Hôm nay,  

Bâng khuâng chiều ba mươi…

02/02/202400:00:00(Xem: 1910)

ba-muoi

Tôi may mắn hơn nhiều người Việt sống bên ngoài Việt nam là được sống trong một thành phố không cần biết tiếng Anh vì mọi dịch vụ đều có người Việt phục vụ đồng hương. Dịch vụ mới nhất tôi nghe được trong chiều ba mươi từ người bạn bị mất việc hôm tháng trước, anh giao hết cho dịch vụ trương bảng nhận khai thuế nhưng có làm thêm dịch vụ xin tiền thất nghiệp, nghĩa là lo khâu xin việc mỗi tuần ở những hãng xưởng khác nhau theo yêu cầu của Sở thất nghiệp TWC để được hưởng tiền thất nghiệp hàng tuần nhưng bảo đảm không ai gọi đi làm đâu mà sợ. Tiền thất nghiệp cứ chuyển vào tài khoản nhà băng người thất nghiệp mỗi tuần, không phải lo gì hết ngoài việc trả cho dịch vụ vài chục bạc. Nghe xong không biết nên vui hay buồn với cộng đồng mình vào một chiều cuối năm ở hải ngoại.
Chiều nay tôi cũng gặp người bạn mới đi Việt nam về, ngồi chung bàn tiệc gây quỹ chiều ba mươi không nghe ai nói về tết cho đỡ buồn, đỡ nhớ quê xa nên đành nghe anh bạn mới đi Việt nam về tuyên bố thẳng thừng là thức ăn bên Việt nam bây giờ không ngon bằng bên Mỹ. Anh bị đồng hương bên đây phản đối mạnh nhưng đương sự vẫn kiên trì chứng minh qua vài món bình dân như phở, lẩu dê, lẩu bò, lẩu thập cẩm…, bánh xèo, mì hoành thánh, hủ tiếu gõ, gỏi khô bò đu đủ, tới bánh bò bánh tiêu… Tất cả chỉ cón tên gọi không thay đổi chứ phẩm chất đã biến chất hết rồi. Hồi xưa ăn miếng bánh bò hấp thơm mùi lá dứa tới đi xa nhớ hoài, nhưng bây giờ xài hương liệu mùi lá dứa cho tiện và rẻ hơn lá dứa tươi nên miếng bánh bò hấp thời hiện đại chỉ vừa khẩu vị những người sinh sau đẻ muộn, chưa từng ăn qua bánh bò hấp với lá dứa tươi…
  
Đúng là những món chợt nhớ chợt thèm trong lòng người xa xứ đến da diết, nhưng anh bạn mới đi Việt nam về cho biết: Bên Việt nam bây giờ nấu ăn không ngon bằng bên Mỹ vì dùng hương liệu nhiều quá, không còn tính chất tự nhiên như xưa. Hồi xưa mình ăn miếng xôi gấc thơm khác bây giờ, vị nhẫn nhẫn của vỏ hột xôi gấc không nhầm lẫn vào đâu được thì nay gấc chế biến cũng mỗi hiệu một mùi hương theo gia truyền nên xôi gấc tự nhiên của bà bán gánh đã tuyệt tích…là chưa nói đến mánh khoé của người buôn bán trong nước bây giờ theo trào lưu lên mạng, cái gì cũng lên mạng... Tôi xem trên YouTube, không ngờ ngay đầu hẻm nhà vợ tôi bên Sài gòn lại mở ra cái quán lẩu bò. Tôi nhìn thôi đã thấy thèm vì thấy ngon và quá rẻ, chỉ hai trăm ngàn một cái lẩu bò hai người ăn. Tôi mơ về để rủ hết bạn bè, bà con đi ăn lẩu, tôi đãi hết mọi người; tôi bao quán một ngày cũng đủ tiền vì mỗi người ăn chưa tới năm đô la, lại không thuế… Nhưng sự thật tôi về hoàn toàn khác! Cái lẩu hai trăm ngàn trên YouTube là để quay phim, làm clip thôi, quảng cáo cho xôm tụ thôi. Cái lẩu hai người ăn mà nhiều và nhìn ngon mắt ấy là phải kêu thêm, chừng sáu trăm ngàn mới tương đương với cái lẩu lên phim; không phải là treo dê bán chó nhưng có một nói ba để dụ khách là có thật. Việc thứ hai làm nản lòng người xa xứ là bước vào nhà bếp của quán lẩu thì hết dám ăn vì từ khâu sơ chế đến khâu nấu nướng, cuối cùng là khâu dọn rửa, đều thiếu vệ sinh cơ bản nhưng cần thiết cho một nơi bán hàng ăn.
  
Có về mới biết tất cả đã thay đổi, nói chung là người ‘ăn dơ’ nhờ chức quyền thì mới có tiền ăn rau sạch, tôm cá tự nhiên; còn người ‘ăn sạch’ với lương tháng ba cọc ba đồng thì chỉ đủ tiền ăn rau dơ, rau phân bón hoá học tới lá rau quế bằng lá trầu nhưng chẳng có mùi rau quế gì hết; ăn tôm cá nuôi bằng thực phẩm chế biến nên con tôm con cá ú nụ mà thịt bã chè như ăn tôm bột, cá bột…
  
  

Thôi thì nhận xét của một người đâu phải là tất cả, nghe để biết bâng khuâng chiều ba mươi vì quê tôi bây giờ có như thế nào thì cũng vẫn là nơi tôi muốn về, nhất là chiều ba mươi tết. Dù đồng hương bên đây chín người mưới ý thì tôi cũng nên vui mừng mới đúng vì chiều ba mươi ở quê người mà không cần phải nói một câu tiếng Anh nào hết. Cả thế giới xung quanh đều mang hồn Việt với những gian hàng tết bán đủ cả những món quà tết, quần áo tết, bao lì xì đỏ, bánh tét, bánh chưng, không thiếu thứ gì liên quan đến tết… trộn lẫn trong mùi hương thực phẩm tết lan toả từ những gian hàng bán thức ăn, tạo nên không khí tết, trầm bổng cùng tiếng Việt làm ấm lòng xa xứ… Nhưng nỗi buồn cuối năm như khối u trong lòng, cứ chiều ba mươi là xưng tấy lên đã nhiều năm qua. Từ những chiều ba mươi bâng khuâng nhớ nhà da diết nhưng không có điều kiện để về thăm nhà, thăm cha mẹ, anh em, láng giềng… thèm một bữa nhậu ở trần bên sân nhà hàng xóm, thèm nghe tiếng pháo chuột lẹt đẹt của trẻ con đang đốt tuổi thơ bay, thèm nghe tiếng guốc xuân của cô gái dậy thì đi qua ngõ… Những cái thèm trong tâm tư người hải ngoại làm cay mắt chiều ba mươi ấy có nguội lạnh bớt theo thời gian xa xứ, nhưng chưa bao giờ biến mất khỏi tâm tư người xa quê. Chiều nay gió đông tàn và những bông tuyết muộn làm trắng cả giấc mơ ngày về, không biết xóm làng xưa ai còn ai mất để hàn huyên bên ly rượu xuân như lời bài hát “đầu xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…” Cảm giác về nhà ăn tết bay biến theo dòng sống hải ngoại hay cha mẹ đã qua đời, làm cho sự thôi thúc về lại mái nhà xưa khi năm tàn tháng tận không còn mãnh liệt. Dù trong lòng không quên những chiều ba mươi chen lấn nơi bến xe, chịu trả gấp đôi tiền vé xe đò chỉ để về nhà ăn tết, và ngậm ngùi thay khi về đến nhà đã chạng vạng chiều ba mươi mới hay nhà chả có gì để gọi là tết. Chiến tranh và hoà bình đã làm nên những cái tết chỉ có ở Việt nam như tết Mậu thân ăn tết dưới hầm chống pháo kích, trẻ con chúng tôi dùng bột nếp rứt ra từ bánh ít mà chơi nặn hình thay đất sét. Trong khi tết hoà bình, không có tiếng đạn bay thì lại không có gì để ăn là tết xã hội chủ nghĩa, chỉ có loa phóng thanh trên cột đèn hô khẩu hiệu, lải nhải những điều thừa thãi oang oang, còn tất cả đều xìu như bao tử lép. Nhưng thể nào anh em, bạn bè trong xóm cũng bói ra chai rượu quốc doanh, chút dưa giá lẻ bạn vì thiếu thịt kho tàu… tết lâng lâng với ly xuân ấm lòng phiêu bạt để ra giêng, anh em, bạn bè lại chia tay. Miếng cơm manh áo ở quê nhà tuy khó nhưng có quê hương là chòm xóm nhỏ. Nay có cả cộng đồng ăn ngon mặc đẹp đi xe sang nhưng nói chuyện trên trời dưới đất, tào lao thiên đế hơn thật lòng thương tên bạn hàng xóm cả năm mới gặp lại nhau chiều ba mươi vì cùng về ăn tết với gia đình, nhường nhau ly rượu lạt, nhịn nhau câu lỡ lời, chín bỏ thành mười tình nghĩa thủy chung… không chém gió như người ăn bơ sữa quen miệng bên này.
   
Không biết chiều ba mươi giữa phố đông người hay người đông làm con phố chật. Tôi đi dự tiệc gây qũy vì nể mặt người mời, nhưng mau chóng về lại garage là cứ địa bình an nhất trong đời hải ngoại. Nơi chỉ có cái lạnh làm khó những ngón chân, rồi lân lên đến vành tai tê buốt cũng không tha cho tâm trạng lạc loài, ánh đèn vàng kiên nhẫn như một nhà sư khất thực, thầm lặng soi bóng sự cô đơn đến cái bóng cũng biết già nên đứt bóng đêm ba mươi ngoài garage với bộn bề tâm trạng. Nửa đêm lạnh lẽo bước qua năm mới, giật mình dậy vì lạnh nhưng còn ngoan cố không chịu vô nhà. Ngồi nhìn mấy đòn bánh tét, mấy cái bánh chưng âm thầm lạnh một góc garage, góc tường trắng đến vô cảm làm nổi bật gói quà ai cho từ lễ Tạ ơn hay Giáng sinh gì đó đang nghiền ngẫm sự lãng quên. Trà, rượu, bánh, mứt, chocolate gì đó trong gói quà ấy là một bữa sang cả dưới vòm trời quê xưa thì xa xưa ấy đã qua lâu rồi. Bây giờ ăn gì cho qua cơn đói tâm tư đang thèm khát một chỗ ngồi trên sân hàng xóm với những người muôn năm cũ…
  
Một đêm ba mươi đi dự tiệc gây quỹ về trong trời đất gây quỹ như dịch bệnh đang hoành hành thành phố tôi ở đến tội nghiệp thần linh, không được về nhà ăn tết mà cứ phải ngồi đó chờ đến lượt tượng Chúa, tượng Phật được đấu giá như mua bán thần linh. Linh hồn tượng đá bị rút ống thở theo lời tuyên án của những đại MC ở địa phương là Ngài đã thuộc về ai? Địa chỉ mới của bức tượng chiều ba mươi tết, đêm ba mươi tết đã dời về khu váng nhện và bụi bặm trong lâu đài của những người thành đạt. Tấm lòng của những người tạo tác nên những tác phẩm nghệ thuật cũng yên nghỉ hẩm hiu từ đó. Chút an ủi đóng góp hiện vật để gây quỹ từ thiện, gây quỹ cứu bão miền trung của những người có lòng với đồng bào còn trong nước theo gió cuốn đi chiều ba mươi bâng khuâng từ độ…
  
Nhưng quan trọng hơn là những thế hệ người Việt lớn lên ở hải ngoại, không có thôi thúc bằng mọi giá phải về nhà ăn tết. Hình ảnh chen chúc ngoài bến xe đò những ngày giáp tết như sống lại trong căn garage mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Giá như giờ này được khăn gói ra ga, mua vội chút quà cho cha cho mẹ, cái cập rập làm cho hưng phấn hơn mệt mỏi ấy đã chết tự bao giờ? Chả trách con cái đã bằng tuổi mình những năm dành dụm chút tiền để về quê ăn tết, nhưng chúng đã không về nhà đêm nay dù không hề xa xôi hay trở ngại gì; chỉ đơn giản chúng không có sự thôi thúc về nhà ăn tết như những thế hệ chen lấn ngoài bến xe xưa kia.
  
Rồi đêm dài lắm mộng cũng qua. Sáng đầu năm âm lịch đã về trên búp non cây táo sau nhà. Một năm mới sáng dần theo vòng quay trái đất để giấu nhẹm những đêm ba mươi như ung bứu trong lòng đến trừ tịch năm sau lại nhói buốt tâm can…
 
Phan
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.