Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chiến Thắng Đống Đa

01/02/200600:00:00(Xem: 5483)
-Hình ảnh vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn đã đi vào sử sách như là một thiên tài quân sự. Cứ mỗi lần Tết đến, chúng ta lại có dịp nhắc đến chiến công oai hùng của vua Quang Trung qua trận chiến thắng Đống Đa ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (30-01-1789). Hôm nay, chào đón Xuân về, chúng tôi xin cống hiến quý vị bài nghiên cứu sau đây dưới nhãn quan của một người nghiên cứu sử học, căn cứ vào những sử liệu hiện có, với tinh thần khoa học, gạt ra ngoài những yếu tố tình cảm hay định kiến.

1. Hoàn cảnh lịch sử

Do hoàn cảnh lịch sử Việt Nam sau khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê vào năm 1527, tiếp đến là sự phục hưng nhà Lê với Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm vào giữa thế kỷ 16 và việc tranh quyền giữa Trịnh và Nguyễn từ đầu thế kỷ thứ 17 dẫn đến việc Nam Bắc phân tranh: vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nước Việt Nam bị chia cắt gần 200 năm cho đến năm 1802 mới thống nhất từ Lạng Sơn cho đến Cà Mâu (dưới thời vua Gia Long). Trong thời gian đó, cuộc nội chiến kéo dài, người trong một nước giết hại lẫn nhau vì mưu đồ sự nghiệp cho dòng họ nầy hay dòng họ khác. Chỉ có cuộc chiến đấu chống quân Thanh xâm lược của vua Quang Trung là có chính nghĩa và được sử sách ca tụng, nhân dân thành tâm nhắc nhở, biết ơn.

Tại Đàng Trong, sau khi chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát chết (1765), Trương Phúc Loan thay đổi di chiếu, loại trừ Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân (cha của Nguyễn Phúc Ánh) để chọn Hoàng tử Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên kế vị. Tiếp theo đó là một loạt những thanh trừng nội bộ trong triều đình chúa Nguyễn, một số các vị đại thần như Trương Văn Hạnh, Lê Cao Kỷ và các vị hoàng thân như Tôn Thất Cúc, Tôn Thất Dục bị hại. Lãnh đạo chia rẽ, nhân dân đói khổ vì mất mùa, vì nạn quan trên bóc lột, tham nhũng...Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 11, tờ 22) cho biết: "Người chết đói nằm dọc đường, trong nhà người ta giết lẫn nhau mà ăn..."

Lúc bấy giờ có Giáo Hiến (sử không nói ông họ gì), bạn thân của quan đại thần Trương Văn Hạnh, sau khi Trương Văn Hạnh bị Trương Phúc Loan hãm hại, Giáo Hiến trốn vào đất Tây Sơn mở trường dạy học. Ông dạy cả văn lẫn võ. Trong số học trò có ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nguyên là người họ Hồ, gốc Nghệ An vào lập nghiệp ở Tây Sơn đã bốn đời, đến đời Hồ Phi Phúc lấy bà Nguyễn Thị Đồng, người làng Kiên Thành, sinh ra anh em Nhạc, Lữ và Huệ thì đổi qua họ mẹ là họ Nguyễn. Giáo Hiến thường đem chuyện thời sự, chính trị trong nước nói với anh em Tây Sơn và khuyến khích họ khởi nghĩa. Họ cũng tin vào lời sấm: "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công" mà Giáo Hiến truyền cho họ và tin tưởng sẽ thành công trong tương lai.

2. Tây Sơn khởi nghĩa

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc khởi nghĩa ở Tây Sơn huyện Phù Ly, tỉnh Bình Định, dùng chiêu bài diệt quyền thần TRương Phúc Loan, ủng hộ người cháu nội của Võ Vương là Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, con Thài tử Hiệu (đã chết) lên ngôi, lấy của nhà giàu phân phát cho nhà nghèo, v.v...nên được dân chúng hưởng ứng. Nhờ vậy mà phong trào Tây Sơn phát triển rất nhanh, trong vòng hai năm, họ đã chiếm được các huyện Phù Ly, Bồng Sơn và tỉnh lỵ Quy Nhơn. Từ đó lan dần đến các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam...

Nguyễn Nhạc bắt được Nguyễn Phúc Dương ở Đà Nẵng bèn gả con gái là Thọ Hương cho ông và giam lỏng ông ở đó để lợi dụng danh nghĩa "phò Hoàng tôn chống Trương Phúc Loan". Nhưng ông đã trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn.

3. Tây Sơn hòa với Trịnh để rảnh tay tiêu diệt chúa Nguyễn

Đầu năm 1775, quân Trịnh vào đánh Phú Xuân, đêm 30 Tết, chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Gia Định. Tây Sơn phải lưỡng đầu thọ địch: quân Trịnh ở Phú Xuân đánh vào và quân Nguyễn ở Gia Định đánh ra, vì thế Nguyễn Nhạc đã đầu hàng họ Trịnh. Trịnh phong cho Nguyễn Nhạc chức Tây Sơn Hiệu Trưởng Tiền Phong Tướng Quân, và Nguyễn Huệ chức Tây Sơn Tráng Tiết Tướng Quân.

Rảnh mặt Bắc, Tây Sơn dồn nỗ lực đánh chúa Nguyễn ở phương Nam. Tháng 10 năm Bính Thân (1777), quân Tây Sơn vào đánh Gia Định, giết được chúa Nguyễn Phúc Thuần và Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương. Nguyễn Phúc Ánh (cháu nội chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, con của Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân) chạy thoát được. Năm Mậu Tuất (1778) ông được các lực lượng ủng hộ chúa Nguyễn đưa lên làm Nhiếp Chính chống lại Tây Sơn. Nguyễn Phúc Ánh cầu viện quân Xiêm, nhưng quân Xiêm cũng bị đánh bại (1785). Trên đường lưu vong, ông đã gặp Giám Mục Bá Đa Lộc và gởi Nguyễn Phúc Cảnh con của ông theo Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện, còn ông qua Xiêm tỵ nạn.

Sau khi giết được chúa Nguyễn ở Gia Định (1777), Nguyễn Nhạc tự xưng làm vua lấy hiệu là Thái Đức, đóng đô ở Quy Nhơn, phong cho em là Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương đóng ở Gia Định và Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương.

4.Tây Sơn lấy Phú Xuân và tiến ra Thăng Long

Ở Đàng Ngoài, sau khi Trịnh Sâm chết, nội bộ chia rẽ, lính Tam Phủ ủng hộ Trịnh Tông lên kế vị, giết Hoàng Đình Bảo, phe ủng hộ Trịnh Cán con Đặng Thị Huệ. Nguyễn Hữu Chỉnh trước đây đã từng mang ấn kiếm của chúa Trịnh vào Quy Nhơn phong cho Nguyễn Nhạc nên quen biết với Tây Sơn. Lần nầy ông tìm vào Quy Nhơn, muốn mượn tay anh em Tây Sơn trả thù cho chủ là Hoàng Đình Bảo. Nguyễn Hữu Chỉnh đã khuyên Tây Sơn nhân cơ hội nầy đem quân chiếm Phú Xuân.

Năm 1786, sau khi chiếm được Phú Xuân rồi, Nguyễn Huệ nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân tiến thẳng ra Bắc với danh nghĩa "phò Lê diệt Trịnh". Quân Tây Sơn vào Thăng Long, chúa Trịnh Tông trên đường chạy trốn, bị bắt, dùng dao đâm cổ tự tử. Nguyễn Huệ chiếm lấy kho tàng của chúa Trịnh và tuyên bố trả quyền cai trị lại cho vua Lê Hiển Tông. Để trả ơn, vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Lê Hiển Tông chết, cháu nội là Lê Duy Kỳ nối ngôi tức Lê Chiêu Thống.

Nguyễn Nhạc nghe tin Nguyễn Huệ ra Bắc nên vội vàng đuổi theo. Nghe tin vua Tây Sơn đến Thăng Long, vua Lê Chiêu Thống ra đón tiếp và xin cắt đất từ Nghệ An trở vào dâng cho Tây Sơn. Nhưng Nguyễn Nhạc tuyên bố:" Nếu là đất của họ Trịnh thì một tấc cũng không chừa. Nhưng đất của nhà Lê thì một tấc cũng không dám nhận". Nguyễn Nhạc ở lại Thăng Long mấy hôm rồi cùng Nguyễn Huệ bí mật rút quân về không cho Nguyễn Hữu Chỉnh biết. Nguyễn Hữu Chỉnh lo sợ, bỏ Thăng Long chạy vào giữ Nghệ An.

Tây Sơn đi rồi, con cháu họ Trịnh trở lại Thăng Long, một số các tướng cũ theo họ Trịnh, áp bức vua. Trịnh Bồng, Trịnh Lệ chống nhau. Lê Chiêu Thống gọi Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An đem quân ra giúp.

5. Anh em Tây Sơn bất hòa: Nguyễn Huệ đem quân vào Quy Nhơn đánh Nguyễn Nhạc

Nguyễn Huệ trở về Phú Xuân và làm chủ hơn 60 thuyền của cải thu được từ Thăng Long, chỉ chia cho Nguyễn Nhạc một phần mà thôi. Vì tranh chấp quyền lợi, anh em Tây Sơn bất hòa. Nguyễn Nhạc giữ vợ con Nguyễn Huệ ở Quy Nhơn không cho về Phú Xuân. Nguyễn Huệ đòi Nguyễn Nhạc phải trao thêm đất Quảng Nam và trả lại vợ con cho ông. Nguyễn Nhạc không chịu, do đó Nguyễn Huệ dem quân đánh Quy Nhơn. Ông cho đắp thành bằng đất bên ngoài cao ngang với thành Quy Nhơn và đặt súng đại bác bắn vào thành, sập cả tôn miếu. Nguyễn Nhạc phải ôm Nguyễn Quang Toản, con Nguyễn Huệ vào lòng, đứng trên thành nói: "Nồi da xáo thịt. Sao em nỡ làm như vậy". Rồi trả lại vợ con cho Nguyễn Huệ đem về Phú Xuân. Nguyễn Nhạc tuy đã xưng là Thái Đức Hoàng Đế, nhưng chẳng có uy quyền gì đối với một vị tướng và cũng là em ruột của ông: đó là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

6. Nguyễn Hữu Chỉnh giúp vua Lê diệt Trịnh

Trong khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc đánh nhau thì Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An đem quân ra Thăng Long phò Lê diệt Trịnh. Phe ủng hộ chúa Trịnh bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại, chúa Trịnh bỏ chạy, vua Lê Chiêu Thống bèn cho người đốt phủ chúa. Nguyễn Hữu Chỉnh đương nhiên thay thế vai trò của chúa Trịnh ngày trước ở Bắc Hà.

Được tin Nguyễn Hữu Chỉnh đi khỏi Nghệ An rồi thì Nguyễn Huệ sai Võ Văn Nhậm từ Hà Tĩnh đem quân ra chiếm Nghệ An và cho người theo dõi tình hình vua Lê ở Thăng Long. Từ tháng 11, 1786 đến tháng 5, 1787, Nguyễn Hữu Chỉnh nắm hết mọi quyền hành không coi vua Lê ra gì. Ông còn cho người mang thư vào Phú Xuân đòi Nguyễn Huệ trả lại đất Nghệ An cho vua Lê.

7. Nguyễn Hữu Chỉnh bị Tây Sơn giết, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh

Nguyễn Huệ được tin đó bèn sai Võ Văn Nhậm (con rể Nguyễn Nhạc) và hai tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đem quân từ Nghệ An ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Ngày 1 tháng 11 Đinh Mùi (9-12-1787) quân của Nhậm vào Thăng Long, Nguyễn Hữu Chỉnh bị phanh thây, còn vua Lê Chiêu Thống thì lẩn trốn trong dân chuing và lên tiếng kêu gọi cần vương, chống lại quân Tây Sơn. Một phái đoàn do Lê Quýnh cùng Thái Hậu qua Trung Hoa cầu viện nhà Thanh.

Trong khi Nguyễn Huệ bận đối phó với Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn và Nguyễn Hữu Chỉnh ở Bắc Hà thì Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm trở về Long Xuyên. Nhờ Nguyễn Văn Trương giúp, Nguyễn Phúc Ánh đã xây dựng được một lực lượng mới và được Bá Đa Lộc cùng một số người Pháp có tàu chiến giúp, đã chiếm lại toàn bộ đất Gia Định. Ngày 8 tháng 8 âm lịch năm Mậu Thân (tức 7 tháng 9, 1788) ông đã kéo quân vào Sài Gòn, Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn và chết ở đó.

8. Nguyễn Huệ giết Võ Văn Nhậm

Võ Văn Nhậm thay Nguyễn Hữu Chỉnh cai trị đất Bắc Hà, ông cho lính đi lục xét từng nhà dân chúng để tìm lại các báu vật trong cung vua bị mất trong thời gian loạn lạc. Quân Tây Sơn tuy chiếm được Thăng Long nhưng lực lượng vua Lê chúa Trịnh vẫn còn ở các tỉnh. Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Viết Tuyển vẫn còn đóng quân ở vùng Hải Dương và Kinh Bắc (Bắc Ninh). Vì thế, ông phải huy động dân chúng ngày đêm xây thành đắp lũy để phòng bị. Võ Văn Nhậm cũng tỏ ra hống hách khiến cho những người ra cộng tác thì mất tin tưởng, người chưa cộng tác thì lẫn tránh, ẩn thân nơi quê nhà. Võ Văn Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc mà giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có mối hiềm khích từ khi ra Bắc trở về năm 1786. Mặc dù Võ Văn Nhậm làm trấn thủ Bắc Hà, nhưng Nguyễn Huệ vẫn đặt Ngô Văn Sở theo dõi hành vi của Nhậm để mật báo cho ông biết.

Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí (trang 173) và Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên (quyển 30 trang 28, 30) thì Ngô Văn Sở khuyên Võ Văn Nhậm nên đặt quan cai trị đất Bắc, đừng đặt Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc sau khi Lê Chiêu Thống bỏ trốn và đừng đóng quân ở trong thành. Nhưng Võ Văn Nhậm không chịu, muốn đặt Lê Duy Cẩn để ông đứng đằng sau điều khiển việc nước như Nguyễn Hữu Chỉnh trước đây.

Lê Duy Cẩn là con của Lê Hiển Tông, anh của Ngọc Hân, người mà trước đây công chúa đã muốn đưa lên làm vua sau khi Lê Hiển Tông chết...nhưng hoàng gia lại muốn chọn cháu đích tôn của vua Lê là Lê Duy Kỳ tức Lê Chiêu Thống, theo di chiếu. Võ Văn Nhậm ngồi một chỗ ở Thăng Long và sai các tướng đi đánh dẹp các nơi. Thấy rõ tham vọng của Võ Văn Nhậm nên Ngô Văn Sở đã viết tờ trình bắt Phan Văn Lân cùng ký vào để gởi cho Nguyễn Huệ.

Nhận được thư của Ngô Văn Sở, Nguyễn Huệ đã tức tốc ra Bắc. Ông đến Thăng Long vào ban đêm, không cho Võ Văn Nhậm biết, chỉ có Ngô Văn Sở ra đón. Nguyễn Huệ đến ngay dinh của Võ Văn Nhậm, cho đọc bản án tuyên bố tội trạng, sai võ sĩ là Hoàng Văn Lợi thi hành bản án, chém đầu Võ Văn Nhậm ngay trước mặt ông rồi đặt Ngô Văn Sở lên thay.

Nguyễn Huệ cũng thành lập ngay một Bộ Tham Mưu để giúp Ngô Văn Sở đối phó với tình hình. Bộ Tham Mưu gồm có các tướng của Tây Sơn như Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Văn Tuyết (cháu của Nguyễn Huệ)...và những người của vua Lê chúa Trịnh theo Tây Sơn như Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, Ninh Tốn, Nguyễn Bá Lân...

Những vị khoa bảng nhà Lê không theo Tây Sơn như Bùi Huy Bích (giữ chức Tham Tụng, tương đương Thủ Tướng), Phạm Quý Thích, Nguyễn Huy Trạc, Nguyễn Văn Hợp, v.v...bỏ về quê hoặc lánh mặt.

Nguyễn Huệ cho phép Ngô Văn Sở được quyền giải quyết mọi công việc không cần phải hỏi ý kiến của ông nhưng phải họp Bộ Tham Mưu bàn bạc, tính toán cho thật chu đáo. Ông khuyên mọi người không được phân biệt cũ, mới, không được hiềm khích chia rẽ.

Phải bắt cho được Lê Chiêu Thống mới ổn định được tình hình ở Bắc Hà, vì thế khi nghe tin Lê Chiêu Thống đang lẫn tránh tại làng Chí Linh tỉnh Hải Dương trong vùng Đinh Tích Nhưỡng kiểm soát, Ngô Văn Sở liền cho một toán quân nhỏ đi bắt vua. Nhưng toán quân nầy đã bị lực lượng của Trần Quang Chiêu ở địa phương giết sạch. Sở liền cho đại binh đến, nhưng vua đã trốn qua trấn Sơn Nam ở trong nhà Trương Đăng Quỹ và nhờ lực lượng của Hoàng Viết Tuyển bảo vệ. Ngô Văn Sở bắt cha mẹ, vợ con Hoàng Viết Tuyển viết thư khuyên Tuyển ra hàng. Nhưng Tuyển từ chối. Sở bèn cho cha mẹ vợ con của Tuyển ngồi thuyền đi trên sông bắc loa kêu gọi...Tuyển thấy vậy bèn rút quân, nhưng bất ngờ bị bao vây, quân Tuyển tan rã, Tuyển bỏ trốn.

Vua được tin đó, cũng trốn vào vùng Thanh Hóa, Sở không tìm được.

9. Quân Thanh xâm lăng

Đoàn tùy tùng do Thái Hậu, mẹ vua Lê Chiêu Thống gồm 64 người qua Trung Hoa cầu viện nhà Thanh. Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị lợi dụng cơ hội đó đã tâu xin vua Càn Long (tức Cao Tông nhà Thanh) mượn danh nghĩa phò Lê để đem quân chiếm nước ta. Sách "Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục", một bộ sử lớn nhất nước ta do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn trong thế kỷ 19, quyển 47 trang 32-33 trích lại một đoạn trong tờ trình của Tôn Sĩ Nghị cho biết âm mưu thâm độc của nhà Thanh như sau:" Kẻ kế vị nhà Lê phải lưu lạc, nghĩa nên cứu giúp, vả lại An Nam là đất cũ của Trung Quốc, nên sau khi khôi phục nhà Lê, hãy dùng binh mà chiếm lấy, làm như thế vừa bảo tồn được nhà Lê, vừa lấy được An Nam, một công hai việc".

Tháng 10 năm Mậu Thân (tức tháng 11, 1788) quân Thanh tuyển từ 4 trấn Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam, chia làm hai đường tiến xuống nước ta:

-Tôn Sĩ Nghị, Tổng Đốc Lưỡng Quảng làm Tiết Chế và Đề Đốc Hứa Thế Hanh làm Phó từ Quảng Tây đi vào Ải Nam Quan (Lạng Sơn).

-Ô Đại Kinh chỉ huy đạo quân từ Vân Nam xuống vào Đào Giang tiến đến Tuyên Quang.

-Sầm Nghi Đống, Tri Phủ Điền Châu chỉ huy đạo quân từ Điền Châu.

-Thượng Duy Thanh, Tổng Binh Quảng Tây và Phó Tướng Khánh Thành chỉ huy quân Quảng Tây.

-Trương Triều Long, Tổng Binh Quảng Đông và Phó Tướng Lý Hóa Long chỉ huy quân Quảng Đông.

Theo "Đại Thanh Thông Sử" (sử của nhà Thanh) trang 137 thì quân Thanh tất cả khoảng vài vạn: Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh có một vạn, để lại ở Vân Nam hai ngàn còn đem vào nước ta tám ngàn. Quân của Ô Đại Kinh gồm tám ngàn. Ngoài ra, số người Hoa buôn bán ở nước ta tập hợp được một vạn theo quân Thanh. Các sử gia căn cứ trên các tài liệu về quân lương (lương thực tiếp tế cho lính khi hành quân) thì quân chính quy của nhà Thanh khoảng hai vạn, cộng với quân mới tuyển chừng một vạn. Quân nhà Lê ở các tỉnh khoảng mười vạn người. Tính chung tất cả quân Thanh và quân của nhà Lê là mười ba vạn.

Theo sử của ta thì quân Thanh có hai mươi vạn. Sử nhà Thanh cũng nói rõ, khi Tôn Sĩ Nghị vào nước ta, đã ra một thông báo nói là quân Thanh có năm mươi vạn, mục đích hư trương thanh thế, làm cho đối phương mất tinh thần chiến đấu.

Tôn Sĩ Nghị ban hành tám điều luật căn bản cho lính như sau:

1.Phải nghiêm chỉnh không được cướp bóc.

2.Phải cẩn thận kẻo bị mai phục.

3.Chỗ đóng quân phải vững chắc và phải đề phòng.

4.Phải có biện pháp hữu hiệu đánh với voi.

5.Dùng lá chắn bằng da trâu sống để chống hỏa hổ.

6.Phải làm cầu phao để qua sông, khi lội qua sông cạn phải giữ thuốc súng để khỏi bị ướt.

7.Củi, than, rau phải mua, không được cướp; nếu đi hái phải đề phòng; nước uống phải tránh nước độc.

8.Các quan phải coi xét việc hưu tuất (trợ cấp cho lính), phu và lính phải tử tế với nhau.

Căn cứ vào sử liệu nhà Thanh, chúng ta thấy Tôn Sĩ Nghị là người cẩn thận, không xem thường quân Tây Sơn.

Trấn Thủ Thăng Long là Ngô Văn Sở được tin, bèn họp các quan cũ nhà Lê bắt làm thư mang lên Ải Nam Quan cho Tôn Sĩ Nghị nói rằng trong lúc vua Lê Chiêu Thống mất tích tìm chưa ra, hào kiệt trong nước đã cử Lê Duy Cẩn (chú ruột của vua) lên làm Giám Quốc, xin hứa sẽ triều cống Trung Hoa và sẽ rước Thái Hậu trở về...mục đích để tìm kế hoãn binh. Nhưng Ngô Thời Nhiệm lại đề nghị rút quân cả thủy lẫn bộ về núi Tam Điệp và Biện Sơn để bảo toàn lực lượng, tránh đụng độ lúc ban đầu, đợi Nguyễn Huệ đem quân ra tăng cường, vừa để chờ xem thái độ quân Thanh và phản ứng của dân chúng như thế nào.

Kế hoạch nầy, về phương diện tâm lý chính trị đã làm cho địch trở nên kiêu căng, khinh thường không đề phòng. Dân chúng cũng cần có thời gian để hiểu rõ bộ mặt thật giả nhân giả nghĩa của quân Thanh và vai trò bù nhìn của vua Lê, từ đó mới ủng hộ cuộc chiến đấu chống xâm lăng của Tây Sơn. Như chúng ta đã thấy, kế hoạch nầy về sau quả thật linh nghiệm và Sở đã nghe theo lời của Ngô Thời Nhiệm.

Phái bộ Nguyễn Quý Nho được phái mang thư đến Nam Quan cho Tôn Sĩ Nghị đã không liên lạc được với quân Thanh vì cửa biên giới bị đóng và quân Thanh đã vào Đại Việt rồi nên phải quay về Thăng Long. Riêng Phan Văn Lân không chịu thi hành lệnh rút quân, ông đã đem quân đến sông Thọ Xương và đụng độ với đoàn quân Quảng Tây của Thượng Duy Thanh, rồi đoàn quân Quảng Đông của Trương Triều Long. Quân ta phải rút lui. Phan Văn Lân ra lệnh phá cầu phao. Địch kết bè qua sông.

Từ 13 tháng 11 năm Mậu Thân (1788) bắt đầu đụng độ với quân Thanh cho đến ngày 17, quân ta phải rút lui nhiều đợt. Đêm 19, quân ta lại phản công, Hứa Thế Hanh đích thân chỉ huy, cướp được một số thuyền nhỏ khoảng ba mươi chiếc và chở được hai ngàn lính qua sông. Quân Thanh xông vào đốt trại Tây Sơn, quân ta bỏ chạy tán loạn. Có người chạy vào các làng lân cận nhưng sáng hôm sau đều bị dân chúng bắt nộp cho quân Thanh. Riêng Phan Văn Lân thì phi ngựa chạy về Thăng Long rồi theo Ngô Văn Sở rút về Tam Điệp. Việc thất trận của Lân, Ngô Văn Sở dấu không cho mọi người biết.

Ngày 20 tháng 11 âm lịch (Mậu Thân), quân Thanh vượt qua sông Hồng Hà. Lúc đó quân Tây Sơn đã rút đi xa và ngày 21, đã tới Tam Điệp an toàn. Quân Thanh vào Thăng Long như chỗ không người. Vì chiến thắng quá dễ dàng nên họ đã trở nên kiêu căng và không còn nhớ đến tám điều quân lệnh của Tôn Sĩ Nghị nữa.

10. Dân chúng bất mãn về Lê Chiêu Thống và quân Thanh

Nghe tin quân Thanh vào nước ta, Lê Chiêu Thống liền cho Lê Duy Đản mang thư lên tận biên giới chào mừng và xin lỗi vì bị bệnh không đến được. Khi được tin quân Tây Sơn đã rút khỏi Thăng Long, vua cho các tướng đem nghĩa quân đi đóng giữ các nơi và chỉ giữ một ngàn quân để làm cận vệ. Khi quân Thanh vào Thăng Long thì vua từ Kinh Bắc cũng trở về theo sau quân Thanh. Vua cho người mang trâu, rượu đến dâng cho quân Thanh để khao quân. Ngày 20-11 Mậu Thân (1788), quân Thanh vào Thăng Long, các cựu thần và hoàng tộc nhà Lê ra đứng hai bên đường cùng dân chúng lạy tạ. Ngày 22 tháng 11 âm lịch, Tôn Sĩ Nghị đọc tuyên chiếu của vua nhà Thanh phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương. Vua quỳ giữa sân điện Kính Thiên để nhận sắc phong. Vua thảo tờ biểu tạ ơn dâng lên vua Thanh, hứa sẽ đích thân sang chúc thọ bát tuần của vua Càn Long (vào năm 1790, Canh Tuất)...

Mỗi ngày vua phải thân hành đến dinh của Tôn Sĩ Nghị đợi lệnh. Cựu thần nhà Lê lục tục kéo về, họp nhau lên án những người theo Tây Sơn hoặc không hết lòng với vua khi vua lâm hoạn nạn. Họ cho như thế là đã yên thân rồi và không ai nghĩ đến chuyện đánh Tây Sơn. Vua quan nhà Lê cũng như quân Thanh tha hồ yến tiệc liên hoan. Bọn người Hoa sinh sống buôn bán ở nước ta tập hợp nhau thành một đạo quân, chúng dẫn đường cho quân Thanh đi cướp bóc, hãm hiếp dân lành.

Hoàng Lê Nhất Thống Chí (ký sự lịch sử của Ngô Gia Văn Phái) viết rằng:"Giữa đồng, giữa chợ, họ (quân Thanh) cũng cướp giật tiền bạc, hãm hiếp đàn bà con gái không kiêng sợ gì". Vua Lê cũng biết những chuyện đó nhưng không dám kêu trách! Dân chúng và trí thức Bắc Hà chán nản, thất vọng, lòng người ly tán...Trong tình thế đó, quân Tây Sơn trở lại, đánh đuổi quân Thanh, chắc chắn được dân chúng ủng hộ.

Theo chỉ thị của Càn Long gởi cho Tôn Sĩ Nghị thì quân Thanh chỉ đóng quân không đuổi theo Tây Sơn. Chờ Tây Sơn đánh nhau với quân nhà Lê. Nếu Nguyễn Huệ thua thì đặt nhà Lê lên, nếu Nguyễn Huệ thắng thì sẽ đánh Huệ, sau đó, chia nước làm hai. Từ Nghệ An trở ra trao cho vua Lê, từ Nghệ An trở vào trao cho Nguyễn Huệ...Quân Thanh chia ra đóng các đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi, Vân Điển và Khương Thượng, quân nhà Lê đóng ở Giản Thủy. Theo kế hoạch thì quân Thanh nghỉ ngơi, ăn Tết xong mới nói đến chuyện hành quân đi đánh Tây Sơn.

11. Nguyễn Huệ đối phó với quân Thanh

Ngô Văn Sở cho Nguyễn Văn Tuyết (tức đô đốc Tuyết, cháu của Nguyễn Huệ) vào Phú Xuân báo cáo tình hình Bắc Hà cho Nguyễn Huệ. Được tin quân Thanh đã vào nước ta, Nguyễn Huệ thét lên:" Đồ chó má, sang đây để mà chết" (Theo Vãn Lê Dị Sử, tr.66). Để cho danh chính ngôn thuận, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế, ông đã đổi tên là Nguyễn Quang Bình và lấy niên hiệu là Quang Trung. Việc đó có hai ý nghĩa:

-Thứ nhất, từ đây ông không còn là Nguyễn Huệ, em của Nguyễn Nhạc;

-Thứ hai, ông không còn là Bắc Bình Vương, tướng của Nguyễn Nhạc.

Không còn liên hệ gì với Nguyễn Nhạc, có nghĩa là không còn phải tuân lệnh của Nguyễn Nhạc, không còn chịu trách nhiệm về những việc làm sai trái, mất chính nghĩa của Nguyễn Nhạc. Bây giờ, ông là một nhân vật mới của giai đoạn lịch sử mới. Ông là Hoàng Đế của một giang sơn mới, có dân, có lãnh thổ, có triều đình và quân đội riêng để có thể nhân danh đất nước của mình, nhân danh dân tộc của mình mà hành động hợp với chính nghĩa bảo vệ tổ quốc, chống xâm lăng.

Sử sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí hay là sử nhà Nguyễn thường gọi Nguyễn Huệ là "Bình" khởi đi từ đó. Bình không phải Bắc Bình Vương mà là Nguyễn Quang Bình. Các con của ông lấy tên Nguyễn Quang như Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thùy v.v....

Ông cho lập đàn, tế cáo trời đất và lên ngôi Hoàng Đế. Ngày 25 tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (22-12-1788) một cuộc diễn binh được tổ chức dưới chân núi Ba Vành (phía Nam Ngự Bình). Ông đọc tuyên cáo kêu gọi binh sĩ chiến đấu chống xâm lăng:

"...Quân Thanh sang xâm lấn nước ta hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa" Trong khoảng vũ trụ, trời nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng. Phương Nam, Phương Bắc chia nhau mà cai trị...Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nở ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi chúng về phương Bắc. Ở các thời kỳ ấy, Bắc Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài...Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng về" (Hoàng Lê Nhất Thống Chí).

Ngày 29 tháng 11 Mậu Thân (1788), vua Quang Trung chỉ huy đạo quân Thuận Quảng lên đường từ Huế ra Nghệ An. Đây là đạo quân tinh nhuệ đã giúp vua bách chiến bách thắng trong các trận đánh bại quân Xiêm, quân Trịnh, và mới đây đánh Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn. Trong đạo quân nầy có voi, ngựa, thuyền lớn,v.v...Tới Nghệ An, ở lại đó 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ ba người dân thì chọn một người khỏe mạnh cho làm lính. Đất Nghệ An vốn là đất anh hùng, không thiếu gì hạng trai tráng khỏe mạnh, biết võ nghệ, biết chiến đấu. Còn những người dân ở hai bên bờ sông Gianh cũng đã từng quen chinh chiến hàng trăm năm rồi. Quang Trung chỉ cần huấn luyện cấp tốc những điều căn bản là họ có thể chiến đấu. Tại đây ông cũng đã tiếp xúc với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một danh sĩ đương thời, ẩn dật không hợp tác với họ Trịnh. Nguyễn Thiếp đã hiến kế và cho rằng kế hoạch của Ngô Thời Nhiệm đưa ra là hợp lý.

Vua Quang Trung có trong tay khoảng mười vạn quân và trên dưới hai trăm con voi (có tài liệu nói hơn 100 voi). Lính Thuận Quảng làm tiền quân và lính Nghệ An làm trung quân. Thời xưa chỉ có vua và tướng mới đi ngựa hay voi. Lính phải đi bộ. Vua ra lệnh cứ ba người lính thì dùng một cái cáng, hai người gánh, một người nghỉ, thay nhau đi suốt ngày đêm cho mau. Từ Huế ra đến Tam Điệp khoảng 500 cây số chỉ đi trong 10 hôm (Nghỉ ở Nghệ An 10 hôm để tuyển thêm quân). Hơn 20 ngày sau, tức 20 tháng Chạp, quân đến Tam Điệp. Vua gặp Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm khen kế hoạch Ngô Thời Nhiệm đưa ra. Vua cũng không trách phạt Ngô Văn Lân thua trận.

Sau khi bố trí kế hoạch hành quân, ngày 30 tháng Chạp trong khi cho lính ăn Tết trước, vua Quang Trung tuyên bố:"Nay hãy ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi đến sang Xuân, ngày mồng 7 vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn. Các ngươi hãy ghi nhớ lấy lời ta xem có đúng không"" Lời tuyên bố đầy tin tưởng, đầy quyết thắng ấy làm nức lòng binh sĩ, làm cho họ hăng say chiến đấu và đã đem lại thắng lợi. Vua Quang Trung cũng gởi cho Tôn Sĩ Nghị một bức thư chê Nghị là quan văn mà dám đem quân sang Đại Việt...

Theo kế hoạch thì:

-Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân chỉ huy Tiền quân đi tiên phong.

-Hô Hổ Hầu lãnh Hậu quân tiếp ứng cho Tiền quân.

-Đại Đô Đốc Lộc và Đô Đốc Tuyết chỉ huy Hữu quân cùng Thủy quân đi đường biển vào sông Lục Đầu. Đô Đốc Tuyết sẽ kiểm soát vùng Hải Dương, Đô Đốc Lộc kiểm soát vùng Lạng Giang, Phượng Nhãn, Yên Thế chặn đường quân Thanh chạy về.

-Đô Đốc Bảo, Đô Đốc Mưu chỉ huy Tả quân và Tượng quân đi đường núi xuống mặt phía Tây, vào Chương Đức, làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì đánh đạo quân Điền Châu. Đô Đốc Bảo chỉ huy đoàn voi theo đường huyện Sơn Lãng ra Đại Áng tiếp ứng cho mặt tả.

-Vua Quang Trung chỉ huy Trung quân, vượt Sơn Nam, tấn công vào Bộ Chỉ Huy của Tôn Sĩ Nghị.

Quân ta lên đường vào 30 Tết, trong lúc quân Thanh còn đang vui chơi ăn Tết không hay biết và cũng không đề phòng. Đến đồn Giản Thủy, tướng nhà Lê là Lê Phùng Nghĩa, trấn thủ Sơn Nam đóng ở đó, không đánh mà bỏ chạy. Đêm 3 Tết, quân ta đến vây đồn Hà Hồi, tiền đồn của Ngọc Hồi (huyện Thường Tín, Hà Đông), nửa đêm dùng loa hô một tiếng, quân sĩ dạ vang. Địch sợ cuống quýt, xin hàng. Ta tịch thu nhiều quân trang, khí giới. Trận nầy quân ta chiến thắng quá dễ dàng.

Tại đồn Ngọc Hồi, quân Thanh bố trí phòng thủ kiên cố, có thành lũy chắc chắn, trên thành có đặt đại bác, bên ngoài vòng rào có địa lôi. Vua Quang Trung ra lệnh kết ba tấm ván thành một bức, bện rơm ướt cho 10 người khiêng đi trước, mang theo đoản đao. Có 20 người theo sau với đầy đủ khí giới. Voi mở đường tiến vào.

Gần sáng mồng 5, quân ta đánh đồn Ngọc Hồi. Trong đồn không liên lạc được với Hà Hồi nên không biết Hà Hồi đã bị quân ta chiếm. Đạn trong đồn Ngọc Hồi bắn ra như mưa. Voi của ta xông vào phá lũy, lính theo sau, gần giáp địch thì bỏ ván, nhảy ra đánh cận chiến, dùng đoản đao rất lợi hại. Toán sau, với đầy đủ khí giới cũng xông vào. Quân Thanh bị chết rất nhiều, trốn ra ngoài đạp trúng địa lôi của ta mai phục và bị voi của ta chà đạp....Ngọc Hồi cách Thăng Long khoảng 14 cây số là một căn cứ chiến lược quan trọng, do Hứa Thế Hanh là Phó Tướng của Tôn Sĩ Nghị chỉ huy. Các đồn Văn Điển, Yên Quyết gần đó cũng bị quân ta chiếm. Các tướng Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thanh của nhà Thanh đều tử trận.

Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long được tin báo liền cho Dương Hồng Nghiệp cùng 20 kỵ sĩ, có hai người Việt Nam là Phạm Khải Đức và Lê Quang Châu theo để thăm dò tình hình. Nhưng không kịp nữa rồi vì quân Tây Sơn đã đến Thăng Long với cờ dong, trống mở, đại bác nổ rền trời. Tôn Sĩ Nghị không kịp mang áo giáp, thắng yên cương, lên ngựa chạy về hướng Bắc, bỏ cả ấn tín, giấy tờ quan trọng.

Tại Yên Phụ, thấy lính của mình chạy qua cầu quá đông nên Tôn Sĩ Nghị ra lệnh cắt đứt cầu để chạy cho nhanh và tránh quân Tây Sơn đuổi theo. Lính Thanh rơi xuống sông, chết rét, chết đuối rất nhiều. Chạy đến Phượng Nhãn (Bắc Ninh) bị Đô Đốc Lộc đuổi, phải chạy tiếp không nghỉ chân được. Thuật lại lời của một vị tướng dưới quyền của Tôn Sĩ Nghị, sách "An Nam Quân Doanh Kỷ Yếu" của Trần Nguyên Nhiếp viết rằng: "Tôi với Chế Hiếu (Tôn Sĩ Nghị) đói cơm, khát nước, không kiếm đâu ra được ăn uống, cứ phải đi suốt bảy ngày, bảy đêm mới đến trấn Nam Quan". Đạo quân Vân Nam và Quý Châu đóng ở vùng Phú Thọ, Vĩnh Yên nghe tin Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, cũng rút quân chạy về. Vua Quang Trung ra lệnh cho quân ta đuổi theo cho đến tận biên giới. Người Hoa ở gần Lạng Sơn thấy quân Thanh rút chạy vội vàng như thế, nên cũng bỏ nhà cửa kéo nhau chạy theo, từ cửa ải về phía Bắc mấy trăm dặm không có một bóng người.

Sầm Nghi Đống ở gò Đống Đa (gần Thái Hà ấp, bên ngoài thành Thăng Long) vì không biết tình hình nên chống cự lại quân ta. Hai bên đánh nhau từ sáng đến chiều, quân Thanh không có viện binh, Sầm Nghi Đống lên đồi thắt cổ tự tử. Chỗ đó gọi là Loa Sơn. Quân Thanh chết hàng ngàn, chôn chung một ngôi mộ tại Gò Đống Đa.

Lê Chiêu Thống cũng theo đám dân chạy loạn ra khỏi thành trốn qua Trung Hoa cùng đám cận thần nhà Lê và một số gia đình họ. Trưa mồng 6, vua Lê đến Kinh Bắc, và sau đó gặp Tôn Sĩ Nghị tại Ải Nam Quan. Tôn Sĩ Nghị ra lệnh thiêu hủy tất cả đạn dược dự trữ tại biên giới rồi về triều chịu tội với nhà Thanh.

Vua Quang Trung vào thành Thăng Long hôm 5 Tết, sớm hơn dự tính hai hôm, chiến bào nhuộm đầy khói thuốc súng. Dân chúng kéo nhau ra đường chào mừng đoàn quân chiến thắng.

Viết nhân kỷ niệm chiến thắng Đống Đa (Mồng 5 Tết Đinh Sửu 1997)

Trích "Thuyền Ai Đợi Bến Văn Lâu" của GS Nguyễn Lý-Tưởng, trang 377- 392

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.