Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

30 Năm Quốc Hận – 30 Năm Tỵ Nạn Cs

16/05/200500:00:00(Xem: 4582)
Phỏng Vấn Cụ Phạm Ngọc Lũy – Cựu Thuyền Trưởng Tàu Trường Xuân

Hữu Nguyên

LTS: Trong số những Việt tỵ nạn đầu tiên đặt chân lên đến Úc cách đây 30 năm, có 200 người đã may mắn rời Việt Nam trên chiếc Tàu Trường Xuân, do Cụ Phạm Ngọc Lũy làm thuyền trưởng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, dưới tài điều khiển đầy kinh nghiệm và lòng can đảm của Cụ, cùng sự đoàn kết, tích cực đóng góp của nhiều người Việt trên tàu, tàu Trường Xuân đã thành công trong việc đưa 3628 người Việt bình an lên tàu Clara Maersk, và sau khi cập bến Hồng Kông, tất cả đã lần lượt được định cư tại 14 quốc gia trong đó có Úc. Nhân dịp tưởng niệm 30 năm ngày Quốc Hận 30-4, trong hai số báo trước, Sàigòn Times đã giới thiệu cùng qúy độc giả đoạn hồi ký trích trong cuốn “Hồi Ký Một Đời Người” của Cụ Phạm Ngọc Lũy. Trong số báo hôm nay, Sàigòn Times xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả bài phỏng vấn Cụ nhân dịp Cụ sang Úc tham dự ngày họp mặt "30 Năm Trường Xuân Hội Ngộ" được các thân hữu Trường Xuân tổ chức vào tối Thứ Bảy, 14/5/2005.

* * *

SGT: Kính thưa Cụ, trước hết, xin Cụ cho biết tóm tắt tiểu sử của Cụ, cùng những cơ duyên khiến Cụ đến với ngành hàng hải, và tàu Trường Xuân"
Cụ P.N.Lũy: Trong giấy khai sinh thì tôi sanh ngày 03/03/1920, nhưng thực ra tôi sanh năm 1919. Vào năm 1950, khi tôi còn đang dạy học ở trường Saint Joseph (Ecole des Frères) ở Hải Phòng, thì nghe có thông cáo của sở Hàng Hải mở kỳ thi tuyển dụng sinh viên vào lớp Thuyền Trưởng Cận Duyên và Viễn Duyên, các môn thi đều bằng tiếng Pháp, tôi liền nộp đơn xin thi. Lúc đó, tôi bỏ học đã lâu, chữ nghĩa quên hết, nhất là môn toán. Còn khoảng một tháng trước ngày thi, tôi mua một cuốn sách toán trình độ tú tài để học ôn trước khi thi. Dự thi có khoảng 30 người, số tuyển dụng chỉ có 10 người kể cả Trung Nam Bắc. Tôi còn nhớ đề tài bài luận Pháp văn là "Tại sao anh chọn học ngành hàng hải", tôi viết khá dài và trơn tru. Hay thì không biết có hay không, nhưng chắc ít lỗi vì đang là thầy giáo dạy tiếng Pháp. Kết quả kỳ thi đăng báo thì Phùng Nhật Tân, sau này là đại tá hải quân, đậu thủ khoa. Kế là tôi. Người giải bài toán xong trước nhất để cho mọi người chép là Đinh Mạnh Hùng, sau này là đề đốc. Sau khi được giấy báo, tôi quyết định lấy tàu thủy vô Nam theo học lớp thuyền trưởng. Tôi được nhận vào học trường Hàng Hải Sàigòn, và tốt nghiệp năm 1951. Năm năm sau, đủ 60 tháng hải hành như luật định, tôi thi lấy bằng Thuyền Trưởng thực hành. Lấy bằng rồi phải đợi 24 tháng nữa mới được làm thuyền trưởng thực thụ. Tàu đầu tiên tôi làm thuyền trưởng là tàu Phong Châu, chạy đường Sàigòn, Nha Trang, Đà Nẵng. Sau đó là tàu Trường Thành, Trường Xuân.

SGT: Thưa Cụ, 30 năm trước, vào thời điểm tháng 4.1975, Cụ đang ở đâu và làm gì"
Cụ P.N.Lũy: Vào tháng 4/1975, tôi đang có mặt trên tàu Trường Xuân để đi Pare Pare. Đầu đuôi là lúc đó, tàu Trường Xuân rời Sàigòn tháng 11/1974, đi các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, Indonesia, Phi... Trong khi đó tình hình Việt Nam tại quê nhà mỗi ngày một khẩn trương. Chúng tôi chỉ biết tin tức qua đài BBC, VOA, và đài Úc. Khi tàu Trường Xuân rời bến Balik Papan (Borneo) để đi Pare Pare, thì giữa biển, ngày 5/4/75, tôi nghe đài Úc châu báo tin “Quân đội CS đang tiến về thủ đô Sàigòn, không gặp sự kháng cự nào”. Vì vậy, khi cặp bến Pare Pare, tôi tập hợp thủy thủ để thông báo tin trên. Tất cả muốn trở về Sàigòn. Tôi quyết định báo tin hãng Vichipcolines tàu trở về Sàigòn, bỏ giao kèo đã ký đến tháng 6/75 mới hết hạn. Trường Xuân đi Singapore lấy hàng, về tới Sàigòn ngày 17/4/75.
Vì đã hiểu, đã sống với Cộng sản khi còn ở ngoài Bắc, tôi đã có ý định từ lâu, nếu bất hạnh miền Nam mất, tôi sẽ làm hết sức mình để đưa đồng bào ra khỏi nước tìm Tự Do. Tôi đã đề nghị với thuyền chủ Trần Đình Trường lấy đoàn tàu của hãng chở hết những đồng bào không muốn sống với Cộng sản, đồng thời cứu được đoàn thương thuyền khỏi rơi vào tay CS vì tàu là tài sản Quốc Gia.
SGT: Kính thưa Cụ, nguyên do nào khiến cho gần 4000 người Việt tìm tự do lúc đó tìm đến tàu Trường Xuân" Hoàn cảnh của Kho 5, cũng như bến Bạch Đằng lúc đó ra sao" Có dễ dàng cho người Việt tìm tự do xuống tàu hay không"
Cụ P.N.Lũy: Như anh đã biết, 10 giờ sáng ngày 30/4/1975, khi có lệnh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, đồng bào hoảng hốt, hỗn loạn, quân đội tan hàng tìm đường thoát thân. Trong khi đó tàu Trường Xuân đang đậu ở Kho Năm Khánh Hội bỗng trở thành cái phao cứu rỗi. Tôi dục Cơ Khí trưởng đốt lò hơi (boiler) để khói bốc lên cao, cho mọi người thấy biết là tàu sắp khởi hành. Đó cũng là tiếng gọi vô thanh kêu gọi mọi người đến với Trường Xuân. Lúc đó, dưới hầm tàu đã chứa mấy trăm tấn sắt vụn để chuẩn bị đi Phi Luật Tân. Tôi ước tính có thể chở được 200 tấn trên boong tàu mà tàu vẫn giữ được thăng bằng. 200 tấn ước lượng đổ đồng khoảng 4000 người. Vì thế ở bến tàu, rồi khi chạy dọc sông Sàigòn, cũng như ở ngoài khơi tôi vẫn tiếp tục để đồng bào lên tàu.

SGT: Xin Cụ kể lại tóm tắt cuộc hành trình vượt biển tìm tự do của tàu Trường Xuân cách đây 30 năm"
Cụ P.N.Lũy: Ồ, chuyến đi gian nan lắm, lại còn bị phá hoại nữa. Tàu lên cạn không phải vì máy hư như nhiều người đã viết đâu. Lên cạn vì một bàn tay đã khóa hệ thống làm nguội máy phát điện, tay lái dự phòng bất khiển dụng, điện tắt, phải đưa tàu lên cạn. Nếu không có cái may mắn vô cùng là gặp được tàu kéo Song An kéo ra khơi thì tất cả chúng tôi đã bị Cộng sản bắt.

SGT: Cho đến nay, đã 30 năm trôi qua, nhưng hầu như tất cả những người Việt tìm tự do trên tàu Trường Xuân, đều cảm động nhắc đến việc, Cụ quyết định cho tàu quay trở lại 10 cây số vào chiều tối 1/5/75, chỉ để tìm kiếm một người chẳng may bị rớt xuống biển. Xin Cụ cho biết, cuộc tìm kiếm đã diễn ra như thế nào, thành công ra sao" Điều gì đã khiến Cụ đi đến quyết định hiếm hoi và vô cùng phiêu lưu này"
Cụ P.N.Lũy: Việc này nói ra thì khá dài, nhưng quả thực là một việc vô cùng quan trọng vào lúc bấy giờ nên tôi xin được dài dòng kể lại kỷ niệm đáng nhớ này qua đoạn tôi đã viết trong cuốn hồi ký của tôi như sau. Khoảng tám chín năm trước ngày miền Nam bị CS cưỡng chiếm hoàn toàn, tôi không nhớ rõ đã đọc trong tập Constellation hay Selection Reader’s Digest, bản tiếng Pháp, về câu chuyện một thuyền trưởng đã tìm và vớt được người rớt xuống biển trong trường hợp thật hi hữu. Câu chuyện tóm tắt như sau: ... 8giờ sáng ngày 25.12.196..., ông thuyền trưởng vùng Bắc Âu điểm danh thủy thủ thấy thiếu một người. Sau khi tìm khắp nơi trên tàu, ông kết luận anh thủy thủ này nhậu say trong đêm Giáng Sinh nên đã té xuống biển. Ước tính giờ anh thủy thủ rớt, tính tốc độ của tàu, độ dạt của gió, sức đẩy của luồng nước..., ông quyết định quay tàu lại tìm kiếm nạn nhân. Thủy thủ được tăng cường thêm để theo dõi trên mặt biển. Năm tiếng... mười tiếng đồng hồ đã qua không làm cho thuyền trưởng nản chí. Ông vẫn tiếp tục tìm kiếm. Bỗng từ xa, qua ống nhòm, ngay phía trứớc mũi tàu, trên đường tàu chạy, một vật đang di động. Tàu tiến lại gần. Anh thủy thủ vẫn còn nổi trên mặt nước. Nạn nhân được vớt lên. Tính ra đã ngâm mình gần 24 tiếng đồng hồ dưới biển vào cuối tháng Chạp của mùa Đông giá lạnh.
Câu chuyện này gây một ấn tượng rất sâu đậm trong tâm hồn tôi. Tôi khâm phục vị thuyền trưởng đã thành công vớt người, ít ai làm được; và ao ước trong đời hàng hải của mình làm được một việc như ông. Mong mỏi vớt được người rớt xuống biển như trong câu chuyện đã đọc, tôi thấy khó khăn quá sức, cho rằng đó chỉ là điều mơ ước hão huyền, chỉ có thể xảy ra trong truyện giả tưởng. Vị thuyền trưởng Bắc Âu đã dạy tôi hiểu thêm về trách nhiệm của một thuyền trưởng. Ông dạy tôi tình thương yêu con người, muốn cứu một người cần phải bình tĩnh, khôn ngoan, không được nản chí. Ông tính toán giỏi chính xác đến độ, gần 24 giờ sau, tìm lại được anh thủy thủ nằm đúng trên đường tàu trở lại, anh không ở một chỗ mà bị gió và luồng nước đẩy đi. Con người chỉ là một tấm ly ti giữa biển khơi vô tận. Anh thủy thủ cực kỳ may mắn này cũng cho tôi một bài học. Con người anh tiềm ẩn một nghị lực phi thường. Anh chứng tỏ sức dẻo dai vô địch. Anh cho tôi hiểu con người có nhiều năng lực có thể khai thác. Nếu anh không rớt xuống biển, không phải chống chọi với cái rét lạnh, phải ngâm mình dưới nước ở giữa cái mênh mông vô tận của đại dương... anh đâu biết bản năng sinh tồn mạnh đến thế, anh đâu biết anh có nguồn sinh lực rất dồi dào. Sức mạnh nào đã giúp anh cầm cự với cái chết, cái giá lạnh, với tuyệt vọng để rồi anh được cứu sống.
Trở lại trường hợp tàu Trường Xuân cũng có người rớt xuống biển, nhưng không phải trong trường hợp bình thường, mà thật bất thường. Lúc ấy tối nhớ, điện tín cầu cứu gửi đi từ sáng ngày 1.5.1975 vẫn chưa được tàu nào đáp ứng tiếp cứu. Đói và khát... ám ảnh tôi nặng nề. Hai người vừa tự tử, máu óc vãi tung tóe làm thêm hoang mang lo sợ. Khối đồng bào chen chúc trên boong, từ lái tới mũi, chỉ gây thêm nỗi lo âu, tuy bề ngoài tôi vẫn cố giữ vẻ điềm tĩnh. Trên trời có những tảng mây đen nhỏ và dầy. Ao ước có trận mưa rào để có thêm nước uống, để làm dịu cái không khí trở nên thật ngột ngạt, làm nguôi đi cái vô vọng đang ray rứt từng người. Cơn gió Tây Nam cuối mùa nổi lên rất nhẹ, làm gợn sóng lăn tăn trên biển không đủ làm mát lòng người. Con người đang đứng trước một thực tại thật bấp bênh, sống và chết không còn biên giới nữa. Thoát khỏi bị phục kích ở Rừng Sát, mọi người bây giờ đều tự hỏi: Tương lai về đâu" Sống chết ra sao"
Đầu óc tôi cũng rối bời với bao nhiêu câu hỏi. Ban An Ninh liệu có đủ uy tín, đủ sức mạnh để duy trì kỷ luật. Làm sao đồng bào giữ được trầm tĩnh để có thể vượt qua được hiểm nghèo. Nếu ai cũng ích kỷ, mạnh ai nấy sống, sẽ dẫn tới rối loạn. Lời kêu gọi trấn an suông liệu có thuyết phục được ai không" Chung quanh tôi lúc đó, người nào cũng mệt mỏi. Trung tá Hùng mới qua có một ngày mà mắt đã trũng sâu, má đã hóp. Luật sư Thống ở bên phòng vô tuyến điện, thỉnh thoảng phấp phỏng ló ra ngoài nhìn vợ con. Sĩ quan Chất, nha sĩ Hòa, cựu thượng sĩ Hải quân Thiện đã biến đâu mất. Trung tá Hảo vẫn ngồi trên cái thùng đựng phao, vẻ mặt buồn, tư lự, có lẽ đang nghĩ đến cảnh gia đình ly tán, có lẽ đang nghĩ đến cuộc chiến phải bỏ dở. Từ lúc xuống tàu tới giờ, Hảo không hề cười. Riêng Hải thì vẫn tỉnh táo, có lẽ đã dự trù trước đầy đủ lương thực. Mặt Hải vẫn còn hồng hào.
Bên tôi thường có 3 người: trung tá Hùng, thiếu tá Thuyên, sinh viên Lâm (biết võ Karaté) được mẹ dặn nhỏ theo sát hộ vệ tôi. Một giờ sau khi thủy táng hai nạn nhân tự tử, áp lực vô vọng chưa nhẹ bớt, bỗng bên mạn trái có tiếng kêu thất thanh:
- Người rớt xuống biển!
- Có người tự tử!
Đứng trên đài chỉ huy tôi chú ý, đồng bào thường hay len ra thành tàu đứng để hứng được nhiều gió mát mẻ hơn, tránh hơi người chen chúc bốc ra nồng nặc. Mấy thanh niên trèo lên be tàu ngồi. Người rớt xuống nước có lẽ vì bất cẩn hay bị chèn lấn, mà cũng có thể phẫn chí tự tử. Tàu Trường Xuân lúc đó như con thú khổng lồ bị thương trầm trọng cùng mình, vẫn còn phải xử dụng tay lái “sơ cua”. Nước vẫn âm ỷ lọt vào phòng máy. Không khí tàu trở nên ngột ngạt. Nghĩ đến sinh mạng bốn ngàn người, rồi nghĩ đến sinh mạng một người. Quay tàu trở lại hay tiếp tục chạy" Trong một thoáng, nhớ lại câu chuyện thuyền trưởng vùng Bắc Âu vớt người. Nhưng ông ta ở vào một hoàn cảnh khác. Còn tôi, quay trở lại không tìm được nạn nhân thì sao" Thời giờ lúc này quý vô cùng. Lỡ trở lại rồi máy lại bị hư. Cũng có thể tàu Cộng sản rượt phía sau. Không khí quá căng thẳng. Định quay mũi rồi lại thôi. Phân vân và lưỡng lự. Phải làm sao để mọi người phải đùm bọc nhau trong nguy khốn. Nếu không sẽ mất hết. Thảm trạng khốc liệt sẽ xảy ra. Hàng trăm câu hỏi nêu lên không có lời giải đáp. Tàu vẫn tiếp tục chạy...
Chợt nhìn về hướng Tây, mặt trời chỉ còn cách mặt biển một con sào. Quyết định quay tàu lại. Hơn nửa giờ đã qua. Nạn nhân nếu còn sống sót đã ở cách xa ước chừng 5 hải lý. Nếu tìm được nạn nhân, ảnh hưởng tâm lý sẽ rất lớn lao. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh thanh niên la lên ban nãy:
- Có thật người rớt xuống biển, hay tự tử"
- Không phải tự tử, rớt thực mà.
Anh thanh niên trả lời, đôi mắt như cầu khẩn. Mấy người khác đứng gần, thấy tôi có ý quay trở lại, tỏ vẻ không bằng lòng. Có lẽ họ cho rằng, tàu quay lại chỉ làm một việc vô ích. Nhưng tôi đã quyết. Chuông báo máy chuẩn bị, cho Phi biết Trường Xuân quay trở lại tìm vớt người rớt xuống biển.
Đồng hồ chỉ 5 giờ 35 chiều ngày 1.5.75. Để quay tàu 180 độ, trở lại đường cũ, tôi đã áp dụng phương pháp của đô đốc Boutakoff, kỹ thuật quay tàu đã học ở trường mấy chục năm về trước nay mới đem ra áp dụng lần đầu cũng là lần chót trong đời hàng hải. Tôi cũng không hiểu sao lúc đó còn đủ minh mẫn để nhớ điều đã học. Đưa cho Lâm ống nhòm, dặn Lâm phải quan sát thật kỹ hai bên và thẳng phía trước mũi tàu. Nếu nhận ra được người, lấy một đám mây trên trời làm chuẩn để theo dõi khỏi lạc mục tiêu. Hơn nửa giờ sau, vừa nhìn qua ống nhòm, Lâm vừa giơ tay chỉ:


- Người kia kìa. Bố nhìn thẳng về hướng đám mây hồng hồng chếch bên trái mũi tàu thì thấy rõ.
Lâm nhìn lầm chăng" Đỡ lấy ống nhòm, hướng về phía đám mây làm chuẩn, tôi theo dõi trên mặt biển lúc bấy giờ sóng rất nhỏ. Nạn nhân đang vùng vẫy bơi, ra dáng còn khỏe lắm. Tôi mừng quá, những nỗi lo âu tưởng như vỗ cánh bay đi. Một mặt bảo Lâm phải bám sát nạn nhân không được rời ống nhòm, một mặt bảo Hải và Thiện cắt sợi dây “lock” dài độ hai trăm mét, buộc sẵn vào cái phao tròn. Tàu tiến chầm chậm tới gần nạn nhân, lách nhẹ sang trái rồi ngừng hẳn để nạn nhân trần như nhộng nằm phía dưới gió. Khi còn cách nạn nhân chừng 10 mét, phao được quăng xuống nước. Nạn nhân bám lấy phao, được kéo sát thành tàu. Bốn năm người túm vào kéo anh ta lên boong. Mặt trời chìm sâu dưới biển. Những đám mây đỏ rực như máu ở phía Tây.
Vớt người xong, Trường Xuân tiếp tục chạy xuống hướng Nam. Mừng không phải hẳn vì vớt được người, mừng vì đồng bào trên tàu đã nhìn thấy, chỉ một mạng cũng cần phải cứu sống. Tôi hy vọng đồng bào hiểu rằng con tàu được lèo lái đến bến an toàn hay không, tất cả mọi người đều phải có trách nhiệm. Trách nhiệm của đồng bào lúc này là giữ bình tĩnh, đừng gây thêm hoang mang, giữ vững trật tự, nhất là đừng ích kỷ. Có phải Thượng Đế đã giúp con tàu Trường Xuân vớt được người rơi xuống biển, giúp bốn ngàn người chúng tôi sáng suốt hơn, trầm tĩnh hơn trong cơn nguy khốn để có thể bảo vệ nhau trong lúc khốn cùng. Tôi không có thì giờ tìm gặp nạn nhân để hỏi cho biết vì sao mà rớt xuống biển. Có người nói vì thù hằn, vì cướp, vì tự tử. Mỗi người đều có một giả thuyết và ai cũng cho là giả thuyết của mình đúng!

SGT: Thưa Cụ, người được cứu đó là ai"
Cụ P.N.Lũy: Có nhiều người bảo người được vớt là một cựu đại tá, nguyên tỉnh trưởng được ba bốn người xác nhận. Họ kể như chính họ được gặp nạn nhân. Để cho mọi người thêm tin tưởng, người ta còn cho biết nạn nhân bây giờ vẫn còn sợ sệt, không dám nhận mình đã rớt xuống biển. Anh ta như mất trí. Khi tới Hoa Kỳ, ở trại Indiantown Gap, tình cờ tôi gặp và hỏi Mai Công Tri:
- Anh ở trại Harcourt Road có biết hay có gặp người rớt xuống biển rồi được vớt không"
- Bác không nhớ à! Bữa bác sang thăm trại độc thân, anh ta có ra chào bác. Anh ấy kể với cháu, cám ơn bác đã cứu anh ta hai lần thoát chết.
- Sao lại hai lần"
- Cháu không biết, chỉ thấy anh ta nói vậy.
- Anh có thể cho biết rõ tên và lai lịch anh ta không"
Suy nghĩ một lát, Tri ngập ngừng nói:
- Anh tên thực là Vũ Văn Thụ, nhưng khi đến Hongkong lại lấy tên Hồ Phái Nam.
- Anh có thể kể lại tại sao Thụ lại rớt xuống biển không"
- Để cháu biên thư cho anh Thụ để ảnh kể cho bác nghe xác thực hơn. Thụ lấy người cháu họ của cháu. Anh ta có tám con để lại cả ở Sàigòn.
- Có rất nhiều người cho tin khác nhau. Sao mà kiểm chứng được"
- Cháu biết rõ lắm mà. Không phải tự tử đâu. Anh ấy bây giờ như người lẩn thẩn.
- Không phải tự tử cũng có lý. Nếu tự tử sao lại còn bơi khỏe thế. Anh Thụ đi định cư đâu chưa"
- Chưa, anh ấy muốn về Việt Nam. Về chuyện rớt xuống biển cháu không muốn kể lại lời anh Thụ đã nói với cháu ở Hongkong, nói đi nói lại tam sao thất bổn chăng.
Tri vẫn tránh né không dám kể sự thực. Cũng có thể Trí không nhớ hết, nói sai một ly... đi một dặm. Tôi hỏi thêm:
- Có người nói anh ta là đặc công, có người nói là bị cướp tiền rồi đẩy xuống biển"
- Có điều chắc chắn là Thụ không phải tự ý nhảy xuống biển. Thụ làm nghề chụp ảnh dạo trên đường Tự Do, trước Quốc Hội... Thụ viết thư cho bác sẽ rõ hơn. Cháu sẽ bảo anh ta viết thư cho bác.
Câu chuyện “Vớt người rớt xuống biển” đối với tôi là một chuyện đáng ghi nhớ trong những chuyện đáng ghi nhớ nhất trong đời mình, nhưng vẫn hậm hực vì không được gặp lại nạn nhân. Ngày nào cũng như ngày nấy, tôi nhận được nhiều thư cho biết tin tức định cư ở các nước của đồng bào tÿ nạn Trường Xuân. Thư có đến bẩy, tám trăm lá, được xếp cất đi rất cẩn thận trong một cái hộp bìa cứng, coi đó như một gia tài tinh thần. Trong vòng năm năm tôi đổi chỗ ở bảy lần, đi theo các con. Vào một dịp dọn nhà, hộp thư đã bị thất lạc, chắc người nhà cho là giấy tờ cũ, bỏ đi giữ làm gì. Cũng may có bốn năm bức thư khá đặc biệt, được cất vào tập “Tài liệu Trường Xuân” nên còn đến hôm nay.
Đầu năm 1976, tôi đã nhận được bức thư của “Người Rớt Xuống Biển” gửi tới Mỹ, từ Hongkong. Một số thân hữu Trường Xuân gửi về cho tôi khoảng gần 200 đô la để giúp đồng bào còn kẹt lại ở trại tÿ nạn. Số tiền này được gởi cho sơ Nguyện để an ủi những đồng bào kém may mắn còn ở lại trại Hongkong. Vũ Văn Thụ được tặng riêng 20 đô la.
Đầu năm 1992, sau 17 mới gặp lại Mai Công Tri. Tri mời tôi lại nhà ăn cơm. Tại nhà Tri, tôi gặp cả Mai Công Cầu, vừa tới Mỹ đoàn tụ với các con, là chỗ quen biết từ hồi còn ở Hải Phòng. Tri và Cầu là hai anh em con chú bác ruột. Mẹ Cầu là người xóm Nam Hưng cùng làng An Lễ. Cầu cho biết rõ vợ và một con trai sang với Thụ ở Hongkong. Thỉnh thoảng vợ chồng Thụ có về VN. Con gái lớn Thụ đã có chồng, hiện đang định cư ở Mỹ.

SGT: Thưa Cụ, lúc vớt người đó có ai chụp được tấm hình nào không"
Cụ P.N.Lũy: Sau này ông Nguyễn Đình Bảng có tặng tôi một cuốn phim 8mm ghi được hình ảnh khá đặc biệt, lúc tàu Trường Xuân còn đậu bến sáng 30.4.75, sau khi đầu hàng, thâu được cả đoạn vớt Vũ Văn Thụ. Cuốn phim này đã được chiếu cho nhiều thân hữu Trường Xuân xem.
SGT: Trong hoành cảnh thập phần nguy hiểm đó, tại sau Cụ dám quyết định phiêu lưu tính mạng của 4000 người trên tàu để quay tàu lại cứu một người"
Cụ P.N.Lũy: Câu anh hỏi khiến tôi nhớ đến câu hỏi của Đình Vũ. Dịp đến Montreal thăm thân hữu, gặp lại bác sĩ Trần Văn Kim trưởng ban cứu thương, bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng đã từng đỡ đẻ trên tàu Trường Xuân cùng khá đông anh em khác. Câu chuyện đang vui mới được mươi phút, Đình Vũ, lại ngồi sát gần tôi, rồi hỏi một câu thật bất ngờ: "Tại sao bác lại hy sinh 4000 người để tìm cứu một người"" Theo cung cách câu hỏi, tôi hiểu ngay Đinh Vũ đã bị ám ảnh từ lâu sao tôi lại làm một việc đáng lẽ không nên làm dù là quay đầu trở lại để cứu người bị nạn. Đinh Vũ có lý của anh, nhưng anh không ở địa vị một người thuyền trưởng. Đinh Vũ không thấy những khó khăn ghê gớm đang chờ đợi, không thể hiểu rằng đến một thời điểm hết sức căng thẳng nào đó, thuyền trưởng không chỉ huy được nữa, lệnh ra chẳng ai nghe rồi dẫn đến rối loạn. Nước ngọt chứa trong hầm bị một bàn tay bí mật nào đó xả ra hết, làm tàu không còn nước uống, không thức ăn. Vừa đói vừa khát. Tình trạng vệ sinh thật nguy hiểm... Có nguy cơ nổi loạn. Người rớt xuống biển vào đúng thời điểm này. Sau mấy phút suy nghĩ, tính toán, tôi quyết định quay tàu trở lại tìm và vớt được nạn nhân. Nhờ vớt được người đã rớt xuống biển lên, đồng bào chứng kiến tận mắt một mạng người cũng được quan tâm cứu sống, nên đã bình tâm lại và nhờ đó trật tự được vãn hồi, bạo động không xảy ra... Tôi trả lời Vũ: "Cứu một người để cứu 4000 người." Đinh Vũ nhìn tôi, không nói thêm nữa. Chắc bây giờ Vũ đã hiểu vì sao Trường Xuân quay trở lại tìm vớt Thụ. Và như vậy rõ ràng là trong hoàn cảnh của tàu Trường Xuân lúc bấy giờ, việc cứu một người rớt xuống biển mà quả thực là có tác dụng ổn định được lòng người và nhờ vậy, đưa được gần 4000 người thoát hiểm.

SGT: Thưa Cụ, gần 4000 người Việt tỵ nạn trên tàu Trường Xuân, sau khi đến Hồng Kông, đã định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, và nhiều Hội Ái Hữu Trường Xuân đã được thành lập. Xin Cụ cho biết một vài tin tức tiêu biểu về các sinh hoạt ái hữu Trường Xuân tại các quốc gia"
Cụ P.N.Lũy: Năm 1976, chúng tôi cùng một số thân hữu như cụ Đinh Ngọc Chương, Phạm Văn Thám, Nguyễn Thanh Lâm, Vũ Lung... đã đi các tiểu bang tại Hoa Kỳ để gặp gỡ, thăm hỏi những bạn đồng hội. Năm 1979, một phái đoàn gồm cụ Đinh Văn Sửu (đã mất), thân hữu Nguyễn Thanh Lâm và tôi đến Đan Mạch để cảm tạ ông chủ hãng tàu A.D. Moller và ông Anton Olsen, thuyền trưởng tàu Clara... đã cứu vớt chúng tôi. Sau đó phái đoàn đi các nước như Pháp, Bỉ, Tây Đức, Áo để dự những buổi họp mặt Trường Xuân. ở tiểu bang California có cụ Phạm Thanh Liêm, tiểu bang Texas có cụ Đinh Ngọc Chương, tiểu bang Washington có thân hữu Phạm Hậu lập chi hội Trường Xuân.... Hiện nay hai cụ Liêm, cụ Chương đã mất mà chưa có người đứng ra nối tiếp. Riêng tôi, nhiều anh chị em muốn tôi đứng ra kêu gọi mọi người cố gắng hình thành một tập thể Trường Xuân để cùng nhau đóng góp vào sự lớn mạnh của 3 triệu người Việt tại hải ngoại. Nhưng tôi thật sự ngại ngùng vì tuổi tác, sợ không kham nổi trọng trách đó. Năm ngoái, vào tháng 9 năm 2004, tôi có dịp đến dự buổi họp mặt Trường Xuân ở Montreal Gia Nã Đại. Ngày 30/4/2005, tôi bay xuống Houston để dự ngày kỷ niệm 30 năm, do nhóm thân hữu thành phố Houston tổ chức.
Hiện nay có một số anh chị em trẻ liên lạc với nhau trên máy điện toán, đưa ra 3 dự án để mong tất cả bà con Trường Xuân cùng chung sức thực hiện: một là DVD Trường Xuân, hai là một cuốn “Kỷ Yếu Trường Xuân 30 năm nhìn lại", và ba là Hội Ngộ Trường Xuân 30 năm.
Còn nói đến những thành công của những người Việt vượt biển tìm tự do trên tàu Trường Xuân thì cho tới nay vẫn chưa có một thống kê chính xác nào, nhưng có điều chắc chắn rằng thuyền nhân tàu Trường Xuân trên khắp các nơi, đã tham gia vào nhiều sinh hoạt, từ các đoàn thể đấu tranh, đến cộng đồng, làm báo, đài phát thanh.... Về mặt học vấn, đã có rất nhiều con em thành công tốt đẹp.

SGT: Thưa Cụ, trong suốt 30 năm qua, Cụ đã từng viếng thăm Úc, viếng thăm 200 người Việt tỵ nạn của tàu Trường Xuân đã định cư tại đây. Xin Cụ cho biết một vài suy nghĩ và cảm tưởng của Cụ đối với nước Úc, và đặc biệt, với những gia đình thuộc tàu Trường Xuân"
Cụ P.N.Lũy: Tôi đã đến Úc vào năm 1983 và được gặp nhiều gia đình Trường Xuân. Tôi cũng đã in hình và viết về buổi gặp gỡ này trong cuốn “Hồi ký một đời người (tập 2). Mới đây tôi được biết lớp trẻ lớn lên và sinh ra ở Úc thành công về mọi mặt. Và điều đó nói lên rằng chính các em đã tô điểm con tàu Trường Xuân mỗi ngày một rạng rỡ hơn. Bên cạnh đó, thế hệ cha anh thì cũng thành công về việc làm ăn, buôn bán. Tôi hết sức vui mừng. Tôi rất thán phục đồng bào bên Úc đã thành lập được một Cộng Đồng Liên Bang Úc Châu, một việc mà chưa nơi nào làm được. Nhất là chiến thắng VTV-4 của CĐNVTD ở Úc đã làm cho chúng tôi ở bên Mỹ rất thán phục.

SGT: Thưa Cụ, nhân dịp kỷ niệm 30 năm, thân hữu tàu Trường Xuân trên toàn thế giới đang có những dự án gì đặc biệt để ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của tàu Trường Xuân"
Cụ P.N.Lũy: Theo tôi nghĩ thì một trong những dự án đặc biệt ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của tàu Trường Xuân là DVD do thân hữu Nguyễn Thanh Liêm thực hiện. Như tôi đã nói, sáng ngày 30 tháng Tư năm 75, tàu còn đậu tại bến, bác sĩ Nguyễn Đình Bản có thâu được hình ảnh tàu Trường Xuân bằng máy quay phim. Sáng 1 tháng Năm năm 75, khi tàu ra biển, BS cũng thâu được hình ảnh tàu rời Vũng Tàu, rồi cả cảnh tàu vớt người, rồi tàu Clara Maerok đến cứu, và một vài hình ảnh trong trại tÿ nạn Hongkong. Cuốn phim ngắn ngủi chỉ vào khoảng 10 phút, nhưng những hình ảnh này vô cùng quý hiếm. Những hình ảnh này đã được ghi vào DVD do thân hữu Nguyễn Thanh Lâm thực hiện, và đã gửi sang anh Đinh Quốc Hùng để làm tài liệu trình bày trong ngày Hội Ngộ 14/5/05 sắp tới.

SGT: Sau 30 năm, kể từ ngày Cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, bây giờ nhìn lại, Cụ có suy nghĩ gì về đất nước, con người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại, cũng như tương lai" Và nếu có một ước mơ sớm thành sự thật, ước mơ của Cụ là gì"
Cụ P.N.Lũy: Năm nay tôi đã 87 tuổi, 30 năm làm kẻ lưu dân, nhìn lại đời mình chỉ thấy thất bại. Tôi khát khao và mong ước có thể làm được gì trong điều kiện sức khỏe của mình, để 3 triệu người, một bộ phận dân tộc Việt hải ngoại tiếp thu những tinh hoa về mọi phương diện của nhân loại, mau chóng đạt tới một Cộng Đồng Việt Hải Ngoại để phục vụ đất nước khi cơ hội đến. Tôi thành khẩn mong mỏi tất cả chúng ta, người Việt ly hương đều có một nguồn gốc, đã từng chia sẻ buồn vui, cùng cười, cùng khóc theo vận nước, cần phải gìn giữ tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau, cố gắng san bằng mọi dị biệt để khối 3 triệu người Việt lưu vong của chúng ta là một Niềm Hy Vọng lớn lao của đồng bào đang còn ở quê nhà đang sống thiếu tự do, không dân chủ.

SGT: Thay mặt độc giả Sàigòn Times, chân thành cảm ơn thì giờ qúy báu của Cụ. Kính chúc Cụ vạn an, và chúng tôi cũng tha thiết cầu mong, trong thời gian viếng thăm nước Úc, Cụ sẽ thấy ước mơ và hy vọng của Cụ phần nào được trở thành sự thật.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Tựa ánh sáng của một ngọn hải đăng, sao Hỏa vẫn chói lọi và rực rỡ trong đêm.
Ron Klain, người được ông Biden bổ nhiệm vào vị trí chánh văn phòng Nhà Trắng, tiết lộ rằng ông Biden sẽ công bố các vị trí trong nội các vào ngày thứ Ba (24/11/2020).
Chính quyền Trump có thể sắp hạn chế 89 công ty hàng không Trung Quốc và các công ty có quan hệ với quân đội mua hàng hóa và công nghệ Mỹ.
Tại thượng đỉnh G20 ngày 22/11/2020, Tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục chỉ trích Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, cho rằng thỏa thuận gây hại cho nền kinh tế Mỹ chứ không phải để cứu hành tinh.
Các nhà lãnh đạo G20 đã cam kết đảm bảo phân phối công bằng vaccine, thuốc và xét nghiệm Covid-19 để các nước nghèo hơn không bị bỏ lại phía sau.