Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Thử Định Danh Cuộc Chiến

26/05/200500:00:00(Xem: 5615)
Cuộc chiến Việt Nam kéo dài từ 1946 đến 1975, trong ba mươi năm tròn. Cuộc chiến nầy chẳng những là một trong những cuộc chiến dai dẳng trong lịch sử Việt Nam, mà còn là cuộc chiến phức tạp nhất của lịch sử Việt Nam. Vì quá phức tạp, nên việc định danh cũng gặp nhiều tranh cãi phức tạp.
1.- GIẢI PHÓNG HAY UỶ NHIỆM"
Có một số người viết rằng cuộc chiến vừa qua là cuộc kháng chiến “giải phóng dân tộc” (năm 1946), “giải phóng miền Nam” (sau năm 1954), và thêm phụ đề “chống Mỹ cứu nước”(từ năm 1965). Câu hỏi đầu tiên đặt ra là có thực đảng Lao Động (LĐ), tiền thân của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), phát động cuộc chiến từ năm 1946 đến 1975 là để giải phóng dân tộc, giải phóng miền Nam hay không"
Về vấn đề giải phóng dân tộc, xin chú ý là tại Nga, cuộc cách mạng cộng sản diễn ra vào ngày 7-11-1917. Sau khi ổn định tình hình nội bộ, nắm thật vững quyền hành, đảng Cộng Sản Liên Xô (CSLX) bắt đầu nghĩ đến việc bành trướng thế lực ra nước ngoài từ năm 1922. Để đối đầu với các cường quốc Âu Mỹ đã chiếm được thuộc địa từ thế kỷ 19, Liên Xô đưa ra chiêu bài giải phóng dân tộc, huấn luyện cán bộ, xúi giục và giúp đỡ các nước bị đô hộ (thuộc địa) nổi lên chống các cường quốc thực dân Âu Mỹ giành độc lập, rồi gia nhập vào khối Liên Xô.
Chính trong chiều hướng đó, ông Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) được tuyển chọn đưa sang Liên Xô vào cuối năm 1923 để được huấn luyện thành một cán bộ cộng sản, chuẩn bị gởi về Đông Á hoạt động và cũng chính vì vậy, Nguyễn Ái Quốc mới viết Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925.
Theo nghĩa tầm nguyên, giải phóng là cởi mở ra cho tự do, nghĩa là đưa một cái gì từ tình trạng bị giam hãm kềm kẹp đến tình trạng được thoát ly và tự do, tức từ chỗ xấu đến tốt hơn. Đàng nầy, với đảng CSVN, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước có nghĩa là tách nhân dân Việt Nam ra khỏi tay thực dân Pháp, rồi đặt nhân dân Việt Nam dưới chế độ độc tài, độc đảng, khủng bố một cách có hệ thống, có bài bản, của Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN.
Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng CS là trường hợp đầu tiên và duy nhất đã lợi dụng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, khát vọng độc lập tự do của nhân dân, đưa ra chiêu bài giải phóng dân tộc, kêu gọi dân chúng tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, "đế quốc" Mỹ, rồi lại thiết lập một chế độ độc tài hơn cả ngoại bang thực dân, đế quốc. Nếu độc giả nghi ngờ điều nầy, thì xin đọc lại nguyên văn đoạn sau đây trong sách Lịch sử Việt Nam tập II, bộ sử chính thức của đảng CSVN: "Sau một thời gian nắm tình hình cách mạng Việt Nam và Đông Dương, ngày 10-5-1941, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Hồ Chủ tịch triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương lần thứ 8 ở Pắc Bó. Các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài đã tham gia Hội nghị. Hội nghị phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước, vạch rõ triển vọng của cuộc chiến tranh thế giới và khẳng định: Nếu sau Chiến tranh thế giới lần thứ I, xuất hiện nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên là Liên Xô, thì cuộc chiến tranh đế quốc lần nầy sẽ làm cho cách mạng nhiều nước thành công, sẽ có thêm nhiều nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Đảng nhấn mạnh phải xem cách mạng Việt Nam như một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới...” (Nguyễn Khánh Tòan và một nhóm tác giả, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1985, tt. 320-321. Trong lời nhà xuất bản có ghi: “được đồng chí Trường Chinh, uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho những ý kiến và tư tưởng chỉ đạo.”)
Như vậy rõ ràng, đảng Cộng Sản quyết tâm làm cách mạng ở Việt Nam để trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới và để tiến đến xã hội chủ nghĩa như ở Liên Xô. Lúc ông Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đến Liên Xô vào cuối năm 1923, nền kinh tế Liên Xô đã suy sụp, dân tình đói khổ. Cuối năm 1924, ông Nguyễn Ái Quốc qua Trung Hoa. Khoảng cuối năm 1933 hoặc đầu năm 1934, ông Nguyễn trở lui Liên Xô và sống tại đây cho đến tháng 10-1938, lại trở qua Trung Hoa lần nữa. Hai lần sống ở Liên Xô trong thời gian tổng cộng khoảng năm năm, đủ cho ông Nguyễn Ái Quốc thấy rõ chính sách độc tài với chủ trương kinh tế chỉ huy triệt để bằng những kế hoạch ngũ niên của đảng CSLX, đã làm cho dân Nga đói kém cùng cực. Tại Liên Xô, nạn đói lần thứ nhất xảy ra vào các năm 1921-1922 giết mất 5 triệu người, nạn đói lần thứ nhì xảy ra vào các năm 1932-1933 làm cho 6 triệu người chết. Chắc chắn ông Nguyễn Ái Quốc biết rõ điều nầy vì ông có mặt tại Liên Xô trong khoảng thời gian trên, nhưng ông vẫn theo đuổi con đường cộng sản vì tham vọng cá nhân ông.
Một người đã từng tham gia suốt chiều dài của cuộc chiến, ông Bùi Tín, cựu đại tá Quân đội CSVN, đã thừa nhận như sau: “Đảng Cộng Sản đã cùng nhân dân giành lại độc lập trong tay thực dân, đồng thời tước đoạt quyền sống tự do của nhân dân. Chính đây là tấn thảm kịch âm thầm và bi đát suốt 60 năm nay. Lẽ ra họ phải lập nên nền dân chủ chân chính, chịu để cho nhân dân giám sát qua những cuộc bỏ phiếu định kỳ hoàn toàn tự do, bình đẳng với các đảng tự do dân chủ khác mà hiến pháp đã quy định và cho phép. Họ gian lận để một mình một chiếu, đứng ngoài và đứng trên luật pháp, ăn gian về chính trị suốt 60 năm, bằng các cuộc bầu cử phi pháp “đảng cử dân bầu”, buộc nhân dân cúi đầu chấp nhận một cách bị động, bị cả thế giới lắc đầu chê cười phủ nhận. Nhà báo Jean lacouture rất am hiểu Việt Nam suốt 60 năm nay, mới đây đã nhận định rằng tai họa giáng xuống đầu dân tộc ta - chiến tranh, chia rẽ, tàn phá - chỉ vì đảng Cộng Sản Việt Nam đã thực hiện một chế độ thực dân đối với dân mình, còn tệ hơn thời thuộc Pháp! Lacouture đã sáng tạo ra chữ “autocolonisation” để chỉ hiện tượng nầy, nghĩa là chế độ thực dân thực hiện bởi chính những đồng bào mình. Cho nên nhiều người Việt Nam có tâm huyết cảm thấy bơ vơ ngay trên đất nước mình.”(“Cung đình Hà Nội bước vào mùa hè nóng bỏng”, Người Việt Online, 11-5-2005.)
Còn vấn đề chống Mỹ cứu nước, thì cần chú ý từ sau thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ đã giúp đỡ các nước trên thế giới như Pháp, Đức, Nhật Bản (nước bại trận dưới tay Mỹ), Nam Hàn... mà Hoa Kỳ có xâm lăng nước nào đâu" May mắn cho Nhật Bản là chính phủ của họ không dại dột chống Mỹ cứu nước, dầu người Nhật có tinh thần yêu nước và tinh thần võ sĩ đạo rất cao, nên từ một nước bị đổ vỡ hoàn toàn vì chiến tranh, lãnh hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945), ngày nay Nhật Bản (rộng 377,835 Km2) là một trong bảy cường quốc kinh tế thế giới (nhóm G7), trong khi chiếc nôi trước đây của chủ nghĩa Mác-Lê trên thế giới, nước Cộng Hòa Liên bang Nga (rộng 17,075, 200 km2), giàu tài nguyên hơn, nhưng vì do CS cai trị trong 70 năm qua, nên đang còn ở ngoài nhóm G7.
Riêng Việt Nam, CSVN trước đây quyết “chống Mỹ cứu nước”, thì tại sao ngày nay thủ tướng CSVN lại thân hành qua tận thủ đô Mỹ ngày 21-6 sắp tới, chính yếu là để xin Mỹ viện trợ, hoặc xin Mỹ giúp cho vào WTO (World Trade Organization)" Không đi xin viện trợ thì không lẽ đi thăm chơi như ông Bill Clinton, qua Hà Nội cưỡi ngựa xem hoa trước khi mãn nhiệm, hết còn dịp công du"
Như thế, việc định danh cuộc chiến dựa trên ý nghĩa giải phóng dân tộc, hoàn toàn không sát với thực tế diễn ra từ trong cuộc chiến và sau cuộc chiến. Ở hải ngoại, vừa qua có dư luận định danh cuộc chiến 1954-1975 là cuộc chiến uỷ nhiệm giữa hai thế lực tư bản quốc tế và cộng sản quốc tế trong chiến tranh lạnh thông qua hai miền Bắc và Nam Việt Nam. Thật ra, cuộc tranh chấp quốc cộng xảy ra từ khi Hồ Chí Minh theo lệnh của Đệ tam Quốc tế sang Trung Hoa vào cuối năm 1924 và thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930. Cuộc tranh chấp nầy khi ngấm ngầm, khi công khai, qua nhiều giai đoạn, nhất là từ 1945 đến 1975, và kéo dài cho đến ngày nay.
Nhiều người Việt chống cộng vì CS không thừa nhận quyền sống của họ, chứ không phải họ được ai uỷ nhiệm. Hiện nay, không kể Cộng đồng người Việt hải ngoại, ở trong nước, có rất nhiều người chống Cộng, có người tích cực công khai, có người thụ động yên lặng, vì CSVN không cho họ được quyền tự do, được quyền bình đẳng về chính trị, về tôn giáo, về ngôn luận, thậm chí cũng không cho họ được quyền bình đẳng yêu nước. Đây là một hiện tượng chiến tranh lạnh giữa người Việt với người Việt, ngay trong nước Việt mà CS gọI là “diễn tiến hòa bình”, và không biết khi nào bùng nổ thành chiến tranh nóng. Như thế chẳng có ai uỷ nhiệm mà người Việt vẫn tiếp tục chống cộng.
2.- CÁC GIAI ĐOẠN CỦA CUỘC CHIẾN
Trước khi thử định danh lại cuộc chiến 1946-1975, có lẽ nên phân chia lại các giai đoạn trong cuộc chiến, dựa trên thực tế chính trị và quân sự đã diễn ra trước đây. Thông thường, dựa trên mốc thời gian là Hiệp định Genève năm 1954, nhiều người chia cuộc chiến Việt Nam vừa qua thành hai giai đoạn: từ 1946 đến 1954 và từ 1956 đến 1975. Tuy nhiên, nếu đi vào chi tiết hơn một chút, cuộc chiến có thể chia thành ba giai đoạn như sau:
a) Giai đoạn 1946-1949: Một trong những chủ trương của đảng Cộng Sản Đông Dương được đưa ra tại hội nghị Võng La (Đông Anh) từ 25 đến 28-2-1943 là “bắt tay có điều kiện với phái Pháp Đờ Gôn” (Nguyễn Khánh Toàn, sđd. tr. 327, trích nguyên văn), để tiêu diệt các đảng phái đối lập, nên ngay từ năm 1946, Hồ Chí Minh đã ký hiệp định Sơ bộ với đại diện Pháp là Sainteny ngày 6-3-1946, thỏa hiệp với Pháp và sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa sau khi quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật ở bắc vĩ tuyến 16. Hiệp định nầy chính thức hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp ở Việt Nam.
Việc khủng bố, tiêu diệt các đảng phái và những nhà hoạt động chính trị không cộng sản, cùng với việc ký hiệp định Sơ bộ, đã khiến cho dân chúng phản đối Hồ Chí Minh và Mặt trân Việt Minh (MTVM), nên viện cớ quân Pháp gây hấn khi ra tới Hà Nội, Hồ Chí Minh và MTVM vội quyết định tấn công Pháp đêm 19-12-1946, để lấy lại chính nghĩa dân tộc, mới có thể tiếp tục nắm giữ vai trò lãnh đạo quần chúng.
Kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập, giải phóng dân tộc, ai mà không hăng hái" Do đó, hàng hàng lớp lớp, nam phụ lão ấu, lên đường phục vụ kháng chiến. Vì lúc đầu còn yếu thế, Hồ Chí Minh và MTVM rút lui chủ lực lên chiến khu để bảo toàn lực lượng, và giao cho những thành phần du kích không phải là nòng cốt ở lại chống Pháp, để làm hàng rào cản đường. Pháp tạm chiếm các thành thị và các vùng phụ cận.
b) Giai đoạn 1949-1954: Đến năm 1949, có hai biến cố quan trọng làm thay đổi tính chất của cuộc chiến: thứ nhất sự thành lập chánh phủ Bảo Đại ở trong nước và thứ hai là sự thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH).
Thứ nhất, trong khi chiến đấu chống Pháp, Hồ Chí Minh và MTVM vẫn tiếp tục khủng bố, tiêu diệt có hệ thống những thành phần chính trị không CS, nên những người theo đường lối quốc gia dân tộc với lập trường tự do dân chủ tách dần ra khỏi MTVM. Những người nầy bị dồn vào thế tranh đấu sống còn với Việt Minh, và chỉ còn con đường duy nhất là chẳng đặng đừng phải tạm thời liên kết với Pháp, tìm kiếm một giải pháp chính trị để chống cộng, vì qua một thời gian kinh nghiệm ngắn, nay họ ý thức được rằng hiểm họa cộng sản nguy hiểm hơn cho đất nước, cho tự do dân chủ của quần chúng và cho chính sinh mạng của họ.
Nhân vật thích hợp nhất cho giải pháp nầy được nhiều người lúc đó nghĩ đến là cựu hoàng Bảo Đại, một người không đảng phái, lại đứng giữa các đảng phái, và là vị cựu hoàng đã tự nguyện thoái vị năm 1945, từ bỏ quyền lợi gia tộc vì sự đoàn kết quốc gia.

Về phía người Pháp, họ cũng cần tìm một giải pháp chính trị cho cuộc đối đầu với Việt Minh cộng sản. Pháp biết rằng ông Bảo Đại ở vị trí đơn thân, không có phe nhóm, không có đảng phái chính trị đứng sau lưng. Nói cách khác, cựu hoàng Bảo Đại có tiếng, mà không có thực lực chính trị, nên không nguy hiểm.
Chẳng những thế, trước mắt chính giới quốc tế lúc đó, cựu hoàng Bảo Đại là nhân vật sáng giá nhất, đứng giữa các phe nhóm chính trị Việt Nam từ tả (Việt Minh cộng sản) đến hữu (Việt Nam Quốc Dân Đảng), và cũng là nhân vật được lòng toàn dân cả ba miền Bắc, Trung và Nam Việt Nam, hơn hẳn các nhân vật điạ phương của từng miền.
Vì vậy, năm 1949 hình thành giải pháp Bảo Đại. Sau những cuộc thảo luận kéo dài từ vịnh Hạ Long vào cuối năm 1947, qua Âu Châu, và cuối cùng ở Paris, bằng hiệp định Élysée ngày 8-3-1949, chính phủ Pháp chính thức giải kết hòa ước bảo hộ 1884, trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Hiệp định Élysée, gồm có ba văn kiện: 1) Văn thư của tổng thống Cộng Hòa Pháp, Chủ tịch Liên Hiệp Pháp, gởi hoàng đế Bảo Đại, nói về các vấn đề thống nhất, ngoại giao, nội chính, tư pháp, văn hóa, quân sự, kinh tế, tài chánh của nước Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp. 2) Văn thư của hoàng đế Bảo Đại gởi tổng thống Cộng Hòa Pháp, Chủ tịch Liên Hiệp Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư trên. 3) Văn thư của tổng thống Pháp gởi hoàng đế Bảo Đại bổ túc thêm, theo lời yêu cầu của Bảo Đại, các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao, nhất là việc trao đổi đại sứ.
Tuy hiệp định trao trả độc lập lại cho Việt Nam đã được ký kết, cuộc chuyển giao hành chánh từ chánh quyền Pháp qua chánh quyền Việt tiến hành khá chậm chạp vì hai lẽ: thứ nhất trong chánh phủ Pháp, những thành phần cộng sản Pháp chỉ muốn nói chuyện với Việt Minh, còn những thành phần thực dân thuộc nhóm De Gaulle không muốn trao trả đôc lập cho Việt Nam, nên cùng nhau cố tình gây trì hoãn việc trao trả độc lập; thứ hai chánh phủ Bảo Đại chưa có đủ nhân sự để tiếp nhận hành chánh nhanh chóng. Dù sao, trong thực tế chánh phủ Quốc Gia do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu chính thức ra đời ngày 1-7-1949. Lúc đó sự hình thành chánh phủ Quốc Gia là một lối thoát cho tất cả những những khuynh hướng chính trị không cộng sản. Chánh phủ Quốc Gia chính là tiền thân của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Từ đó, trên đất nước Việt Nam, hiện diện hai chánh phủ song hành là chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) do Hồ Chí Minh thành lập từ 1945 và chánh phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) do Bảo Đại đứng đầu. Do sự hình thành một chánh quyền không cộng sản, và cũng không phải là của thực dân Pháp, nên từ năm 1950, rất nhiều người rời bỏ vùng kháng chiến, trở về vùng Quốc gia của cựu hoàng Bảo Đại. Lúc đó, còn có một số người muốn rời hàng ngũ CS, nhưng lỡ kẹt tham gia bộ đội hoặc lỡ gia nhập đảng CSVN khi hăng hái lên đường chống Pháp, không thể quay trở về được nữa, đành theo luôn CS cho đến năm 1975.
Thứ hai, cũng trong năm 1949, một yếu tố chính trị mới xuất hiện trên chính trường quốc tế. Đó là Mao Trạch Đông thắng thế ở lục địa Trung Hoa, lập ra nước CHNDTH ngày 1-10-1949. Ngay sau đó, ngày 15-1-1950, chánh phủ VNDCCH của Hồ Chí Minh thừa nhận chánh phủ CHNDTH. Thế rồi, chính phủ CHNDTH công nhận trở lại chánh phủ VNDCCH ngày 18-1-1950. Không đầy nửa tháng, đến lượt Liên Xô thừa nhận chánh phủ Hồ Chí Minh ngày 30-1-1950.
Sự xuất hiện của nước CHNDTH làm thay đổi cán cân quân sự ở Việt Nam. Nước CHNDTH tạo một chỗ dựa vững vàng cho VMCS, vừa về chính trị, ngọai giao, vừa về quân sự, và đã viện trợ lớn lao cho VMCS. Nhờ đó, Hồ Chí Minh không ngại ngùng gì để lộ hẳn bản chất cộng sản của chế độ VNDCCH, mở cuộc “Rèn cán chỉnh quân” trong quân đội, và “Rèn cán chỉnh cơ” về phía dân sự năm 1949. Phong trào nầy không mấy thành công, VM tiếp nối bằng phong trào “Chỉnh huấn” năm 1950, do những cán bộ đã được gởi qua CHNDTH học tập rồi về nước thực hành, để siết chặt hàng ngũ, thanh lọc đảng viên và củng cố tư tưởng chuyên chính vô sản.


Lo ngại sự bành trướng của cộng sản ở Á Châu, Hoa Kỳ liền vội vã thừa nhận chế độ QGVN của quốc trưởng Bảo Đại ngày 4-2-1950, và đồng minh của Hoa Kỳ là Anh Quốc thừa nhận chánh phủ Quốc Gia ngày 7-2-1950. Từ đó, các phe tham chiến ổ Việt Nam trở nên phức tạp hơn. Một bên là Việt Minh cộng sản, với sự giúp đỡ to lớn của CHNDTH, Liên Xô và một bên là Quốc gia Việt Nam với sự hợp tác của Pháp và sự viện trợ của Hoa Kỳ và các nước đồng minh.
Việt Minh cộng sản thường tố cáo chính phủ Bảo Đại là bù nhìn của Pháp, vì quân đội Pháp vẫn hiện diện của trong lúc quân đội Quốc gia mới thành lập, và nhất là một số cơ quan Pháp chậm chuyển giao cho chánh phủ Bảo Đại. Điều nầy không ai che đậy hay phủ nhận. Trong khi đó, tuy bề ngoài VMCS có vẻ tự túc chiến đấu, nhưng thực tế cho thấy Việt Minh cộng sản bị điều khiển từ xa bởi hai bậc đàn anh cộng sản là LX và CHNDTH. Tháng 2-1950, Hồ Chí Minh qua CHNDTH và Liên Xô xin viện trợ và nhận chỉ thị về nước thi hành. Trong cuộc gặp gỡ nầy, Stalin ra lệnh cho Hồ Chí Minh thực hiện hai việc chính: thứ nhất tái công khai đảng Cộng Sản và thứ hai tổ chức cải cách ruộng đất theo kiểu cộng sản.(Thành Tín [tức Bùi Tín], Mặt thật, California: Saigon Press, 1993, tr. 67.)
Sau cuộc gặp nầy trở về, Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội 2 đảng CSĐD tại chiến khu rừng núi Tuyên Quang, ra mắt công khai trở lại đảng Cộng Sản dưới danh xưng mới là đảng Lao Động Việt Nam (LĐVN) ngày 19-2-1951, do ông Trường Chinh làm tổng bí thư. Danh xưng đảng Lao Động do Stalin đặt ra, và trong báo cáo chính trị trước Đại hội, ông Hồ Chí Minh công khai thừa nhận: "Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin", và "lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam".(Nguyễn Văn Trấn [đảng viên cộng sản Nam bộ cao cấp], Viết cho Mẹ và Quốc hội, California: Nxb Văn Nghệ tái bản [từ sách trong nước], 1995, tr.150.)
Trong Đại hội nầy, khi cho biết việc đổi tên đảng là do ý kiến của Stalin và Mao Trạch Đông, ông Hồ Chí Minh lặp đi lặp lại nhiều lần: “Ai đó có thì thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được.”(Nguyễn Minh Cần [cựu đảng viên cấp thành uỷ viên Hà Nội], Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, Nxb. Tuổi Xanh, không đề nơi xuất bản, 2001, tt. 62-63.) Nếu Stalin không thể nào sai, tại sao ngày nay nhân dân Nga đã chôn sâu chế độ Stalin" Còn ở CHNDTH, lý thuyết của Mao Trạch Đông đã được thay đổi bằng chủ trương “tam đại biểu” của Giang Trạch Dân.
Từ tháng 7 năm 1950, Bộ Tư lệnh cố vấn quân sự của Trung Cộng được thành lập do tướng Vi Quốc Thanh (Wei Guoqing) làm tư lệnh, với hai phụ tá là Mai Gia Sinh (Mei Jiasheng) và Đặng Tỵ Phàm (Deng Yifan), cùng cố vấn chính trị là La Quý Ba (Luo Giobo).(Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập B, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1977, tt. 177, 186, 267.) Từ đó, các cố vấn Trung Cộng từ trung ương cho đến cấp tiểu đoàn, quyết định mọi việc chính trị, quân sự, và chỉ huy các chiến dịch quân sự lớn nhỏ. Có dư luận cho rằng trận Điện Biên Phủ năm 1954 do tướng Trung Cộng chỉ huy, chứ không phải vị tướng họ Võ như VM tuyên truyền.
Đó là chưa kể, một người học trò và cũng là đồng chí thân cận của ông Hồ là Tố Hữu, nhờ đã thấm nhuần được một cách thấu đáo “tư tưởng Hồ Chí Minh” ngay khi ông Hồ còn sống, nên sáng tác những câu văn vần diễn tả hết sức trung thực và đầy đủ “tư tưởng Hồ Chí Minh”: “Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ,/ Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong,/ cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng,/ Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.”(Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: 1959, tr. 22.) hoặc: “Thương cha, thương me, thương chồng, / Thương mình thương một, thương ông thương mười.” (hai câu nầy quá phổ thông, khỏi cần xuất xứ). Giết người Việt để lập công thờ hai nhà độc tài Mao Trạch Đông và Stalin, và thương khóc Stalin còn hơn cả thương khóc cha mẹ, thì không thể là tay sai, mà phải còn hơn là tay sai nữa. Ông Hồ và bộ Chính trị đảng Lao Đông phải thích thú lắm với các câu văn vần nầy của ông Tố Hữu, nên mới cho phổ biến trên các phương tiện truyền thông của CSVN, và một thời cho dân chúng học tập trong các buổi sinh họat chính trị nữa.
Cuối cùng, sau khi VM thắng trận Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, cả hai phía QGVN và CSVN đều bị các cường quốc trên thế giới, cường quốc tư bản cũng như cường quốc cộng sản, buộc phải chấp nhập kết quả hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ở sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) tại Quảng Trị. Phía Bắc là VNDCCH do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, theo chế độ cộng sản. Miền Nam là Quốc gia Việt Nam do quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu, theo thể chế tự do.
c) Giai đoạn 1954-1975: Hòa bình được vài năm, chiến tranh lại tái diễn do Bắc Việt khởi xướng. Ở ngoài Bắc, từ giữa năm 1955, nhà cầm quyền Hà Nội nhiều lần đề nghị chánh phủ Sài Gòn mở cuộc cuộc Tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Cần chú ý hiệp định Genève (20-7-1954) nguyên tên là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, chỉ có tính cách thuần tuý quân sự, chứ không đưa ra giải pháp chính trị. Giải pháp chính trị về một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Đây chỉ là lời tuyên bố của những phái đoàn, chứ không phải là điều khoản ghi trong hiệp định, nên không có tính cách bắt buộc về pháp lý để thi hành. Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không ký vào bản Hiệp định Genève, và nhất là không tham dự vào bản “Tuyên bố cuối cùng”, nên tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy, và không chấp nhận tổng tuyển cử.
Sau đòi hỏi không thành về việc tổ chức tổng tuyển cử theo điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng”, thì trong Hội nghị lần thứ 15 ban Chấp hành Trung ương đảng Lao Động (CSĐD) ngày 13-5-1959, các nhà lãnh đạo miền Bắc quyết định tấn công miền Nam. (Báo Nhân Dân, Hà Nội, ngày 14-5-1959.) Quyết định nầy được tái xác định một lần nữa trong Đại hội 3 đảng Lao Động (LĐ), khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960 tại Hà Nội, được mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng võ lực. Cuối Đại hội nầy, Hồ Chí Minh được bầu làm chủ tịch đảng, Lê Duẩn làm bí thư thứ nhất. (Báo Nhân Dân, Hà Nội, ngày 11-9-1960).
Điểm chót của việc chuẩn bị, trước khi chính thức bước qua giai đoạn tấn công miền Nam là việc công bố thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) ngày 12-12-1960 tại Hà Nội, và Mặt trận nầy chính thức ra mắt vào ngày 20-12-1960 tại chiến khu Dương Minh Châu ở tỉnh Tây Ninh. Thế là chiến tranh tái phát, cho đến ngày 30-4-1975, tạm thời nghiêng thắng lợi về phía CSVN. Cuộc tranh chấp Quốc Cộng đến đây chưa kết thúc, vì những thành phần Quốc gia dân tộc vẫn tiếp tục tranh đấu đòi hỏi tự do dân chủ, và phía CSVN cho đến nay (2005) vẫn còn lo ngại đề phòng “diễn tiến hòa bình”. Lo ngại “diễn tiến hòa bình” có nghĩa là các lực lượng dân chủ tự do, vẫn còn tồn tại đâu đó thì CSVN mới lo ngại.
Có lẽ cũng nên thêm, CSVN thường đả kích quân đội và chính phủ ở miền Nam là bọn “ngụy quân, ngụy quyền”, tay sai cho giặc Mỹ. Lịch sử cho thấy từ 1954 đến 1975, CSVN đem quân từ miền Bắc vào đánh miền Nam, và miền Nam ở thế tự vệ phải phòng thủ. Vì CSVN được LX và CHNDTH tiếp đạn, nên miền Nam phải ở thế chẳng đặng đừng nhờ Mỹ giúp đỡ để chống trả, chứ miền Nam không có mời Mỹ tấn công CS Bắc Việt.
Vừa qua, trong cuộc Hội thảo hai ngày 14 và 15-4-2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh (tức Sài Gòn cũ), bài tham luận của hai ông Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng về viện trợ quốc tế cho Bắc Việt trong chiến tranh 1954-1975, đã tiết lộ rằng trong 20 năm chiến tranh, khối Cộng sản đã viện trợ cho Bắc Việt 2,362,581 tấn hàng hóa trong đó 9/10 là vũ khí và thiết bị quân sự. Bản tham luận nầy còn nêu chi tiết các giai đoạn viện trợ và chi tiết các loại súng ống viện trợ như súng bộ binh (khẩu) (LX 439,000; Trung Quốc 2,227,677; các nước 942,988); súng chống tăng (LX 5,630; TQ 43,584; các nước 16,412), súng cối (LX 1,076; TQ 24,134; các nước 2,759); đạn tên lửa (hỏa tiễn) (LX 10,169 quả); máy bay chiến đấu (LX 316 chiếc; TQ 142 chiếc) (Theo tài liệu của VIS - Vietnamese International Forum)
Để chống lại số lượng vũ khí to lớn như thế đổ vào miền Nam, nếu miền Nam không nhờ Mỹ để tự bảo vệ, thì không lẽ miền Nam ngồi chờ CSVN vào thi hành cải cách ruộng đất như ở ngoài Bắc, hoặc chờ CSVN lùa lên rừng thiêng nước độc như sau năm 1975" Và nếu miền Bắc không tấn công miền Nam, thì đâu có chuyện quân đội Mỹ đến Việt Nam năm 1965" Và cũng đâu có chuyện người Mỹ thả bom ngoài Bắc để miền Bắc phải lãnh bom đạn Mỹ"
Vì áp lực CSBV càng ngày càng nặng nề, nên quân Mỹ đổ vào miền Nam càng ngày càng đông, và cao điểm là các năm 1967, 1968, tổng số quân Mỹ lên đến khoảng 500,000 quân. Chuyện đó, sách vở miền Nam ghi lại rõ ràng. Còn chuyện sau đây thì miền Bắc cố tình giấu giếm. Để dồn quân tấn công miền Nam, Bắc Việt đã mời quân của CHNDTH vào đóng giữ từ khu Việt Bắc xuống tới Hà Nội (Nguyễn Minh Cần, Công lý đòi hỏi, California: Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 114.). Người ta đồn rằng để bảo vệ một vùng rộng lớn như thế, CHNDTH đã chi viện trên 300,000 quân. Và còn chưa kể lực lượng Cuba, lực lượng Bắc Hàn mà càng ngày càng được tiết lộ sau chiến tranh.
Chuyện sau đây cũng bị CSVN giấu kỹ: ngày 14-9-1958, ông Phạm Văn Đồng ký quốc thư với sự đồng thuận của ông Hồ Chí Minh và bộ Chính trị đảng LĐ, nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong ranh giới biển của CHNDTH (việc nầy ngày nay ai cũng biết, không cần dẫn chứng). Ngược lại, vào năm 1974, những chiến sĩ Hải quân của Quân lực VNCH đã xả thân để bảo vệ Hoàng Sa.
Trong sách Đêm giữa ban ngày, hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, (California: Nxb. Văn Nghệ, 1997), nhà văn Vũ Thư Hiên, con của ông Vũ Đình Huỳnh (nguyên là bí thư của ông Hồ), đã nhắc lại một câu nói trứ danh của ông tổng bí thư Lê Duẩn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” (tr. 422, phần chú thích.)
Vậy chuyện làm tay sai cho ngọai bang cần nên nhìn ở cả hai phía, để xác định cụ thể ai thực sự là người làm tay sai cho ngoại bang" Ai là người gây ra cuộc chiến vì quyền lợi của ngọai bang" Ngoài ra, ai là người phải trả nợ chiến tranh cho CHNDTH, nên đã cam tâm ký kết liên tiếp hai hiệp ước ngày 30-12-1999 và ngày 25-12-2000 nhượng thác Bản Giốc, đoạn đường đèo ải Nam Quan và khoảng 10,000 km2 diện tích vịnh Bắc Việt cho CHNDTH" Xin hãy can đảm nhìn vào sự thật, đánh giá bằng những dữ kiện thực tế, những hành động cụ thể, chứ đừng bằng những ảo giác tuyên truyền, hay bằng những định kiến từ lập trường đảng phái.
3.-THỬ ĐỊNH DANH CUỘC CHIẾN
Phân chia lại các giai đoạn trong cuộc chiến giúp chúng ta có thể định danh lại cuộc chiến theo diễn tiến của quá khứ. Trước hết, cuộc chiến Việt Nam diễn ra từ 1946 đến 1975, trong vòng ba mươi năm tròn, xen giữa một thời gian nghỉ ngơi vài năm. Cuộc chiến phức tạp ở chỗ các đối lực tham chiến, các thành phần phụ chiến, và mục đích chiến đấu của tất cả các phe phái. Nếu dựa mục đích ý nghĩa của bên nầy, thì không hợp với bên kia, hoặc thiếu bên nọ. Do đó, có lẽ nên dùng yếu tố thời gian để định danh tổng quát cuộc chiến 1946-1975.
Ở Âu Châu, khi vua Edward III nước Anh đòi kiêm luôn vua nước Pháp thì xảy ra chiến tranh giữa hai nước, khi đánh khi nghỉ, không liên tục từ 1337 đến 1453 và được sử sách gọi là “Chiến tranh trăm năm” (Hundred Years' War). Vào đầu thế kỷ 17, cũng tại Âu Châu xảy ra chiến tranh giữa nhiều nước khác nhau vì nhiều lý do phức tạp từ 1618 đến 1648, được mệnh danh là “Chiến tranh ba mươi năm” (Thirty Years' War).
Cuộc chiến Việt Nam diễn ra từ 1946 đến 1975, nghĩa là trong ba mươi năm tròn. Hy vọng rằng dầu có chú trọng đến chủ nghĩa chính trị, thành phần tham chiến, lý do chiến tranh, không ai có thể chối cãi rằng chiến tranh đã diễn ra trong ba mươi năm, vậy đơn giản xin đề nghị gọi cuộc chiến nầy là “Chiến tranh ba mươi năm”.
Như trên đã phân tích, chiến tranh ba mươi năm chia làm ba giai đoạn. Trong giai đoạn thứ nhất từ 1946 đến 1949, không ai có thể phủ nhận đại đa số dân chúng lên đường kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày nay, nhiều vị cao niên ở hải ngoại, kể cả nhiều cựu sĩ quan trong Quân lực VNCH, cũng còn nhớ đến những kỷ niệm một thời bồng bột với gậy tầm vong lên đường kháng chiến. Thế thì giai đoạn nầy có thể định danh là “Cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1949)”.
Trong giai đoạn thứ hai (1949-1954), với hiệp định Élysée ngày 8-3-1949, Pháp chính thức trao trả độc lập cho Việt Nam, dầu việc trao trả nầy tiến hành một cách chậm chạp. Từ đó, một thực tế chính trị không thể phủ nhận là trên đất nước Việt Nam, có sự hiện diện song hành cùng một lúc hai chánh phủ Việt Nam riêng biệt, hai tổ chức quân đội Việt Nam riêng biệt, hai địa bàn sinh hoạt riêng biệt, với những cư dân riêng biệt. Hai chánh phủ được mệnh danh một cách khác nhau. Một bên được mệnh danh là Quốc gia, một bên là Cộng Sản. Hai chánh phủ nầy sử dụng quân đội đánh nhau. Một bên được sự yểm trợ to lớn nhưng kín đáo của LX và CHNDTH, và một bên được sự hợp tác ồn ào nhưng thiếu hiệu quả của Pháp và Hoa Kỳ. Do đó cả hai bên đều bị ngọai bang chi phối, chứ không phải riêng phía ông Bảo Đại là bù nhìn của Pháp, hay ông Hồ Chí Minh là tay sai của Trung Cộng và Liên Xô. Từ đó, cuộc kháng chiến khởi đi từ năm 1946 đã thay đổi ý nghĩa, trở thành cuộc tranh chấp giữa hai ý thức hệ chính trị khác nhau trên đất nước Việt Nam. Vì vậy, giai đoạn thứ nhì từ 1949 đến 1954 có thể gọi là giai đoạn “Chiến tranh Quốc-Cộng (1949-1954)”.
Hiệp định Genève năm 1954 chia hai nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17, để chánh phủ mỗi bên tái phối trí cuộc sống dân chúng trên hai vùng đất riêng biệt. Bắc Việt theo chế độ cộng sản, Nam Việt theo chế độ tự do. Vấn đề quốc cộng đã phân minh. Đáng lẽ ai ở yên nhà nấy, cùng nhau thi đua phát triển đất nước, để chờ cơ hội thuận tiện thống nhất đất nước. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy là chính sách kinh tế chỉ huy cứng nhắc của chủ nghĩa cộng sản không thể phát triển kinh tế bằng nền kinh tế tự do, mà ngày nay gọi là kinh tế thị trường.
Bắc Việt không thể thi đua phát triển kinh tế với Nam Việt, mà CSVN lại ham bành trướng quyền lực, bành trướng chủ nghĩa, nên CSVN chỉ còn con đường duy nhất là tấn công miền Nam, mới có thể thắng miền Nam. Từ đó, bắt đầu giai đoạn thứ ba của cuộc chiến. Giai đoạn nầy có thể xem là “Chiến tranh Bắc Nam (1954-1975)” hoặc “Nam Bắc phân tranh lần thứ nhì”. Nam bắc phân tranh lần trước trong thế kỷ 17 chỉ là cuộc đụng độ tay đôi bắc nam; còn lần nầy thì có nhiều nước phụ chiến và đáng buồn là hai bên người Việt đánh nhau bằng vũ khí tối tân của người nước ngoài, khiến khoảng 3,000,000 người Việt cả Bắc lẫn Nam bị tử vong.
*
Tóm lại, dựa trên căn bản diễn tiến thực tế của tình hình chính trị và quân sự từ 1946 đến 1975, cuộc chiến vừa qua có thể gọi là “Chiến tranh ba mươi năm” và chia thành ba giai đoạn khác nhau là “Cuộc kháng chiến chống Pháp”, “Chiến tranh Quốc Cộng” và “Chiến tranh Bắc Nam”. Cần chú ý, trong cuộc chiến ba mươi năm nầy, cả hai phía, Việt Minh hay Cộng Sản và Quốc Gia hay Cộng Hòa, đều xin ngoại bang giúp đỡ, đều được ngoại bang viện trợ và đều bị ngoại bang chi phối, chứ không riêng gì phía Bắc, hay phía Nam, nhưng không thể vì vậy mà gọi là cuộc chiến tranh uỷ nhiệm, vì cuộc tranh chấp Quốc-Cộng bắt đầu từ 1930 cho đến nay chưa chấm dứt. Nếu có uỷ nhiệm, thì chỉ có lương tâm dân tộc uỷ nhiệm người Việt tranh đấu cho quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của dân tộc Việt, chống lại thực dân và độc tài, dù đó là thực dân và độc tài ngoại nhập hay bản xứ.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 15-5-2005)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.