Thuyết Trình Về Trường Sa Hòang Sa

29/01/200300:00:00(Xem: 4121)
Chính quyền nào rồi cũng tiêu vong
nhưng đất nước và dân tộc thì vẫn còn mãi.
*
Trường Sa, Hòang Sa là một vấn đề rối mù. Rối mù về địa lý, về pháp lý và nhất là do chiến thuật hỏa mù của Trung Cộng. Do đó, chúng ta cần đơn giản vấn đề. Trình bày đơn giản một vấn đề phức tạp là một việc chẳng dễ chút nào. Nhưng đó là việc mà chúng ta phải làm.
Bài này chia làm 2 phần: Địa lý và Pháp lý.

I. VỀ ĐIA LÝ
Dưới triều vua Minh Mạng, nho sĩ Lý Văn Phức được cử đi sứ Trung Hoa bằng đường biển. Thuận buồm xuôi gió Tây Nam, thuyền chở phái đoàn sứ giả từ Huế hướng về Phúc Kiến qua ngả Hoàng Sa. Chứng kiến những cảnh đắm thuyền vì mắc cạn hay vì bảo tố, Lý văn Phức có lời cảm khái:
Vạn Lý Trường Sa đường tuyệt hiểm
Thất Châu sóng cuốn hận anh hào
Sứ giả Lý Văn Phức đã lầm lẫn giữa Hoàng Sa và Trường Sa.

Để có một ý niệm tổng quát, chúng ta có thể hình dung Hòang Sa gồm 13 đảo tí hon tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-15 Bắc, phía đông khu Trị, Thiên, Nam, Ngãi; Trường Sa tại các vĩ tuyến 12-7 Bắc, dọc từ Cam Ranh về Cà Mau; và ngang từ thềm lục địa Việt Nam qua thềm lục địa Phi Luật Tân. Trường Sa chíêm một miền biển rộng tới 180 ngàn dậm vuông (350 hải lý mỗi bề). Hàng trăm đảo, cồn, đá bãi nhỏ síu nằm rải rác trên biển cả, không dân cư, không nước ngọt, không cây cối, dưới trời nắng gắt với gió lốc và bão lớn.
Thực tế mà xét, trong số 500 đảo, cồn, đá, bãi chỉ có khỏang 30 cao địa có địa danh và 20 đơn vị đá chìm và bãi ngầm. Số đơn vị này là đối tượng tranh chấp của 6 quốc gia: Trung Cộng, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã lai, Brunei và Nam Dương.
a) Từ 1974 Trung Cộng đã chiếm đóng tòan thể khu hải phận HÒANG SA gồm 13 đảo thuộc hai nhóm:
7 đảo về phía Đông Bắc, Nhóm An Vĩnh/Tuyên Đức (Amphitrite, tên một tàu Pháp bị đắm), như Đảo Phú Lâm (Woody Island) do Bộ Chỉ Huy Trung Cộng trú đóng. Đảo hình bầu dục, diện tích 1.3km2. Nếu là hình chữ nhật, bề dài sẽ là 1300m và bề ngang 1000m (bằng một công viên nhỏ). Phú Lâm là đảo lớn nhất tại Hoàng Sa và Trường Sa. So với Phú Quốc (diện tích 568 km2), Phú Lâm bằng 1/440 Phú Quốc.
6 đảo về phiá Tây Nam thuộc nhóm Lưỡi Liềm (Crescent, tiếng Pháp là Croissant), gồm có các Đảo Hoàng Sa (Pattel Island) nơi Bộ Chỉ Huy Việt Nam Cộng Hòa trú đóng trước kia. Hoàng Sa đo được 0.56km2 bằng 1/2 Phú Lâm và bằng 1/1000 Phú Quốc. Nếu có hình chữ nhật Hoàng Sa sẽ có chiều dài 800m và chiều ngang 700m (bằng một khuôn viên trường tiểu học). Đảo Trí Tôn cách bờ biển Quãng Ngãi 135 hải lý và cách Cù Lao Ré 123 hải lý.
b) Vùng biển TRƯỜNG SA rộng gấp 10 lần Hoàng Sa, nhưng chỉ có 9 tiểu đảo. Việt Nam hiện chiếm 3 đảo: Đảo Trường Sa (Spratley Island), nơi Bộ Chỉ Huy Việt Nam trú đóng, Đảo Nam Yết (Namyit Island) và Đảo Sinh Tồn (Sincowe Island).

Phi Luật Tân chiếm 5 đảo là: Đảo Bình Nguyên (Flat Island), Đảo Vĩnh Viễn (Nanshan Island), Đảo Bến Lộc (West York Island), Đảo Loại Tá (Loaita Island) và Đảo Thị Tứ (Thitu Island). Đài Loan chiếm Đảo Thái Bình (Itu Aba Island).
Đảo Trường Sa diện tích 0.13km2 (400mx350m), nhỏ bằng 1/10 Phú Lâm, và bằng 1/4400 Phú Quốc. Cuối năm l999, Đài Loan đã rút quân khỏi đảo Thài Bình, hòn đảo lớn nhất tại Trường Sa.
Ngoài 3 đảo, Việt Nam còn chiếm 3 cồn là An Bang (Amboyna Cay), Song Tử Tây (SouthWest Cay) và Sơn Ca (Sand Cay), cộng với 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm.
Ngoài 5 đảo, Phi Luật Tân còn chiếm 3 cồn, 2 đá nổi và 8 đá chìm.
Tại Trường Sa, Trung Cộng chiếm 2 đá nổi là Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) và Đá Ga Ven (Gaven Reef), và 6 đá chìm.
Trong số 28 cao địa (cao hơn mặt nước), Việt Nam chiếm 13, Phi chiếm 10 và Trung Cộng chiếm 2 (đá nổi).
Trong số 53 đơn vị có địa danh, Việt Nam chiếm 22, Phi chiếm 18, và Trung Cộng chiếm 8. Đó là những hòn đảo tí hon. So với chiều dài bờ biển Việt Nam, mật độ dân cư và sinh hoạt ngư nghiệp tại đất liền, các đảo này quá nhỏ bé, chỉ được gọi là tiểu đảo (islet).
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao từ 1974 khi Trung Cộng chiếm cả Hoàng Sa và nhất là từ 1988 khi Trung Cộng xâm lấn Trường Sa, họ lại không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một số hải đảo của Việt Nam hay Phi Luật Tân, mà phải lấy một hòn đá (Đá Chữ Thập) làm địa điểm chỉ huy" Lúc này Bắc Kinh còn e ngại Liên Xô tại Cam Ranh và Hoa Kỳ tại Subic Bay.
Thực ra, những hòn đảo tí hon này không phải là đối tượng tranh chấp của Trung Cộng. Họ chỉ muốn thương thảo với các quốc gia duyên hải, đề nghị phương thức khai thác chung dầu khí. Không phải khai thác chung tại các hải đảo ngòai khơi (biển quá sâu, không đủ kỹ thuật thăm dò, quá tốn kém mà chưa biết có bao nhiêu dầu), mà là khai thác chung tại thềm lục địa. Do đó, họ chủ trương đàm phán song phương thay vì đa phương. Điều họ lo ngại nhất là các quốc gia Đông Nam Á (như Việt Nam hay Phi Luật Tân) đưa nội vụ ra Tòa Án Trọng Tài hay Tòa Án Quốc Tế.

II. VỀ PHÁP LÝ
Địa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước. Nếu có luật quốc tế cho các lãnh thổ thì cũng phải có luật quốc tế cho vùng lãnh hải. Năm 1982, 119 quốc gia ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (Law of the Sea Convention, Los Convention). Tới tháng 11-1993 đã có 60 quốc gia (quá bán) phê chuẩn Công Ước trong đó có Việt Nam. Và một năm sau, tháng 11-1994, Công Ước có hiệu lực chấp hành. Tới nay đã có hơn 70 quốc gia phê chuẩn trong số 170 quốc gia kết ước và gia nhập.
Luật Biển 1982 định nghĩa về nội hải, biển lịch sử, đường căn bản, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như sau:
1. Nội Hải, Biển Lịch Sử và Đường Căn Bản (internal waters, historic waters and baselines).
Toà Án Quốc Tế dịnh nghĩa biển lịch sử là nội hải căn cứ vào những chứng liệu có giá trị về mặt lịch sử. Muốn trở thành biển lịch sử phải hội đủ 3 điều kiện sau đây:
a) Quốc gia duyên hải đang hành sử chủ quyền.
b) Sự hành sử chủ quyền có tính cách liên tục và trường kỳ.
c) Các quốc gia (tiếp cận và đối diện) thừa nhận sự hành sử chủ quyền của quốc gia duyên hải. Điều 8 Luật Biển 1982 nhấn mạnh rằng biển lịch sử chỉ là nội hải, nghĩa là nằm tại đất liền, bên trong bờ biển hay Đường Căn Bản. Như vậy Biển lịch sử không thể là Biển Nam Hải cách bờ biển Hoa Lục tới 2000 cây số.
2. Tại Lãnh Hải 12 hải lý hay biển lãnh thổ (territorial sea), các tàu ngoại quốc được quyền "thông quá vô tư", và phải tôn trọng trật tự và an ninh của quốc gia duyên hải (lãnh hải 12 hải lý không phải là hải phận).
3. Tại Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý đánh cá (Exclusive Economic Zone, 200-mile-fishery zone), các quốc gia duyên hải có nghĩa vụ bảo tòan và nếu cần, chia sẻ phần tôm cá không khai thác hết cho các quốc gia kế cận không có bờ biển (như Lào).
4. Cũng như Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (đánh cá), Thềm Lục Địa (Continental Shelf) dài 200 hải lý là vùng biển nối tiếp Lãnh Hải và Đường Căn Bản. Ngòai ra Thềm Lục Địa Địa Lý (hay Nền Lục Địa: Continental Margin) có thể kéo dài tới 350 hải lý, nếu về mặt địa hình, đáy biển là sự nối tiếp tự nhiên của thềm lục địa từ đất liền ra ngòai biển (trường hợp bờ biển Việt Nam) (Điều 76 Luật Biển 1982)
Khác với vùng đặc quyền kinh tế (đánh cá), thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải trong việc khai thác dầu khí. Quyền của quốc gia duyên hải không tùy thuộc vào điều kiện chiếm cứ (occupation) hay công bố minh thị. Do đó việc Trung Cộng chiếm đóng một số đảo và đơn vị tại Hoàng Sa và Trương Sa không có tác dụng tước đọat chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân tại Thềm Lục Địa của 2 quốc gia này.
5. Hải Đảo và Quần Đảo
Cũng như đất liền, hải đảo được quyền có lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý. Đảo được định nghĩa là giải đất thiên nhiên bao bọc bởi nước và cao hơn mực nước thủy triều. Tuy nhiên theo án lệ, các đảo không có dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế, không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý.
Theo án lệ cố định, Tòa Án Quốc Tế La Haye đã không đếm xỉa đến những tiểu đảo trong việc phân ranh thềm lục địa giữa các quốc gia tiếp cận hay đối diện: Án lệ North Sea Continental Shelf cases l969; án lệ Thềm Lục Địa Anh Pháp (l977); án lệ Guinea k/ Guinea Bissau (l985). Lý do là vì các đảo này không có thường dân cư ngụ và chỉ là bãi đậu chim. (Có lẽ tòa nghĩ rằng chim không cần đến 200 hải lý để bói cá, mà cũng không biết khai thác dầu khí).
Đối với tất cả các đảo tí hon và đá nổi tại Hòang Sa và Trường Sa, chúng ta nghĩ rằng Tòa Án sẽ không công nhận đó là đảo, vì 3 lý do:
- không có thường dân cư ngụ.
- không thể tự túc về kinh tế.
- quá nhỏ bé và quá rải rác.
Nếu có hình chữ nhật, Hoàng Sa dài chừng 800m và Trường Sa 400m. Đó là những hòn đảo tí hon nằm rải rác trong một vùng biển Đông Nam Á rộng hơn 180 ngàn dậm vuông. Tổng số diện tích các đảo cồn đá bãi Trường Sa là 4 dậm vuông.
Trong án lệ Lybia/Malta (l985) Tòa án không đồng hóa đảo Malta với lục địa dầu rằng Malta có 350 ngàn dân cư ngụ trên một diện tích 122 dậm vuông.
Theo định nghĩa, quần đảo bao gồm các hải đảo nằm san sát bên nhau và có diện tích ít nhất bằng 1/9 vùng biển nơi tọa lạc.
Như vậy:
1) Hoàng Sa Trường Sa không phải là quần đảo theo luật.
2) Các đảo tí hon (trên 20 hòn) tại Hòang Sa Trường Sa (tiểu đảo) không phải là đảo luật định và không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.
Trước khi có các quân đội đến chiếm đóng (của Việt Nam, Đài Loan, Trung Cộng, và Phi Luật Tân), các đảo này chỉ là những bãi chim đậu. Hoạt động kinh tế nếu có, chỉ là khai thác phân chim.
Ngày nay có thêm một số binh sĩ trú phòng Trung Cộng ngụy trang dưới hình thức ngư dân để làm lạc hướng dư luận quốc tế.

III. ĐẤU LÝ VÀ ĐẤU PHÁP
Trong thập niên l960, cuộc Cách Mạng Văn Hoá đã phá nát Trung Hoa về văn hóa, xã hội, kinh tế, và tinh thần. Qua thập niên l970, Trung Hoa bắt đầu phục hồi. Được gia nhập Liên Hiệp Quốc thay Đài Loan năm l971, Trung Hoa nghiễm nhiên trở thành một ngũ cường, hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết. Sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ năm l979, Trung Hoa hội nhập vào Cộng Đồng quốc tế. Từ đấy chính sách mèo đen, mèo trắng của Đặng Tiểu Bình được thực thi để thay thế xã hội chủ nghĩa bằng chủ nghĩa tư bản.
Năm l982, phái đòan Trung Hoa đến Montego Bay tham dự Đại Hội Liên Hiệp Quốc kỳ 3 về Luật Biển. Vì Anh Mỹ không ký Công Ước, 3 ngũ cường còn lại Nga-Pháp-Hoa đóng vai chủ chốt trong Đại Hội. (Lý do là vì Anh Mỹ không thỏa mãn về quy chế khai thác khoáng sản tại biển sâu: deep seabed mining). Tự ái quốc gia được thỏa mãn, Trung Hoa hoan hỉ ký Công Ước. Ký xong, Bắc Kinh mới thấy lo! Ký Công Ước thì phải theo Công Ước. Những điều khỏan trong Công Ứóc đã rõ rệt. Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lý về đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Từ quần đảo Hoàng Sa Trường Sa về Hoa Lục phải qua vùng biển sâu tới 2 hay 3, 4 ngàn mét. Vì đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền chạy ra biển, Trung Hoa không có hy vọng nới rộng thềm lục địa từ 200 tới 350 hải lý như trường hợp Việt Nam.
Hơn nữa, toàn thể các đảo Trường Sa cách bờ biển Trung Hoa từ 500 đến 1100 hải lý, nên không nằm trong thềm lục địa của Trung Hoa. Các đảo Hoàng Sa cũng cách lục địa Trung Hoa hơn 200 hải lý. Hoàng Sa và Trường Sa có triển vọng có dầu khí do các chất hữu cơ tích lũy từ các nguồn nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu Long (con sông dài nhất Đông Nam Á) từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển từ cả triệu năm nay.
Trong khi đó, tại bờ biển Việt Nam, thềm lục địa địa lý hay nền lục địa chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn ra Hòang Sa về phía đông Trị, Thiên, Nam, Ngãi. Độ sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 500m. Về mặt địa hình, Hòang Sa là một hành lang của Trường Sơn chạy thoai thoải từ cù lao Ré ra biển, hay là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Từ 1925, các nhà địa chất học quốc tế như Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempf, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc đã lập phúc trình và kết luận: "VỀ MẶT ĐIA CHẤT, NHỮNG ĐẢO HOÀNG SA LÀ THÀNH PHẦN CỦA VIỆT NAM" (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam).
Tại Trường Sa cũng vậy. Về mặt địa hình đáy biển, Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam. Tại bãi Tứ Chính nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, trong khi trong vùng quanh đảo Trường Sa và cồn An Bang (do Việt Nam chiếm cứ) độ sâu chỉ tới 200m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam chừng 160 hải lý và cách lục địa Trung Hoa lối 900 hải lý. Trường Sa cách bờ biển Trung Hoa bằng rãnh biển sâu tới 3,4 ngàn mét, chỗ sâu nhất đo được 4683m.
Bị ràng buộc bởi Luật Biển với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý, Trung Hoa tung ra chiến dịch hỏa mù gây bất ổn, tranh chấp lung tung, tuần tiễu, phóng hỏa tiễn, lấn chiếm bừa bãi tại thềm lục địa gần bờ biển để gây tiếng vang. Mục đích để phá rối an ninh trật tự, làm cản trở giao thông trên mặt biển, tạo áp lực quốc tế, hù dọa và khuyến dụ các quốc gia Đông Nam Á hãy tạm gác vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo để cùng nhau KHAI THÁC CHUNG DÂÙ KHÍ TẠI THỀM LUC ĐIA.
Chiến dịch Hỏa Mù của Bắc Kinh nhằm 3 đối tượng:
A. Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.
B. Các Hải Đảo.
C. Thềm Lục Địa.


A. BIỂN LICH SỬ hay LƯỠI RỒNG TRUNG QUỐC.
Năm 1982, sau khi ký Công Ước về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Quốc, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm và đã đi đến kết luận rằng Biển Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa từ hơn hai ngàn năm nay. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để nhất trí xác nhận sự kiện lịch sử này.
Trong khi đó hàng chục giáo sư Mỹ gốc Hoa tại các đại học Hoa Kỳ từ trên 10 năm nay đã dòng dã viết trên các tạp chí địa lý, lịch sử, hải học Hoa Kỳ để yểm trợ lập trường Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc. Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Quảng Ngãi 40 hải lý, cách đảo Natuna (Nam Dương) 30 hải lý và cách Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 tuí dầu khí Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân và Natuna của Nam Dương.
Các học giả Trung Quốc đã nêu lên nhiều tài liệu lịch sử để chứng minh rằng Nam Hải là biển lịch sử của Trung Hoa. Họ chủ trương rằng dưới triều Hán Vũ Đế 100 ngàn hải quân Trung Hoa đi tuần thám các đảo thuộc Nam Hải. Sự khám phá này được tiếp tục dưới đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh.
Năm 1946 Trung Hoa quốc gia đặt tên Lưỡi Rồng Trung Quốc là Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam. Và năm l947 đổi tên Hoàng Sa là Tây Sa và Trường Sa là Nam Sa.
Năm l974 Trung Cộng đẩy lui các lực lượng hải quân của Việt Nam Cộng Hòa và chíêm nốt các đảo Hoàng Sa tại Nhóm Lưỡi Liềm về phía Tây Nam.
Và năm l988 lần đầu tiên Trung Cộng đem quân xâm lấn Trường Sa, và chiếm đóng 2 đá nổi và 6 đá chìm.
Những tài liệu lịch sử này không đáng tin cậy:
1. Chính sách bế quan tỏa cảng.
Suốt chiều dài lịch sử, Trung Hoa không bao giờ chủ trương chinh phục đại dương. Chủ thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước công nguyên). Vạn Lý Trường Thành không những là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ. Đảo Hải Nam trước kia là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ. Trong giả thuyết Cổ Tẩu sát nhân của Mạnh Tử (thế kỷ thứ 4 trước công nguyên), vua Thuấn vào ngục thất cưú cha là Cổ Tẩu (phạm tội cố sát) rồi cõng cha chạy trốn về vùng bờ biển để mai danh ẩn tích cho đến trọn đời. Sau khi chôn sống 460 nho sĩ tại Hàm Dương, Tần Thủy Hoàng lưu đày tất cả các nho sĩ đối kháng tại miền bờ biển. Trung Hoa là một đại lục bao la, cả miền Tây và miền Bắc đất rộng mênh mông còn chưa khai phá. Vậy mà từ đời Tần Thủy Hoàng, Trung Hoa đã tự cô lập từ trong đất liền đến ngòai đại dương. Cho đến thế kỷ 20, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.
Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân Trung Hoa đời Tây Hán đi khai phá các đảo san hô bỏ hoang tí hon tại Nam Hải (Rất có thể đó là 10 vạn thủy quân của Tào Mạnh Đức mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Công Cẩn đánh tan trong trận Xích Bích).
Các chuyến hải hành đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, và nhà Thanh kể trên rất có thể chỉ là những cuộc nam chinh nhằm thôn tính Chiêm Thành và Việt Nam. Lịch sử đã ghi rõ việc Lê Đại Hành phá tan thủy binh của Lưu Trung nhà Tống, quân Trần Hưng Đạo bắn chết Toa Đô và bắt sống Ô Mã Nhi nhà Nguyên; Lê Lợi đánh bại hải quân tiếp viện cho Vương Thông nhà Minh, và Quang Trung phá đường tiến quân của đề đốc Hứa Thế Hanh nhà Thanh. Việc các thủy binh dời Minh Thánh Tổ đi thăm viếng các quốc gia Á Phi nếu có, cũng không có tác dụng hành sử chủ quyền trên hàng ngàn hải đảo tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Từ thế kỷ l5, các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha như Vasco de Gama và Magellan đã đi xuyên 3 đại dương từ Đại Tây Dương, vượt Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương (khám phá Phi Luật Tân và Guam), nhưng Bồ Đào Nha cũng không đòi chủ quyền các hải đảo trong 3 đại dương này.
2. Danh xưng Nam Hải.
Vả lại theo các học giả Trung Hoa, Nam Hải là tên biển của Hoa Nam, cách Quảng Đông 50 dậm về phía nam. Các nhà hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South China Sea) (ngọai nhân xưng Nam Trung Quốc Hải). Theo cuốn Tự Điển Tối Tân Thực Dụng Hán Anh do các học giả Trung Hoa biên sọan tại Hồng Kông năm 1971 thì "Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông". (The Southern Sea Stretching from the Taiwan Straits to Kwantung.)
Theo từ điển Từ Hải xuất bản năm 1948, thì Nam Hải thuộc chủ quyền lãnh hải chung cho 5 nước là Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan.


DO ĐÓ NAM HẢI KHÔNG BAO GIỜ CÓ NGHĨA LÀ BIỂN CỦA NƯỚC TRUNG HOA VỀ PHÍA NAM. (Cũng như Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ).
Sau khi ký Los Convention năm 1982, Trung Cộng đã vẽ lại bản đồ, đòi chủ quyền lãnh hải toàn thể vùng biển Đông Nam Á. Họ xem biển Đông Nam Á (hay Nam Hải) là một thứ nội hải của họ theo kiểu Đế Quốc La Mã ngày xưa coi Địa Trung Hải là Mare Nostrum (biển của chúng tôi).
3. Luật pháp và án lệ.
Chiếu án lệ của Tòa Án Quốc Tế La Haye, biển lịch sử phải hội đủ 3 điều kiện:
a) Phải có sự hành sử chủ quyền.
b) Một cách liên tục và trường kỳ.
c) Và được sự thừa nhận của các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước tiếp cận và đối diện. Dầu sao theo Tòa Án Quốc Tế, biển lịch sử chỉ là nội hải.
Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (l982) đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định: "Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền hay về phía bên trong đường căn bản của lãnh hải" (The International Court of Justice has defined historic waters as internal waters. "Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State" Art.8 Los Convention (l982).
Kết luận: Nam Hải không thể là Biển Lịch Sử của Trung Hoa vì nó là ngoại hải và cách bờ biển Trung Hoa tới hai ngàn cây số.
Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Quốc rút cuộc chỉ là công dã tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!

B. VỀ HẢI ĐẢO
Như đã trình bằy ở trên, Trung Hoa đem biển lịch sử hay lưỡi rồng Trung Quốc ra để hù doạ và tạo hỏa mù. Từ l982 họ đã ý thức tính cách phi lý của thuyết nội hải. Khi đó họ mới chỉ kiểm soát được Hoàng Sa. Năm l988 họ dùng võ lực tấn công hải quân Việt Nam và chiếm đóng hai cao địa là Đá Chữ Thập và Đá Gaven. Năm l992 họ tiến chiếm thêm sáu đá chìm. Sau khi giành giật chủ quyền tại bãi Tứ Chính thuộc thềm lục địa Việt Nam, Trung Hoa đã chiếm thêm một số đá chìm như Mischief (Vành Khăn) thuộc thềm lục địa Phi Luật Tân cách Palawan từ 60 đến 130 hải lý. Sự lấn chíếm chỉ để hù dọa gây hỏa mù chứ không có tác dụng pháp lý. Lý do là Tòa Án sẽ không cấp cho các đảo tại Hoàng Sa Trường Sa vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa 200 hải lý.
Vì biết rõ điều đó nên từ l988, sau khi đánh bại hải quân Việt Nam tại Trường Sa, Trung Hoa đã không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một số đảo, cồn, đá, bãi của Việt Nam và của Phi Luật Tân.
Sở dĩ Bắc Kinh không dám cạn tàu ráo máng, vì còn hy vọng thương thảo về giải pháp khai thác chung như kiểu Đại Hàn-Nhật Bản.
Ta hãy thử cứu xét các lý lẽ do Bắc Kinh nêu ra để đòi chủ quyền về các đảo.
Theo một số học giả người Mỹ gốc Hoa, Trung Hoa có chủ quyền tại Hòang Sa và Trường Sa vì hai lý do: Thủ đắc chủ quyền do khám phá và thủ đắc do chiếm cứ.
1) Thủ đắc do khám phá (discovery)
Từ trên 2000 năm nay, dưới đời Tây Hán, 100 ngàn hải quân Trung Hoa tuần hành tại Nam Hải đã khám phá các hải đảo Trường Sa và Hòang Sa và do đó đã thủ đắc chủ quyền.
Lý luận như vậy là hồ đồ:
a) Trước hết không có tài liệu khách quan nào kiểm chứng được có sự tuần thám của 100 ngàn hải quân Trung Hoa tại các hải đảo trên biển Nam Hải. Đây chỉ là chuyện hoang đường hay thần thoại.
b) Vả lại kẻ khám phá không phải đương nhiên là kẻ sở hữu. Hoa Kỳ đã khám phá mặt trăng, treo cờ, lấy đá, chạy xe thử nghiệm và chiếm cứ tượng trưng nhiều lần. Nhưng không phải vì các hành động này mà Hoa Kỳ có thể tuyên bố "mặt trăng thuộc chủ quyền không gian của Hoa Kỳ".
c) Các nhà thám hiểm hằng hải quốc tế từ thế kỷ 15, như Vasco de Gama đã khám phá Mũi Hảo Vọng tại Phi Châu và các hoang đảo tại Ấn Độ Dương; Magellan đã đi xuyên ba đại dương từ Đại Tây Dương vượt Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương khám phá quần đảo Phi Luật Tân và hải đảo Guam. Vậy mà Bồ Đào Nha cũng không đòi chủ quyền các hải đảo và quần đảo tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
d) Cũng trong tinh thần đó, khám phá ra Bắc Cực, Nam Cực, rồi cắm cờ, dựng bia kỷ niệm tại đó không có hiệu lực ban bố chủ quyền cho người chinh phục.
2) Thủ đắc do chiếm cứ (occupation)
Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:
a) Chiếm cứ thực sự
Tại Trường Sa trong số 28 cao địa, Trung Hoa chỉ chiếm 2 đá nổi, trong khi Việt Nam chiếm 13 và Phi Luật Tân chiếm 10. Và trong số 53 đơn vị có địa danh, Trung Hoa chỉ chiếm 8, so với 22 của Việt Nam và 18 của Phi Luật Tân.
b) Chiếm cứ công khai
Sự chiếm cứ phải công khai, không thể ngấm ngầm như trường hợp Trung Hoa lấn chíêm và xây công sự tại đá chìm Mischief, (Vành Khăn) trên thềm lục địa Phi Luật Tân.
c) Chiếm cứ hòa bình
Không có sự chối cãi rằng năm 1974 Trung Hoa đã dùng võ lực chiếm đóng các hải đảo thuộc nhóm Lưỡi Liềm Hoàng Sa của Việt Nam.
Sự chiếm cứ không có tính cách hòa bình mà do xâm lăng võ trang. Sự chiếm cứ bằng bạo hành không được luật pháp bảo vệ. Cũng như thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.
d) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ
Không có sự phủ nhận rằng ít nhất từ 1816 dưới đời Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ công khai, liên tục, hòa bình các hải đảo Hòang Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi rõ:

République Francaise
Empire d'Annam
Archipel des Paracels
1816 -Ile de Pattle- l938 (đảo Hoàng Sa)

Các căn cứ quân sự của người Pháp được thiết lập từ đầu thập niên l930, Đài Khí Tượng Hoàng Sa mang số 48860 thuộc Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới bắt đầu từ 1938. Trước đó từ 1928 Công Ty Phosphate Bắc Kỳ đã khởi sự khai thác phân chim. Ngoài ra còn có hải đăng, Miễu Bà, nhà thờ thiên chúa, cầu tàu và các nhà cửa công sự xây cất với sự đồn trú của Đội Phòng Vệ Đông Dương và của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Sự chiếm cứ này có tính công khai, hoà bình, trường kỳ và liên tục cho đến l974 khi hải quân Trung Cộng xâm lăng.
Lịch sử Trung Hoa không mang lại bằng chứng nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ Hòang Sa, Trường Sa từ thời Hán Vũ Đế hay ít nhất từ thời Mãn Thanh.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi quân đội Nhật Bản rút lui năm 1946, Trung Hoa mới chiếm cứ một phần Hòang Sa (nhóm An Vĩnh về phía đông bắc). Tại Trường Sa Trung Hoa thú nhận rằng lần đầu tiên năm l988 họ chiếm cứ một số đá bằng võ lực. Sự chiếm cứ này vô hiệu vì không có tính cách hòa bình. Vả lại tới l974 và l988 các đảo Hoàng Sa -Trường Sa đã do Việt Nam chiếm đóng, nên không thể coi đó là đất vô chủ (terra nullius).
e) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ
1) Năm l951 tại Hội Nghị Hòa Bình Cựu Kim Sơn, 51 quốc gia đồng minh ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản trong đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền về Hoàng Sa Trường Sa, nhưng không nói để trả cho nước nào. Đại biểu Liên Sô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng hội nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống. Sau đó phái đòan Việt Nam lên diễn đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hòang Sa Trường Sa, và không gặp sự phản kháng nào.

2) Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia liên hệ (nghĩa là các quốc gia duyên hải đối diện hay tiếp cận). Như vậy không thể nói rằng vì môt thuyền trưởng người Đức hay một uỷ ban người Anh nào đó đã thừa nhận, nên các hải đảo tranh chấp là của Trung Hoa. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hòang Sa Trường Sa.
3) Tuy nhiên Bắc Kinh còn viện dẫn văn thư ngày 14-9-1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chủ trương rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 4-9-l958 Chính Phủ Trung Hoa ra tuyên cáo mở rộng vùng lãnh hải từ
3 hải lý thành 12 hải lý và áp dụng cho tất cả các lảnh thổ và hải đảo của Trung Hoa kể cả Tây Sa (Hòang Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Trong văn thư ngày 14-9-l958 gởi cho Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng cam kết tôn trọng tuyên cáo nói trên.
Đọc kỹ văn thư của Phạm Văn Đồng ta chỉ thấy nói tôn trọng "hải phận (lãnh hải) 12 hải lý của Trung Quốc" chứ không đề cập đến chủ quyền các hải đảo Trường Sa và Hòang Sa. Văn thư viết: "Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tán thành bản tuyên bố của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận (lãnh hải) của Trung Quốc (...) và sẽ ra chỉ thị triệt để tôn trọng hải phận (lãnh hải) 12 hải lý của Trung Quốc". Mà dầu Phạm Văn Đồng có thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại các quần đảo Trường Sa Hoàng Sa, thì sự thừa nhận này cũng vô hiệu.
Căn cứ vào tầm bắn đại pháo, Trung Hoa mở rộng lãnh hải (territorial sea) từ
3 hải lý thành 12 hải lý. Điều 3 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (l982) cũng quy định lãnh hải 12 hải lý. Vả lại trong thời gian này (l958), các hải đảo Trường Sa Hòang Sa vì nằm tại các vĩ tuyến từ 17 đến 7 Bắc (Quảng Trị-Cà Mâu) nên thuộc lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Vấn đề lãnh thổ và lãnh hải thuộc thẩm quyền của quốc dân do quốc hội đại diện, chứ không thuộc hành pháp là cơ quan thừa hành hay chấp hành luật pháp của quốc hội. Vả lại các Quốc Hội Việt Nam (Nam và Bắc) trong những năm 1956, 1964, l977, l982, l988 và l992 đã nhiều lần công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hòang Sa và Trường Sa. Một văn thư có tính cách nghi thức ngọai giao thông thường như văn thư ngày 14-9-l958 của Chính Phủ Hà Nội không có hiệu lực thừa nhận chủ quyền lãnh thổ hay hải phận tại các đảo thuộc quyền kiểm soát của Chính Phủ Saigon hồi đó.

C. THỀM LUC ĐIA
Vấn đề thực sự tại Trường Sa Hoàng Sa là vấn đề thềm lục địa. Dầu khí tại thềm lục địa quan trọng hơn các đảo cồn đá bãi tí hon ngòai biển khơi.
1. Về Trường Sa.
Tại Trường Sa 3 bãi dầu khí đang khai thác là Bãi Tứ Chính (Vanguard) tại
thềm lục địa Việt Nam, bãi Cỏ Rong (Reed Bank) tại thềm lục địa Phi Luật Tân và bãi Natuna phía bắc đảo Natuna thuộc thềm lục địa Nam Dương.
Năm l947 Trung Hoa chủ xướng thuyết Lưỡi Rồng đòi lấn chiếm hầu hết hải
phận củaViệt, Phi, Nam Dương. Công Ước LHQ về Luật Biển công nhận cho các quốc gia duyên hải 200 hải lý thềm lục địa để được độc quyền khai thác dầu khí. Thềm lục địa có thể kéo đài tới 350 hải lý, nếu về mặt địa hình, đáy biển là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển. Tứ Chính, Cỏ Rong, Natuna, nằm trên thềm lục địa Việt Nam, Phi luật Tân và Nam Dương, cách bờ biển Trung Hoa từ 500 đến 1000 hải lý hiển nhiên không thuộc thềm lục địa Trung Hoa.
Do đó từ 1983, sau khi ký Los Convention 1982, Bắc Kinh nêu lên thuyết Lưỡi Rồng trong chiến dịch hỏa mù, rồi nguỵ tạo tài liệu lịch sử đòi chủ quyền hải phận tòan vùng Nam Hải.
Năm l992 Bắc Kinh tự tiện ký khế ước với Công Ty Creston để khai thác dầu khí tại phía đông Tứ Chính. Mục tiêu của họ là gây hỗn lọan, bất ổn tại vùng duyên hải, rồi đưa ra đề nghị hòa đàm song phương, tạm gác vấn đề chủ quyền để cùng khai thác chung như Đại Hàn, Nhật Bản.
Tuy nhiên Đại Hàn Nhật Bản là hai quốc gia duyên hải đối diện nhau và có thềm lục địa chung tại nhiều khu vực. Như trong vùng eo biển Đại Hàn, các hải đảo của hai quốc gia chỉ cách nhau từ 40 đến 100 hải lý. Khai thác chung trong trường hợp này là hợp lý.
Tại khu Trường Sa trái lại, không có thềm lục địa chung giữa Trung Hoa, Việt
Nam và Phi Luật Tân. Do đó vấn đề khai thác chung không đặt ra. Hơn nữa tại nhiều khu vực có tới 3, 4 hay 5, 6 quốc gia cùng đòi chủ quyền hải đảo. Do đó cần có một hội nghị điều giải đa phương, một tòa án trọng tài hay tòa án quốc tế để giải quyết dứt khóat vụ tranh chấp.
2. Về Hòang Sa.
Chiếu Công Ước về Luật Biển, Hòang Sa thuộc thềm lục địaViệt Nam vì tọa lạc trong phạm vi 200 hải lý từ đường căn bản hay bờ biển. Khỏang cách từ cù lao Ré (Quảng Ngãi) ra đảo Tri Tôn chỉ có 123 hải lý. Về mặt địa hình đáy biển theo các chuyên viên địa chất, các đảo Hòang Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ đất liền chạy ra biển. Có thể nói Hoàng Sa là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Chiếu Luật Biển 1982 quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm lục địa không tùy thuộc vào sự chiếm cứ. Do đó sự chiếm đóng võ trang của quân đội Trung Hoa không có tác dụng truất phế chủ quyền của Việt Nam tại Hòang Sa.
l0 tiêu chuẩn:
Tại Vịnh Bắc Bộ và Hòang Sa có vấn đề phân ranh thềm lục địa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc và Toà Án Quốc Tế sẽ giải quyết theo các điều khỏan của Công Ước về Luật Biển l982, cũng như các tiêu chuẩn trong luật tục lệ quốc tế ghi chú trong các phán quyết của Toà Án Quốc Tế từ nhiều thập kỷ nay. Tựu chung có 10 tiêu chuẩn hướng dẫn tòa án trong việc phân ranh hải phận.
Đó là:
1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Tại vùng Hòang Sa, từ đảo Tri Tôn thuộc Nhóm Lưỡi Liềm tới lục địa Việt Nam khỏang cách đo được 135 hải lý, trong khi đảo Hoàng Sa cách lục địa Trung Hoa lối 235 hải lý.
2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển tiếp cận. Như đã trình bày, đảo Hòang Sa quá nhỏ bé (0.56km2) chỉ bằng một phần ngàn đảo Phú Quốc (568km2) trong khi bờ biển Việt Nam dài gấp 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hòang Sa.
3) Về mặt địa hình đáy biển, các đảo, cồn, đá, bãi Hòang Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ thềm lục địa Việt Nam (dãy Trường Sơn ) chạy ra biển. Nếu nước biển rút xuống khỏang 700m, giải Hòang Sa sẽ biến thành một hành lang chạy thoai thoải từ bờ biển Việt Nam ra khơi. Theo Công Ước LHQ về Luật Biển, NỀN LUC ĐIA bao gồm thềm lục địa cộng với đường dốc xuống biển và những bình nguyên, cao địa, chóp biển, bãi cao và sườn đá dưới biển. Nền lục địa có thể dài hơn 200 hải lý, tối đa 350 hải lý. Theo sự nhận xét của các chuyên gia tại Trung Tâm Hải Học Đông Tây (Hawai), Việt Nam có nhiều triển vọng được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc quyết định cho nới rộng thềm lục địa tại Hòang Sa và Trường Sa qua mức 200 hải lý cho tới 350 hải lý.
4) Về mặt địa chất, các thủy tra thạch kết tụ các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu Long chảy từ cao nguyên Tây Tạng xuống đáy biển Hòang Sa Trường Sa từ cả triệu năm nay. Không có con sông lớn nào từ lục địa Trung Hoa hay đảo Hải Nam chảy ra biển Nam Hải cho phép Trung Hoa quyền khai thác các túi dầu khí tại vùng này
5) Về sinh thực học và khí hậu tại Hòang Sa và Trường Sa, các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho vùng nhiệt đới (Việt Nam ), chứ không thấy ở vùng ôn đới (Trung Hoa).
6) Biển Đông với Hòang Sa Trường Sa có ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng mật thiết với Việt Nam nhiều hơn Trung Hoa. Vì Trung Hoa còn có biển Hòang Hải và Đông Trung Quốc Hải chạy thông qua Thái Bình Dương.

7) Về mật độ dân số, các hải đảo Hòang Sa và Trường Sa không có thường dân cư ngụ, không có nước ngọt và không thể tự túc về kinh tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông hơn mười lần số dân sinh sống tại đảo Hải Nam.
8) Về Khu Đặc Quyền Kinh Tế (để đánh cá), bờ biển Trung Hoa dài gấp
3 lần bờ biển Việt Nam. Do đó, Biển Đông (với Hoàng Sa và Trường Sa) là khu vự đánh cá căn bản của Việt Nam. Đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý để đánh cá về phía Đông thông ra Thái Bình Dương.
9) Tại thềm lục địa Việt Nam những vùng có dầu khí nằm trong vịnh Bắc Bộ và khu vực bãi Tứ Chính ở ngòai khơi Nam Bộ. Đây là những nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng các chất hữu cơ từ sông Hồng Hà và sông Mê Kông chảy ra biển từ hàng triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không phải từ Hoa Lục. Hơn nữa Đảo Hải Nam còn được 200 hải lý thềm lục địa để khai thác dầu khí về phía Đông thông ra Thái Bình Dương.
10) Các tài liệu sách báo, họa đồ, các chứng tích lịch sử v...v... phải có tính xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố khách quan khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, dân số, sinh thực học, khí hậu v.v... Nhất là nó không thể đi ngược lại các điều khỏan của Công Ước về Luật Biển và các nguyên tắc thành văn của Luật Tục Lệ Quốc Tế do Tòa Án Quốc Tế áp dụng từ nhiều thập kỷ nay.
Vấn đề căn bản đặt ra cho Hoàng Sa Trường Sa là các đảo, cồn, đá, bãi quá nhỏ bé, quá rải rác, không có nước ngọt, không có dân cư sinh sống và không tự túc về kinh tế, nên không được coi là đảo theo nghĩa luật định. Nếu không phải là đảo theo nghĩa pháp lý thì không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.
3. Về Vịnh Bắc Bộ.
Vấn đề phân ranh thềm lục địa hay hải phận tại Vịnh Bắc Bộ cũng phải được
giải quyết theo 7 tiêu chuẩn:
1) chiều dài bờ biển 2) mật độ dân số 3) địa hình đáy biển 4) địa chất
5) vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá 6) thềm lục địa để khai thác dầu khí 7) ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng, như đã trình bày ở trên.

VIỆT NAM PHẢI LÀM GÌ"
1) Trước hết Việt Nam phải nhờ các luật gia và chuyên gia quốc tế vẽ ranh thềm
lục địa địa lý hay Nền Lục Địa để yêu cầu Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho nới rộng thềm lục địa qua mức 200 hải lý tới 350 hải lý. 2) Muốn vậy, trước hết Việt Nam phải tuân hành Luật Biển bằng cách vẽ lại và thu hẹp Đường Căn Bản xuống dọc bờ biển cho hợp pháp.
3) Phát triển tối đa kỹ nghệ đánh cá ngòai khơi trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để sử dụng đúng mức, điều hành và bảo tồn nguồn lợi ngư nghiệp thiên nhiên tại Biển Đông.
4) Vận động với các quốc gia trong khối ASEAN yêu cầu đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Đông Nam Á.
5) Đưa vụ tranh chấp Thềm Lục Địa và các Hải Đảo Hoàng Sa Trường Sa ra Toà Án Quốc Tế, nếu cuộc điều giải bất thành.
L. S. Nguyễn Hữu Thống

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.