Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Một Mối Tình

03/08/200400:00:00(Xem: 4591)
Mưa vô mùa, nghĩa là hết một đợt dài lưu diễn, tôi về quê. Má tôi chặt lá, giúc nếp cặm cụi ngồi gói bánh cà bắp, nấu một nồi tám đầy vun bánh. Tôi hỏi má gói chi nhiều vậy, má cười: "Cho cha con thằng Bầu, tội nghiệp tụi nó, nhà không có đàn bà nên cũng có bánh trái gì ăn đâu...". Tôi giành: "Chừng nào bánh chín, để con đem qua bển cho. Má, má mè, anh Hai có tính bước thêm bước nữa chưa, hả má." Má tôi cười: "Chưa, má biểu nó hoài, mà, cái con này, lần nào về cũng hỏi có chuyện đó....". Mình à" Mình sao" Lần nào cũng hỏi chuyện đó à" Ụa, hỏi hồi nào sao mình không hay vậy ta"
Tôi ngủ lưng một giấc, bánh chín, một tay tôi bưng rổ bánh, tay kia xách cây dầm xuống bến. Có xa xôi gì đâu, từ nhà tôi bơi dọc theo rạch Ô Môi, ngược lên hướng mặt trời mọc chừng trăm thước là tới nhà Trọng rồi, nhà trồng nhiều thiệt nhiều cây ô môi, bông đỏ, lá xanh, trái chín không ai ăn, tụi con nít móc xuống làm gươm đánh nhau chan chát. Hai bên đầu nhà trồng toàn vú sữa, cao lớn lắm, già lắm, cỗi cằn lắm, lâu rày không có trái trăng gì hết. Dưới mé kinh còn nguyên một đám nga cao ngồng. Mà, hết cái xóm kinh này có ai có nhà vừa cũ, vừa xưa như nhà Trọng đâu.
Ở nhà Trọng, có nhiều thứ mấy chục năm rồi không thay đổi. Cảnh cũ giữ nguyên đã đành, tính tình lớp người sau cũng y chang người trước, như từ một khuôn đúc ra. Như Trọng vậy, mười năm kể từ ngày chị Ái tôi bỏ Trọng đi, Trọng vẫn giữ nguyên cái khăn choàng tắm treo đầu sào, chiếc nón quai nhung đã ngả màu thâm sì, cũ mèm, giữ cây lược sừng đã gãy mất mấy răng với cái kiếng soi để ở đầu giường nhu thể chị Hai tôi vẫn còn ở đâu đây, như thể chút nữa khi tắm xong, chị sẽ bước vào, chải đầu, rồi vừa nghiêng đầu, vừa quạt hong khô tóc bên cái cửa buồng trông ra hàng lơn nước, chỉ cần một cơn gió nhẹ, lá vú sữa khô nằm trên mái nhà sẽ tuôn xuống như mưa.
Sao tôi lúc nào cũng thèm ngồi ở đó, ở cái vị trí yên bình đó, nhất là bây giờ, khi tôi vừa lang thang hết một mùa nắng. Nhất là khi nghe Trọng biểu thằng Bầu ở nhà bắc nồi cơm để anh đi nhổ vài cọng bông súng nấu với mấy con cá vừa thả câu được hồi hôm. Tôi hỏi, đám trái giác ngoài bờ liếp còn không, thằng Bầu nói còn. "Vậy anh Hai hái giùm em một mớ nấu canh chua ăn thèm quá chừng", tôi dặn với theo. Rồi Trọng quay lưng đi, không để cho tôi kịp nhìn anh kỹ, nhưng thật, thà vậy, Trọng đứng lớ ngớ ở đây một hồi, thể nào không nén lòng, tôi cũng ôm chầm anh khóc. Trời ơi, cảnh này, người này, sao y chang như năm ngoái, năm kia, chỉ khác là thằng Bầu đã lớn, và mớ tóc bạc trên đầu Trọng là thay đổi, nó trắng thêm, nhiều thêm. Tôi tự hỏi mình lòng đang nghĩ đến cái gì mà đau lòng quá vậy cà.
Chị Ái, tôi với Trọng cùng một đám con trai con gái nữa lớn lên cùng nhau trên cái rạch Ô Môi nầy. Cỡ mười bảy, mười tám tuổi, thấy Trọng thương quá, tôi nói chơi chơi với chị Ái: "Em xí thằng Trọng". Chị tôi cười ngất, xong trề môi như đưa đò, "người ta mà em làm như bình bát chín cây vậy, bày đặt xí phần." Ba Trọng mất sớm, má đi lấy chồng ít về, từ nhỏ Trọng sống với ông nội, mười tuổi, ông nội cũng mất, đang ở tuổi con nít chưa hết con nít, người lớn chưa tới người lớn, anh đã gánh vác trọng trách lo hương hỏa cho gia đình. Một mình, với hai con chó, một con mèo, học xong, Trọng còn phải quần quật với chín công ruộng, một mảnh vườn đất cằn cỗi, già nua, lâu rày chưa thu được huê lợi gì, nhưng quí là trên đó chôn cả thảy chín cái mả ông bà, và ngôi nhà gạch đã có ba đời, cất trên nền cao kiểu chữ công, ba gian nhà rộng mênh mông trông ra cái sân gạch trơn rêu, mút sân là cái hàng rào giăng ngang, đứng dưới mé sông nhìn lên, dãy rào che tầm nhìn, chỉ thấy thấp thoáng mái ngói lợp trải màu vừa xanh vừa mốc.
Nhà Trọng có một cái lạ nữa là bàn thờ lúc nào cũng chong đèn, ngày tháng này qua ngày tháng khác, năm này qua năm khác, ngọn đèn truyền thống từ đời cố Trọng, nội, rồi tới Trọng, không bao giờ được phép tắt. Chiều nào chị em tôi đi ngang qua cũng thấy Trọng lọ mọ ngồi lau cái bóng đèn hột vịt ám khói, châm dầu bằng cái vẻ mặt thành kính, nâng niu. Lúc đó, tôi ước thầm phải chi Trọng ngỏ lời thương, tôi sẽ làm hết thảy công việc đó thay Trọng suốt đời, đến khi trở thành bà già cóc kiết, tôi giữ lửa thì hay phải biết. Nhưng Trọng thì lại thích chị Ái hơn tôi, Trọng thương thầm chị cũng nhiều như tôi thương thầm anh vậy. Vậy mà anh không biết còn cắc cớ biểu tôi làm mai. Nên có bữa, tôi hỏi má cho hai chị em đi coi hát, đến cái đập vô xóm Chẹt, Trọng đã bồn chồn chờ sẵn, tôi trao chị cho anh, giả đò đau chân để tụt lại đằng sau một khoảng xa xa. Tới sân ủy ban xã, Trọng với chị tôi mua vé vào coi hát, tôi ngồi ngoài đầu cầu, đập muỗi. Trọng không quên mua cho tôi một ly đá bào như để cảm ơn tôi lắm lắm. Ngồi buồn, nghe văng vẳng trong kia, tuồng thì diễu nhau ong óng như gà kêu đẻ, nhưng nước mắt tôi chảy ròng ròng lúc nào không biết. Vài người trong đoàn hát thấy, họ hỏi, sao khóc mò vậy, tôi cười thưa, tại tuồng cải lương hay quá. Họ cười, sao nhạy nước mắt như vậy, đi hát đi, đem nước mắt ra để lấy nước mắt người ta.
Tôi thưa với má cho lên thị xã xin vô Đoàn Cải Lương Bông Tràm, lang thang nguyên một mùa nắng, mùa mưa về thăm má. Cũng có lúc gặp Trọng, kêu anh Hai ơi, anh Hai à, tuồng như anh em một nhà thương nhau lắm, (ai mà có biết thương thiệt). Cũng có lúc viện cớ qua thăm nom thằng Bầu, ôm nó lên, nựng nịu, đả đớt, coi nó giống Trọng chỗ nào, mà giống chỗ nào tôi cũng ưa. Cũng có lúc ngồi trân trân ngó chị Ái tôi mặc áo đỏ, chân xỏ guốc cao đi ngúc ngắc trong nhà, thấy không hợp mà cũng không muốn nói ra. Chị thì lại nhìn tôi, săm soi guốc giày, quần áo tôi rồi tấm tắc, "Em sướng thiệt...". Tôi cười. "Chị cũng sướng thấy mồ, anh Trọng hiền khô, lại thương vợ...". Chị cười nhẹ, "Thương thôi thì được cái gì. Chị không hợp với cảnh nhà này, thầy Thành nói vậy...." Tôi hỏi, thầy Thành nào, chị cười, thầy mới về dạy trường xã mình nè, thầy hay lại nhà chơi, chưa vợ nên hay biểu chị làm mai, tưởng chuyện chi khó, con gái xứ này giỏi giang thiếu gì. Có lần, thầy thấy chị ngồi lau ống khói đèn thờ, thầy bảo, xứ này không hợp với chị, thầy nói câu nào nghĩ lại cũng trúng. Em gặp thầy một lần coi, thầy Thành nói chuyện hay lắm, thì người ta từ thành phố xuống mà. Nghe kể chuyện trên đó rồi, chị thấy sống ở đây chán thiệt, chán thí mồ đi. Gì mà ngày mà cũng giống y ngày nấy, hổng thấy thay đổi gì hết trơn."
Vậy rồi tôi lại đi, một bữa má tôi lên thăm, mới vừa bước chân tới cửa đã vừa nói vừa khóc: "Con Ái tệ quá, nó bỏ chồng nó theo người ta rồi. Biết nó hư thân như vậy, má thà sanh ra cái hột gà, hột vịt còn hơn. Thôi, hết rồi, coi như đời này má không coi nó là con nữa." Rồi má hỉ mũi cái rột: "Con coi kỹ, có phải cái nhà thằng Trọng chỉ có đàn ông là sống được"" Tôi không trả lời, Trọng mà rước tôi về bên ấy, chừng nào tôi bỏ đi.
Trời Ô Môi rộng vô cùng, đất thênh thang vô cùng bởi những khoảng trống mà chị Hai tôi bỏ lại. Má tôi xấu hổ vì con gái một dạ hai lòng, nhà có gì ăn cũng chắt chiu cho cha con Trọng, như bù đắp nỗi đau, nỗi thiệt thòi. Tôi cười thầm má tôi hoài, buồng chuối xiêm, trái mướp, nắm rau với mấy cái bánh con con làm sao bù đắp nổi một con người, sao má không đem tôi qua bển để đền, tôi hy sinh liền cho má coi. Nhưng từ lúc chị Ái tôi bỏ đi, cứ mỗi lần qua nhà, Trọng lánh đi chỗ khác. Tôi buồn, trách. Thằng Bầu, mới sáu tuổi, nhưng trở thành xướng ngôn viên cho ba nó, biểu: "Dì Út đừng có giận, ba con nói Dì Út giống má con quá, nhìn Dì, ba con chịu không nổi."
Mười năm rồi, không biết đã thay đổi gì chưa. Tôi hỏi thằng Bầu lúc rày ba nó làm gì mà đen thui vậy. Thằng Bầu nói, hết mùa, ba nó ra bến đò ngoài thị trấn, chạy đò dọc. Nhiều công chuyện lắm, ba con nói, còn coi sóc cái rẫy khóm ngoài liếp nữa.

Trọng không nghèo, nhưng cũng chưa đủ giàu để sửa lại ngôi nhà đã bệu rệu. Mối mọt, bù xè thi nhau tấn công vào những cây cột gỗ, bộ ngựa chân quí, mấy cái tủ thờ, trường kỷ. Tôi nằm nghe rõ ràng bù xè nhai cây trèo trẹo. Thằng Bầu nói, con mèo mướp càng già càng tệ, mỗi lần bắt được một con chuột là mỗi lần làm ngói rớt xuống, bể tan nát. Thật ra, với tài bươn trải, tháo vát, tần tiện, lại thêm má tôi giúp đỡ, Trọng có thể cất được một ngôi nhà khác, gọn gàng, vừa đủ để ở.
Tôi nói gần xa, chê chỗ này cây mục, chỗ kia kèo sắt gãy. Trọng nói, anh cũng lo không biết căn nhà có qua nổi mùa mưa năm nay hay không. Không biết cha con anh có còn giữ gìn được những bức liễn trạm trổ cầu kỳ, những bức tranh vẽ cảnh đồng quê, trời đất, trâu bò, trẻ con hiền hòa, nhhững tờ giấy dán tường vẽ truyện Trầu Cau, truyện Tấm Cám, rồi cái giường, cái ngạch cửa... Bữa nào mưa lớn, hai cha con cũng chạy xất bất xang bang. Tôi hỏi chạy làm gì, thằng Bầu cười: "Chạy đi lấy đồ hứng nước dột đó, Dì Út." Tôi cười:
-Anh Hai à, để vậy hoài đâu có được, thôi cất nhà mới cho rồi, ông bà mình rồi cũng hiểu cho mình chớ chấp nhứt gì.
Trọng chỉ cười nhẹ, ngó ra khoảng sân nắng. Thằng Bầu cười: "Dì Út giống hệt Ngoại biểu, y chang. Ba con nói với con hoài, ba con hỏng muốn thay đổi gì hết, để má con còn nhớ được đường, nhớ được nhà mà về."
Trời ơi, tới bây giờ Trọng còn mong một ngày như thế, cái ngày mà chị tôi sẽ trở về. Chị sẽ về ư" Sẽ về à" Không biết! Chỉ biết anh giữ nguyên cảnh cũ nhà xưa là để chờ người đang sống. Tự nhiên bụng tôi thấy rầu. Bầu lại tròn con mắt: "Để con nấu cơm đãi Dì một bữa, chút xíu nữa, cơm chín rồi, Dì ở lại ăn cơm với ba con, trừ Ngoại ra, lâu lắm nhà con mới mời được một người."
Càng lớn, thằng Bầu càng giống Trọng, tử tế, đàng hoàng, lại pha thêm một chút gàn gàn. Bữa giỗ, Trọng uống hơi nhiều, nó ngồi kế bên nhắc: "Ba, ông cố nói, uống rượu có chừng thôi, uống ít còn nhiều, uống nhiều là mất hết đó". Cao hứng cỡ nào Trọng cũng ngưng lại ngay đó, ai cũng lạ khi thấy thằng con nói vậy mà cha cũng nghe.
Bây giờ, Bầu vừa bước qua tuổi mười lăm, chưa chắc nó nhớ chuyện cũ. Hai dì cháu lụi hụi trong bếp, tôi hỏi: "Bầu, còn nhớ má hôn con"", nó ngần ngừ một lúc, nhìn quanh, rồi nó thầm thì: "Con cũng hổng biết, con sợ ba con buồn... Hồi má con đi, con mới chút tẳn chớ gì....". Nó nói, có má cũng được, mà không có cũng được. Bây giờ, quần áo rách, nó tự may được rồi, nhà cửa, nó dọn dẹp gọn bân, nhưng cũng có lúc nó cần có má, để hỏi vài chuyện... Tôi hỏi chuyện gì, nó cười, bẻn lẻn, dường như những câu chuyện đó, người ta chỉ dành để nói với má người ta. Tôi thương nó chút nữa đã ghì đầu nó ôm vào ngực. Chợt nó hỏi:
-Sao Dì Út không lấy chồng, Dì ở vậy hoài Ngoại rầu lắm đó."
-Dì còn phải đi hát.
-Dì hát vui hay Dì lấy chồng vui"
Tôi cười, lấy chồng vui hơn, nhưng phải lấy ngay trân người mình thương kìa. Còn đi hát thì không vui không buồn, mơ hồ lắm, thấy cười ha ha chưa chắc đã vui, thấy rặn ra một đống nước mắt vậy mà hổng phải buồn. Có lúc đang ở nhà lại muốn đi, có lúc đang hát ở trên sân khấu vậy tự nhiên thèm về nhà. Bầu hỏi tôi thường đóng vai gì, tôi kể, nhiều lắm, hiền có, ác có, mà toàn vai phụ không thôi... Tự dưng tôi nghe nỗi buồn chao chát trong lòng, tôi bảo, nhưng có một vai Dì thèm mà không ai cho đóng, vai gì hả, vai một người bình thường, có chồng, sống với nhau trong căn nhà xưa, cũ kỹ. Buổi sáng, chở mớ rau vườn ra chợ, mua ít thức ăn về nấu bữa cơm trưa, chiều phụ chồng mần cỏ rẫy, chạng vạng chờ chồng từ ngoài đìa vác một mớ bông súng bước vô nhà.... Và để được nghe con trai mình nói với mình những câu chuyện chỉ để dành nói cho má nó nghe thôi. Ừ, Dì chỉ ước có vai bình thường vậy....
Trọng đang nằm võng, tôi nghe nhịp đưa vùn vụt rồi cò kẹt dùng dằng chậm lại, tôi biết anh có nghe lời tôi nói. Căn nhà tự nhiên lặng lẽ đến kỳ lạ, nghe tiếng thằng Bầu thở ngỡ ngàng, nghe cả tiếng ơ cá kho sôi tăm tăm trên bếp, tôi ngửi đâu đây mùi bông súng Đà Lạt thơm dịu, ngọt thanh, pha cái mùi tanh tanh của bùn dưới đáy ao. Không lẽ im re hoài, tôi nói với Trọng, rằng anh có nhớ chị Hai thì cũng vậy thôi, người vẫn chưa về, thử thương tôi đi, tôi sẽ giúp thằng Bầu nấu cơm, vá áo, giúp anh lau ống khói, châm dầu cái đèn, giữ cho ngọn lửa suốt đêm ngày le lói, như giữ vạn truyền thống nhà mình đã trăm năm nay. Sau này, chị Hai có về, tôi sẽ trao anh lại, như ngày xưa vậy, tôi làm cũng được lắm mà, gọn bân chớ gì.
Mà trời ơi, Trọng ác với tôi chi vậy, sao bắt tôi phải kìm lòng không được để nói ra, nhìn tôi mà không hiểu à"
********
Đọc Nguyễn Ngọc Tư
Lần đầu đọc, trên một tờ báo địa phương, Một Mối Tình, với cái tên Nguyễn Thị Ngọc Tư, mê quá, Gấu tôi bèn lóc cóc type, post ngay lên Tin Văn.
Hỏi, có phải một tác giả trong nước. Trả lời, không.
Cho tới bi giờ, Gấu tôi vẫn chưa thể biết, Nguyễn Thị Ngọc Tư của Một Mối Tình, và Nguyễn Ngọc Tư , là một"
Nếu bạn nghĩ văn chương Việt Nam bi giờ ẹ lắm, và nhà văn Việt Nam bi giờ dốt quá, Gấu tôi khuyên, nên tìm đọc Nguyễn Ngọc Tư.
Nhân vật nam trong truyện của bà, đa số thường bội bạc, và thường bỏ đi, theo một hình bóng khác.
Hình bóng khác này, phải chăng là một... lý tưởng"
Nhà văn gốc Ấn độ, tác giả những vần thơ của quỉ, Rushdie, trong cuốn Nụ Cười Của Con Báo, viết:
Khi chính quyền Reagan khởi động cuộc chiến chống Nicaragua, ông thấy mình đứng về xứ sở nhỏ bé của một lục địa [Trung Mỹ] mà ông chưa từng đặt chân tới. Và ông ngày càng quan tâm, "bởi vì, nói cho cùng, bản thân tôi là một đứa con của một cuộc nổi dậy thành công, chống lại một quyền lực lớn, ý thức của tôi, là sản phẩm của cuộc chiến thắng của cuộc cách mạng Ấn Độ."
"Nhưng có lẽ, điều trên còn thực, ở chỗ này, rằng những người như chúng tôi, vốn không hề có nguồn gốc ông bà ông vải, từ những xứ sở Tây Phương, hay Phương Bắc, chúng tôi cùng có chung một điều gì đó - chắc chắn không phải là một điều chi thật là giản đơn, thí dụ như, những con người thuộc thế giới thứ ba - nhưng ít ra, cái cảm nhận chung của chúng tôi, là một cảm nhận thế nào là yếu đuối, thế nào là một cái nhìn từ dưới, ngước lên trên....".
Và khi có cơ hội tới Nicaragua, ông thú nhận, không tới, với ý nghĩ, mình giản dị chỉ là một quan sát viên không đứng về phe nào.
Tôi nghĩ, những người nhận xét văn học Việt Nam bi giờ ẹ quá, là do, họ chưa hề cảm nhận, có một nền văn học khác hẳn nền văn học của miền bắc. Nền văn học của miền bắc, theo tôi, là một nền văn học chưa hề biết đến cái cảm thức, thế nào là yếu đuối. Thế nào là từ dưới ngó lên. Sự thất bại của Tự Lực Văn Đoàn cho thấy cái nhìn kẻ cả ở trên cao ngó xuống người dân quê mở đường cho nền văn chương 'hiện thực xã hội chủ nghĩa", cho chính sách "tam cùng", của Cộng Sản.
Liệu những nhà văn miền nam theo miền bắc, khi viết Hòn Đất, Những Bức Thư Từ Tuyến Đầu Tổ Quốc, họ cảm nhận ra sự yếu đuối của miền nam, và cầu cứu người anh em ruột thịt miền bắc" (1)

Chiến thắng miền nam càng làm cho nó - nền văn học cách mạng, chuyên chính vô sản, cái nhìn sử thi... - một thêm kiêu hãnh. Lẫm liệt một thời, Nguyễn Khải đã từng tự hào.
Phải nhìn như thế, mới thấy tầm mức, ảnh hưởng, sự quan trọng, và cần thiết, của những nhà văn như là Dương Thu Hương, hay Nguyễn Huy Thiệp

Và, lẽ tất nhiên,
Nguyễn Ngọc Tư.

Nói NNT là thuộc truyền thống những nhà văn miền nam như Hồ Biểu Chánh chẳng hạn, thực ra cũng chỉ đúng có phân nửa. Thời HBC, chưa có cái vụ bỏ vợ bỏ con chạy theo... lý tưởng, ở mãi miền bắc!

Jennifer Trần đọc và giới thiệu

Chú thích: Mấy ông này, nói theo Võ Phiến, thoắt ở trong nam với một bút hiệu, thoắt lại ra bắc với bút hiệu khác.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.