làm một tuyển tập truyện ngắn, trả tiền nhuận bút rất xôm, có thể nói là cao nhất, so với các nhà xuất bản khác. Tôi cũng được mời tham gia. Ngoài tiền nhuận bút còn một bữa ăn linh đình, như để giới thiệu tuyển tập truyện ngắn và nhà xuất bản. Rồi tới Vào Nơi Gió Cát.

Cuốn truyện quá tệ, nhưng chưa tệ hại bằng bài điểm sách. Sau khi tóm tắt nội dung phần đầu, tôi kết luận: phần đầu cuốn sách, theo tôi thật là khủng khiếp! (Chấm xuống dòng đàng hoàng!).
Và sự khủng khiếp cứ thế kéo dài cho đến hết cuốn truyện.

Chưa hết, người phụ trách trang báo lại tỏ ra rất thích từ "khủng khiếp". Ông cho đăng, dưới cái tít: Văn Chương Khủng Khiếp.

Nguyễn Thị Hoàng hết sức giận dữ về bài viết. Nhưng thật khác người, bà trả lời sau đó bằng tác phẩm Cuộc Tình Trong Ngục Thất. Đây là một tác phẩm tuyệt vời nhất, nói "không" về cuộc chiến, theo tôi. Hình ảnh một người đàn bà, một người vợ tất tả chạy ngược, chạy xuôi, trong địa ngục để cứu chồng. Một ấn bản khác về chàng Orphée. Tôi lại là người được cả hai người, là Thanh Tâm Tuyền và Mai Thảo, trao cho vinh dự viết bài điểm sách, trên tờ Vấn Đề: Nếu Dostoevsky muốn kéo Thượng Đế xuống cho ngang bằng con người, ở đây Nguyễn Thị Hoàng muốn kéo địa ngục lên ngang tầm trái đất...(23)

(Riêng về ông bạn, xin cho tôi nợ một chuyến đi, tới đất Phật, vượt dòng Cửu Long, vào Trại Cấm Thái Lan...).

Nguyễn Quốc Trụ

Chú thích:
1. Thơ John Donne, Hemingway dùng làm tựa đề Chuông Gọi Hồn Ai:... any man's death diminishes me, because I am involved in Mankind; And therefore never send to know for whom the bell tolls; It tolls for thee (Meditation XVII). Tạm dịch: Bất cứ một người nào mất đi là tôi mất đi một phần, bởi vì tôi mắc míu với Nhân Loại; Do đó đừng hỏi chuông gọi hồn ai; Chuông gọi hồn anh đó.
2. Mượn chữ của George Steiner; trong Tuyệt Bi, Absolute Tragedy, ông coi con người là những "unwanted intruders on creation": chui vào đời chỉ để uống rượu phạt!
3. Một tạp chí văn học, xuất bản tại Cali, Hoa-kỳ.
4. Địa điểm những nhà văn nhí gặp gỡ, nói chuyện văn chương!
5. She Stoops to Conquer (1773): kịch của nhà văn Ái-nhĩ-lan, Oliver Goldsmith (1728-74).
6. Chữ của G. Steiner trong Tuyệt Bi nhân nói về Shakespeare.
7. Nhân sinh đắc ý tu tận hoan: Cao Bá Quát trích dẫn Lý Bạch, trong bài Tương Tiến Tửu.
8. Sực nhớ chữ cổ nhân bỉnh chúc, thơ Cao Bá Quát (Bỉnh chúc dạ du: Đốt đuốc chơi đêm).
9. Nhan đề một tác phẩm của Nhất Linh.
10. Sợ.
11. Novels dictated by crickets, trong Other people's trades (Bản tiếng Anh của Raymond Rosenthal, nhà xb Summit Books, 1989).
12. Nhan đề một chuỗi thơ của Joseph Huỳnh Văn.
13. Tạp chí Văn Học, Cali, số tháng Giêng 1998.
14. Hương Cơ, cô gái của sông Hương, xứ Huế, theo Trúc Chi, là người Nam, tên Khương. Không hiểu tác giả có biết "mật ước" của các vị vua nhà Nguyễn: Nên chọn "Đệ Nhất Phu Nhân", người Miền Nam, nếu được người đẹp Gò Công, là nhất. (Đức Từ Dụ, Hoàng hậu Nam Phương đều là người Nam).
15. Beauté plus pitié: Trong bài viết của Nabokov về Hóa Thân, in trong phần phụ lục, bản tiếng Pháp, tủ sách bỏ túi).
16. Franz Kafka: Nhân ngày giỗ thứ mười, trong Illuminations, Essays and Reflections, Hannah Arendt giới thiệu, nhà xb Shocken Books NY, ấn bản bìa mỏng in lần thứ nhất: 1969
17. Tôi đi ngang xóm chị em như đi ngang nhà người yêu thương của mình (Kafka, nhật ký 1910; Kundera trích dẫn, trong Những Di Chúc Bị Phản Bội, bản tiếng Pháp, nhà xb Gallimard, 1993. Câu này đã bị Brod kiểm duyệt, cắt bỏ).
18. Bạn thân của Kafka, người đã không theo di chúc yêu cầu huỷ bỏ tác phẩm, của bạn mình.
19. Tôn giáo thần bí.
20. Người viết bài nhấn mạnh.
21. In Praise of Shadows, bản tiếng Anh của Thomas J. Harper và Edward G. Seidensticker, nhà xb Jonathan Cape, London, 1991.
22. Diocletian (245-313): Hoàng đế La-mã (284-305), vào năm 303 đã khởi xướng những vụ bách hại tín đồ Ky-tô.
23. Hương Cơ của Trúc Chi làm nhớ tới một Điêu Thuyền của Miêng (trong tuyển tập những nhà văn hải ngoại). Làm nhớ tới "người đàn bà ngoại tình" của Miêng trong Biển. Từ đó suy ra, nhân vật nữ, tượng trưng một giải thoát khả hữu cho cuộc nồi da nấu thịt, cho thế kỷ đọa đầy. Hãy tự hỏi, tại sao nhân vật tỏ mắt độc nhất trong Mù Lòa của José Saramago, lại là nữ" Hãy tự hỏi, những Thanh của một tiếng hát làm ấm Bếp Lửa (Thanh Tâm Tuyền), những Phương của những Nỗi Buồn Chiến Tranh (Bảo Ninh)... Hãy nhớ lại một A Châu, của riêng một Tiêu Phong. Em hy sinh không phải vì đại cuộc, không vì muốn giải oan cho mối hận thù về một kẻ Đại Ác... Nhà họ Đoàn có môn Lục Mạch Thần Kiếm, nếu anh giết Đoàn Chính Thuần, họ sẽ giết anh. Em hy sinh là vì anh đó!

* Y khoa cổ điển Hy-lạp phân con người thành bốn loại khí chất. Humor đưa đến từ "humide", ẩm ướt, hay (ở đây là) rướm lệ. Thành thử văn phong của những tác giả Đức như Boll hay Grass, là bi-hài theo nghĩa của G. Steiner, trong Tuyệt Bi: Hữu cơ là bi hài, ở nơi chắt chiu nhất của nó (The organic is tragi-comic, in its very essence).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Hôm thứ Hai (25/01/2021), thượng viện Mỹ đã phê chuẩn bà Janet Yellen là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo Bộ Tài chính.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cảnh báo nguy cơ "Chiến tranh Lạnh mới" nếu lãnh đạo thế giới không gác lại đối đầu khi phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới.
Một đám cháy đã bùng phát tại Viện Huyết thanh ở bang Maharashtra, Ấn Độ, nơi đang sản xuất hàng triệu liều vaccine Covid-19.
Tiến sĩ Anthony Fauci, cố vấn y tế của Tổng thống Mỹ Joe Biden, đã lên tiếng cảm ơn WHO vì dẫn dắt nỗ lực ứng phó Covid-19, trái ngược với chỉ trích thời ông Trump.
Loạt sắc lệnh được ký nhanh chóng ngay trong ngày làm việc đầu tiên của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Nhà Trắng nhằm thực hiện những lời hứa tranh cử của ông.