Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tập ‘thiền Công’ Để Khai Ngộ Và Mạnh Khỏe

17/07/200600:00:00(Xem: 2351)

- Chu Tất Tiến.

(Lời nói đầu: Trong bài "Tập Thở để Chữa Bệnh", người viết đã trình bầy hai thức "Bình Sơn" và "Cung Tận" của phương pháp tập Thiền Công  và đã nhận được rất nhiều lời chia xẻ rất cảm động, đặc biệt  từ nhiều Tiểu Bang xa xôi như Pensylvania, Ohio, Philadelphia, Texas, và Florida... Xa hơn nữa là hai "e-mail" từ Việt Nam,  mong đuợc nghiên cứu sâu hơn về Thiền Công. Tuy nhiên, cũng có một ngộ nhận về Thiền Công, một phỏng dịch từ  chữ  Yoga, do nguời viết trình bầy, với Thiền hay Zen là một phuơng pháp tu tập hoàn toàn khác.  Bởi vậy, bài này sẽ trình bầy một vài điểm khác nhau căn bản giữa Thiền Công (Yoga) và Thiền (Zen).

Thiền Công hay Yoga phát xuất từ Ấn Độ khoảng 6 đến 7 ngàn năm trước, tiếng nguyên thuỷ theo Sanskrit là"yuj" có nghĩa là kết hợp giữa linh hồn cá nhân (atma) và tinh tuý vũ trụ (paramatma). Khởi thủy, Thiền Công được lập ra với mục đích đi tìm sự Khai Ngộ (Enlightenment), sau đó đã chuyển hóa thành nhiều môn phái Yoga khác. Mỗi môn phái lại có những tư tuởng chỉ đạo khác nhau như  Karma Yoga chú trọng vào sự Từ Bỏ Bản Ngã,  Bhakti Yoga chú tâm về sự Dâng Hiến, Jnana Yoga, Raja Yoga chỉ quan tâm về Kiến Thức... Những thế, thức tập luyện cũng khác nhau, có thể bất động, hay động, mỗi thế, thức lại biến hoá thành nhiều kiểu dáng, khó có thể đếm đuợc hết mọi loại kiểu, thức. Sau khi được truyền qua các quốc gia khác, nhất là Tây Âu, Thiền Công tập trung nhiều về Chữa Bệnh, Điều Hòa Tâm Linh, tìm ra sự An Vui cho cá nhân một khi tâm thân hợp nhất, khỏe mạnh, và hạnh phúc.

Như vậy, Thiền Công hay Yoga hoàn toàn khác với Thiền hay Zen đặt trọng tâm vào sự suy tuởng có tính chất tôn giáo, nguyên thuỷ khai sinh từ Ấn Độ với tên gọi từ tiếng Sanskrit: "dhyàna",  triển khai tại Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ 6 duới thời Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) cũng đồng thời là Tổ Sư cuả môn phái Thiếu Lâm. Vào thế kỷ thứ  9, Thiền được truyền bá sang Đại Hàn và được gọi là Seon. Thế kỷ thứ  12, Thiền được phát triển ở Nhật bởi Tổ Sư Myòna Eisai sau khi Ngài đến Trung Hoa rồi về nuớc, lập ra hệ phái Linji, còn gọi là Rinzai. Ở Việt Nam, vào khoảng cuối thế kỷ 16, Thiền Sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) nguời Ấn Độ đến Việt Nam phổ biến về Thiền, và dưới thời Ngài Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền đuợc phát huy mạnh mẽ nhất cho đến ngày nay. Trên thế giới, hiện tại, những hình thức về Thiền rất đa dạng. Ngoài Tu Thiền (Thiền Tông),  những nguời thực tập Thiền còn thể hiện Thiền trên hội hoạ (Tranh Thiền), thi ca (Thơ Thiền), cắm hoa (Thiền Hoa), trang trí (vuờn Thiền), hay kiến trúc theo Thiền... Những vuờn cỏ với sỏi trắng đuợc vun theo những đuờng nét đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa cuả Nhật nổi tiếng khắp thế giới và đuợc hàng triệu nguời từ Đông sang Tây rất hâm mộ.

Vì sự đa dạng về Thiền như thế, nguời viết đã phiên dịch tiếng Yoga thành Thiền Công (Thiền = Tập trung tư tưởng, Công = sự vận dụng sức lực tinh thần hay vật chất), để tránh sự ngộ nhận. Và cũng vì mục đích  là để tìm sự An Vui, Hạnh Phúc qua Sức khỏe, không mang tính chất tín nguỡng, người viết đã đơn giản hóa việc tập Thiền Công qua 4 thế: Ngồi, Nằm, Quỳ, Đứng. Mỗi thế lại có 4 thức. Tên gọi của những thức này do người viết mạo muội đặt bằng tiếng Việt cho dễ nhớ, và để không bị ngộ nhận với bất cứ thế thức nào khác. Việc tập Thiền Công nên được thực hiện trong phòng vắng, không ồn ào; nếu có thể tập ở ngoài vườn, nơi không khí mát mẻ thì tốt hơn. Mỗi ngày tập khoảng 1 tiếng đồng hồ, thì chỉ trong vòng 1 tháng, cơ thể và tinh thần sẽ đổi khác, tươi trẻ hơn, khỏe mạnh hơn, làm việc bền bỉ hơn, hạnh phúc hơn, và một số bệnh kinh niên có thể biến mất.

A.NGỒI:

1-Toạ thiền: Ý Nghĩa = Con nguời là trung tâm điểm cuả vũ trụ. Không có Con Người, Vũ trụ chỉ là con số không. Ngồi xếp bằng tròn, không nhất thiết phải gác chân lên nhau, hai bàn tay để lên hai đầu gối, ngón trỏ và ngón cái cuả mỗi tay chạm nhau, lưng thật thẳng (Nếu ngồi cong lưng, sẽ bị đau lưng, vì xuơng sống sẽ bị cong, chạm vào dây thần kinh làm đau. Nếu không tự ngồi thẳng đuợc, thì ngồi sát tuờng, cho lưng dưạ vào tuờng.) Nhắm mắt lại, tập trung tư tuởng, không nghĩ ngợi bất cứ điều gì, rồi hít vào thật chậm, khi hơi xuống tới bụng (đan điền) thì nén hơi lại và đếm 1,2,3 rồi từ từ thở ra. Trong khi hít vào và thở ra, phải tuởng tuợng đến luồng khí đi từ lỗ mũi vào trong ngực, xuống bụng, tuởng tuợng đến hơi thở đang nằm trong bụng, rồi tuởng tuợng đến hơi thở đang ra ngoài lỗ mũi. Những ngày đầu tiên, chưa quen, có thể cảm thấy hơi thốn lưng, nhưng dần sẽ quen và không thấy thốn lưng nưã. Hít thở từ 10 đến 20 lần.

Thế này trị bệnh tim, mạch, ổn định thần kinh, thăng bằng trí nhớ, điều trị sau cơn "stroke" hay "heart attack",  chống sự hồi hộp, lo lắng, mất ngủ. Có nguời chỉ hít thở như thế hơn 10 lần đã ngủ gục. Tập chừng một tháng, trí óc minh mẫn, sáng suốt hơn gấp bội.

2-Bái Tổ: Ý Nghiã = Xã hội có thứ tự trên dưới. Biết kính trên, nhường dưới, cuộc sống mới tươi đẹp. Cũng ngồi như trên, nhưng hai bàn tay chắp lại truớc ngực. Hít thở từ 10 lần trở lên. Tác dụng chữa bệnh giống như Tọa Thiền.

3-Hoành Thiền: Ý Nghiã = Con Nguời đuợc tạo ra bình đẳng. Nên tôn trọng lẫn nhau.

Ngồi như trên, nhưng hai tay dang thẳng ngang ra hai bên. Hít thở tối đa 10 lần. Cùng một tác dụng như hai thế trên.

4-Trung Thiền: Ý Nghĩa = Nhìn lại bản thân xem mình đã làm gì cho những người chung quanh vui vẻ chưa" Ngồi cúi đầu xuống, nhìn vào bụng mình. Hít thở như trên. Chữa các bệnh về tiêu hoá. Làm 10 lần. Khi xong, phải xoay cổ vài lần từ phải sang trái rồi từ trái sang phải, cho cổ không bị xơ cứng.

B. QUỲ:

1-Hổ Phục: Ý Nghĩa = Con Nguời chỉ là cát bụi và  thật nhỏ bé truớc thiên nhiên. Quỳ úp trán xuống đất, hai tay để thẳng, cùi chỏ để trên đất, xoải dài trên đầu. Hít thở chừng 10 lần. Giúp ổn định tim, mạch, thần kinh. Khi quá mệt sau một công việc nặng, tập thể thao quá độ, đánh võ... chỉ cần quỳ xuống và  hít thở trong vài phút là khoẻ lại ngay.

2-Tàng Long: Ý Nghiã = Đôi khi chúng ta phải biết thu nhỏ mình lại, Quỳ áp một bên má xuống đất, nếu áp má bên trái xuống thì thọc tay trái qua duới nách cuả tay phải, nếu áp má bên phải xuống đất, thì thọc tay phải qua nách trái. Ép mình xuống thấp. Hít thở. Trị mất ngủ. Thay đổi tay từ trái sang phải, mỗi bên hít thở 10 lần.

3-Độc Long: Ý Nghiã = Vận dụng ý chí  để  huớng thiện. Quỳ theo thế Hổ Phục, nhưng giơ một chân thẳng lên trời. Hít thở. Trị bệnh thiếu máu, hay xây xẩm, hay nhức đầu.

4-Thiềm Thừ: Ý Nghĩa = Tận dụng năng lực truớc, phó thác cho Thiên Mệnh sau. Qùy áp trán xuống đất, hai tay bỏ xuôi theo thân mình, hai bàn tay huớng về phiá bàn chân. Hít thở. Trị yếu tim, thần kinh.

C. NẰM:

1-Bình Sơn: Ý Nghiã = Chan hoà với mọi người sẽ được mọi người yêu thương..

Nằm ngửa, không gối, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ rút gót chân về, nhấc thân mình lên, chỉ bám trên đất bằng gót chân và hai vai, giữ trọng lượng ở thắt lưng. Hít thở chừng 5 lần thôi, không cố gắng quá. Trị đau bắp thịt thắt lưng, yếu sinh lý, nguời có hơi thở quá ngắn và gấp rút. (Thế này không áp dụng đuợc với nguời mổ xuơng sống, thay thận, tật xuơng sống bẩm sinh...)

2-Cung Tận: Ý Nghiã = Ý Chí của Con Người như cánh cung, càng căng càng mạnh. Nằm sấp, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ đầu và chân lên tạo thành hình cây cung, hít thở 3 lần rồi hạ đầu và chân xuống, nghỉ vài giây, lại cong lên, hít thở. Chưã đau thắt lưng, yếu sinh lý, lãnh cảm. (trừ người đang hoặc đã mổ xương sống.)

3-Thiên Vị: Ý Nghĩa = Bỏ cái "Tôi" đi, thì tiến buớc nhanh nhẹn hơn. Nằm ngưả, không gối, hai tay xuôi theo mình, từ từ rút chân về gần mông, nhấc hẳn mông lên cao, mắt nhìn theo đùi, hít thở. Chưã yếu sinh lý, lãnh cảm, đau thắt lưng.

4-Phân Thân: Ý Nghĩa = Mọi vật đều vô thuờng. Ta có thể là Ta, có thể  không là Ta.

Dành riêng trị bệnh  mất ngủ. Nằm thẳng, không gối, hai tay xuôi theo mình. Nhắm mắt, hít thở chậm rãi chừng 10 lần, theo dõi hơi thở. Sau đó, tập trung tư tuởng, hít sâu tối đa, nén hơi, đếm 1,2,3, rồi thở ra chừng 10 lần nữa, bắt đầu "phân thân", tức là chia mình ra làm hai. Tuởng tuợng "mình" đang đứng bên cạnh giường, ngó lại "mình" đang nằm trên giường. Ngó từ chân lên đầu.

Truớc hết, ngó ngón chân cái, bên trái, cố nhớ lại những kỷ niệm xẩy ra ở ngón chân này (chẩy máu, sứt móng...) từ hồi còn nhỏ... Hết ngón cái qua ngón bên cạnh, lần lượt ngó hết 5 ngón chân trái, qua bên chân phải, cũng đi từ ngón cái. Hết năm ngón chân, qua gót chân trái, gót chân phải, rồi lên mắt cá chân, lên cổ chân, lên ống quyển, đầu gối, lên đùi... Hết một chân, qua chân kia. Hết chân, lên bụng, lên cổ, qua vai, xuống cánh tay, cùi chỏ, bàn tay... lộn lên tay kia... rồi tới cổ...mặt... Thuờng thì lên tới cánh tay, đã ngủ say... Ngủ kiểu này giúp tăng cuờng sức mạnh, an thần, không cần ngủ 7,8 tiếng mà vẫn khoẻ.

D. ĐỨNG:

1-Bạch Hạc: Ý Nghiã = Con nguời như chim Hồng, chim Hạc, luân chuyển không ngừng. Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc ngực, từ từ giang tay ra hai bên, cúi nguời về truớc, rồi cong dần cho mặt gần như song song với mặt đất, trong khi một chân giơ lên ngang với mặt đất. Giữ sức nặng toàn thân trên một chân. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.

2-Độc Kê: Ý Nghiã = Tự chủ thắng sức mạnh. Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc ngực, từ từ co chân trái lên, gác bàn chân trái vào sau bắp vế chân phải, hai tay từ từ giang ngang ra hai bên. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.

3-Kim Quy: Ý Nghiã = Hãy lắng nghe nhiều hơn là nói. Đứng áp sát vào tuờng, má trái  áp vào tường, 10 đầu ngón chân cũng sát tuờng, tay trái thọc ngang, xuyên duới nách phải, hít thở. Đổi nguợc lại, áp má phải, thọc tay phải qua tay trái. Trị tim mạch.

4-Huớng Thiên: Ý Nghiã = Sống hướng thiện, huởng quả phúc. Đang đứng chân truớc chân sau, từ từ rùn chân truớc xuống, chân sau duỗi thẳng ra, cho thắt lưng thẳng, hai tay song song từ từ đưa về phía trước, hai bàn tay chụm lại, rồi đưa thẳng lên trời. Khi hai tay giơ lên, thì hít vào, nén hơi, rồi từ từ thở ra, xong thả nguời trở lại vị trí đầu. Tiếp tục nhịp nhàng như vậy 10 lần. Tăng cuờng sức mạnh toàn thân.

Lưu ý: Để Thiền Công có thể chưã hết bệnh này mà không tạo ra bệnh khác, phải luôn luân chuyển các thế Động và Bất Động. Những nguời muốn ngồi Thiền thật lâu, phải tập từ nhỏ để cơ thể quen dần. Lớn tuổi, không nên để bất cứ bộ phận nào Bất Động lâu. Những nguời dùng Computer, thợ may... có thể bị mổ cổ tay vì cổ tay luôn để Bất động. Có nguời phải mổ vai. Muốn tránh đau nhức, thỉnh thoảng phải lắc, xoay cổ tay chừng vài phút. Lắc trên xuống duới, lắc trái sang phải, lắc về phía truớc rồi ra sau.

Các vị cao niên, sau khi ngồi các thế Thiền chừng 20 phút, phải đứng dậy, vặn vẹo thân thể cho các khớp xương không bị cứng. Sau thế Hoành Thiền, phải xoay vai theo một vòng tròn truớc sau, mà trung tâm điểm của vòng tròn là đầu vai. Xoay từ sau ra truớc rồi nguợc lại từ truớc ra sau. Trong khi xoay, vặn như thế, phải tiếp tục hít sâu và thở dài. Truờng hợp hay bị bệnh đau vai, đau bàn tay, hay vai bị sái:  đứng khom nguời xuống gần 90 độ, một tay vịn vào bàn, tay kia thả lỏng và vẽ một vòng tròn tuởng tuợng trên mặt đất chừng 10 vòng, rồi trở lại tay kia. Làm chừng 20 lần sẽ hết đau vai.

Trong phạm vi một bài viết ngắn ngủi, có thể còn thiếu sót, mong được cao nhân chỉ giáo thêm và cũng chân thành gửi tới mọi nguời lời chúc "sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc."

Chu Tất Tiến, Trung Tâm Y Tế An Bình (714) 539-2001.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Không có cách nào để bọc đường tin này: Một nửa người Mỹ lớn tuổi sẽ béo phì rất nghiêm trọng trong vòng hơn 12 năm nữa, theo một phúc trình mới tiên đoán.
Ngày 14 tháng 9, 2022, Tổng Giám đốc WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus tuyên bố thế giới chưa bao giờ ở trong tình trạng tốt hơn để chấm dứt đại dịch COVID-19 và kêu gọi các quốc gia tiếp tục nỗ lực chống lại loại virus đã giết chết hơn sáu triệu người. Tuy nhiên, ông nói: “Chúng ta vẫn chưa đến đó”. Đây được xem là nhận xét lạc quan nhất từ cơ quan Liên Hiệp Quốc kể từ khi WHO tuyên bố COVID-19 là tình trạng khẩn cấp quốc tế và gọi virus này là đại dịch vào tháng 3 năm 2020 (VOA).
Virus bệnh đậu khỉ là một poxvirus hình giống như viên gạch. Poxvirus là loại virus hình viên gạch hoặc hình bầu dục với bộ gen DNA sợi đôi lớn (large double stranded DNA genome)...
Nghiên cứu mới nhất cho thấy có bằng chứng rằng trầm cảm không phải là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Trong suốt ba thập niên, mọi người đã bị “nhồi sọ” rằng trầm cảm là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất của Joanna Moncrieff (Giáo Sư lâm sàng cao cấp, Khoa tâm thần học xã hội và phê bình, UCL) và Mark Horowitz (Nghiên cứu lâm sàng về Tâm thần học, UCL) cho thấy có bằng chứng không hỗ trợ điều đó. Nghiên cứu được đăng trên trang TheConversation.
Giăng biểu ngữ. Cầm bảng. Biểu tình. Hăm dọa… Chiến thắng. Thất vọng. Reo hò. Giận dữ. Cười, Khóc. …như một trận đấu football chuyện nghiệp chung kết hoặc trận túc cầu vô địch quốc tế, nhưng tệ hơn vì hai bên thua và thắng, từ cầu thủ cho đến người ủng hộ sinh lòng oán hận nhau. Chuyện này tạm gọi là “Trận Đấu Bầu,” mà trọng tài là chín thẩm phán Tối Cao Pháp Viện. Nói cho công bằng, cả hai phe: giữ bầu và phá bầu đều có lý do chính đáng, đều có thể thuyết phục đa số nếu cả hai phe đừng ngoan cố chèn ép lẫn nhau, có lẽ vì lòng hiếu thắng hơn là lợi ích, vì lợi ích trực tiếp ở nơi người có bầu hoang, bầu không được thừa nhận, không phải thuộc về đa số người không có kinh hoặc đã tắt kinh. Trong thiên nhiên ngàn năm vẫn vậy, từ chiếc nụ nở thành hoa cho đến khi đơm trái, biết bao nhiêu ong bướm dập dìu, mang phấn nhụy đi reo rắc dòng dõi khắp nơi trên mặt đất.
Chứng nhức đầu “migraine” đang hành hạ hơn 1 tỷ người và là nguyên nhân gây tàn tật đứng hàng thứ hai trên toàn thế giới. Ở Hoa Kỳ, cứ 4 gia đình thì có 1 gia đình mà trong đó có ít nhất một thành viên bị chứng đau nhức đầu, với những cơn đau dồn dập, kinh niên. Mỗi năm, ước tính có khoảng 85.6 triệu ngày nghỉ ốm là do bệnh đau đầu.
Lavender (Oải Hương) là một loài hoa rất phổ biến với các nền văn hóa phương Tây. Với người Việt – đặc biệt là người Việt ở Mỹ- trong vài thập niên qua cũng đã bắt đầu quen thuộc với loài hoa màu tím có hương thơm đặc trưng này. Lavender có tên khoa học là Lavendula, là một loại cây thuộc chi Oải Hương (Lavandula), là loại cây bụi có hoa mùi thơm nồng, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải. Cây hoa Oải Hương đã được biết đến cách đây hàng ngàn năm ở Châu Âu từ thời Hy Lạp cổ đại. Đó là nguồn cung cấp tinh dầu oải hương, được xem như là một thảo dược hữu dụng từ thuở xa xưa. Do mùi hương thơm sạch có tính chất đuổi côn trùng, có tính sát trùng, tinh dầu oải hương được ứng dụng rộng rãi để giúp thư giãn cơ thể, giúp làm lành vết thương, sát khuẩn nhẹ…
Cho đến nay, hầu hết các nỗ lực điều trị bệnh Alzheimer đều tập trung vào việc loại bỏ các dấu hiệu của căn bệnh: các mảng và đám chất độc tích tụ trong não. Những nỗ lực đó đưa đến việc sản xuất ra các loại thuốc có thể làm giảm các mảng và đám, nhưng vẫn chưa có tác dụng gì nhiều để duy trì tư duy và trí nhớ. Các kết quả mới nhất với dịch tủy sống cho thấy các phương pháp điều trị khác có thể có hiệu quả, ngay cả khi chúng không ảnh hưởng đến quá trình cơ bản của căn bệnh.
Ngày 24 tháng 3 là Ngày Lao Phổi Quốc Tế. Lao Phổi là một trong những bệnh truyền nhiễm gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Có đến 13 triệu người tại Hoa Kỳ đang sống chung với nhiễm Lao tiềm ẩn. Nếu không được chữa trị, 5-10% sẽ tiến triển thành bệnh Lao Phổi. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tưởng rằng Lao Phổi không còn là một vấn đề đáng quan tâm nữa.
Hôm nay, CDC và FDA tuyên bố là chính phủ cho phép chích mũi vaccine thứ tư cho những người từ 50 tuổi trở lên và cả những người từ 12 tuổi trở lên nhưng cơ thể không thể kháng bệnh như người bình thường. Các cơ quan liên bang đã đi đến quyết định này vì họ sợ rằng con vi khuẩn omicron có thể sẽ mang đến nhiều hiểm họa cho Hoa kỳ, tương tự như những gì đã xẩy ra cho châu Âu. -- Xin đọc bài viết rất thiết yếu cho sức khỏe của tất cả chúng ta, của bác sĩ Nguyễn C. Cường. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.