Hôm nay,  

Uống bia Saigon, ăn nem rán

21/07/202320:44:00(Xem: 2346)
Ký / Du lịch

BuiVanPhu_2023_0719_AnNemRan_H03_NemPho_Noumea.JPG
Phở và nem có bán trong quán ăn ở Nouméa, Nouvelle Calédonie (Ảnh Bùi Văn Phú).


Chắc bạn đọc nghĩ là tôi đang ở Hà Nội, hay Sài Gòn. Không. Chúng tôi đang du lịch châu Âu. Chuyến nghỉ hè năm nay, cùng với đôi bạn từ Quận Cam, tưởng đã không thành vì Delta Airlines huỷ chuyến bay vào giờ chót, sau khi đã có thẻ lên tầu. Lên mạng tìm vé khác và bên Turkish Airlines còn chỗ để đưa chúng tôi đến Barcelona, Tây Ban Nha là thành phố đầu tiên của chuyến du lịch.
 
Rời San Francisco buổi trưa, đến Barcelona lúc 5 giờ chiều ngày hôm sau, trễ 5 tiếng đồng hồ so với thời biểu đã lên lịch từ mấy tháng trước. Chúng tôi mừng vì đã đến nơi và đôi bạn từ miền nam California, cũng bị hãng Delta hủy chuyến bay, sẽ đến vào khuya nay, trễ nửa ngày.
 
Nhận phòng khách sạn, nghỉ ngơi một lúc rồi lên mạng tìm quán ăn Việt vì mấy bữa ăn khô khan trên máy bay quá ngán, giờ muốn tìm món nước thì phở là số một. Gú-gồ tìm, thấy hiện lên cả chục nhà hàng với tên Phở Hà Nội, Phở Saigon, Little Việt v.v…, chúng tôi chọn Capítol de Việtnam vì chỉ cách khách sạn 5 phút đi bộ.
 
Quán có bàn ngồi bên lề đường. Bên cạnh bảng tên tiệm có treo lá cờ đỏ sao vàng phất phơ trong gió. Thoáng nghĩ, nếu ở California mà chủ quán treo cờ như thế này thì dẹp tiệm sớm. Nhưng lá cờ xác minh thức ăn Việt chính gốc, tôi cho là thế, cũng như tôi đã thấy ở những nơi khác có hàng quán treo cờ Ý, Pháp hay Mexico. Nhìn vào quán thấy đông khách và trang trí có nhiều nét Việt. Chắc là quán ăn Việt thuần tuý, vì kinh nghiệm cho biết khi đến những nơi ít đồng hương mà lên mạng tìm thức ăn Việt, nhiều khi là nhà hàng phục vụ thức ăn Tầu, Thái là chính còn món Việt chỉ là phụ. Lối vào trong tiệm có bày búp-bê áo dài, bên cạnh lá cờ đỏ nho nhỏ và trên tường treo bản đồ “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” với Hoàng Sa, Trường Sa.
 
Chọn bàn ngồi bên ngoài để có gió thoảng, để ngắm nhìn khách qua lại vì là lần đầu tiên đến Tây Ban Nha và chúng tôi rất thích không gian ăn uống ở châu Âu, rất khác vùng Vịnh San Francisco chẳng mấy khi được ngồi ăn bên lề đường trước nhà hàng.
 
Một em người châu Á, chừng ngoài 20 tuổi, đến bàn phục vụ. Tôi nói tiếng Việt mà em không hiểu, nên hỏi bằng tiếng Anh: “Are you Vietnamese?” thì em gật đầu, nhưng hỏi vài câu nữa em cũng không hiểu. Chúng tôi chỉ tay vào tờ thực đơn, gọi chai bia Saigon, đĩa nem rán và hai bát phở gà.
 
Tôi đã ăn nem ở nhiều nơi trên thế giới, hôm nay ở Barcelona món này cũng có trong thực đơn nên có thể nem đã được thế giới biết đến cũng đã lâu như món phở. Nem ở đây được cuốn bằng bánh đa mỏng chứ không như bên California người Việt làm “chả giò” cuốn bằng thứ bánh mầu vàng nhạt, dày của người Philippin hay người Hoa sản xuất. Theo khẩu vị riêng, tôi thấy nem ngon hơn, nhất là nem cua bể ở Hà Nội thơm ngon, vừa giòn vừa dai. Chả giò có giòn mà không bao giờ dai.
 
Ngày còn ở quê nhà, nói đến nem tôi chỉ biết nem chua làm bằng thịt heo sống trộn với bì, thêm tiêu, tỏi, ớt và gói bằng lá chuối, là món nhậu mà tôi và các bạn cùng lớp đi chơi núi Bửu Long ở Biên Hoà và ghé chợ Thủ Đức để thưởng thức đặc sản nổi tiếng này.
 
Đầu thập niên 1980, khi dạy học ở Togo, châu Phi, một hôm vào nhà hàng Pháp tôi mới biết “nem” trong thực đơn chính là món “chả giò”. Khi mới qua Mỹ cũng tìm món này và một lần đi ăn nhà hàng tầu thấy “spring roll” trong thực đơn, tưởng là chả giò, gọi ăn thử thì không hẳn là thế vì nhân chỉ có bắp cải, cà-rốt, chút gừng, giống như chả giò chay, ăn với sốt chua ngọt chứ không dùng nước mắm. Không ngon.
 
Ngày nay trong nhà hàng Việt, “spring roll” là món bánh tráng cuốn xà-lách với bún, tôm, thịt heo hay cả hai, điểm vài lá húng bạc hà, có khi thêm bì với thính, còn “egg roll” mới thực sự là chả giò.
 
“Nem” là tiếng Bắc, nhưng xuất xứ là từ món “chả giò” ở miền Nam, khi ra đến Hà Nội nem rán Sài Gòn được biến chế cho hợp khẩu vị địa phương, theo Tô Hoài nhắc đến trong tác phẩm “Chuyện cũ Hà Nội”. Còn Vũ Bằng, Nguyễn Tuân hay Thạch Lam khi viết về món ngon Hà Nội không viết gì về nem rán.
 
Nem rán có thể đã được biết đến ở nước ngoài cùng lúc với phở, trước cả bánh mì. Năm 1984 tôi đã thưởng thức món này trong quán Pháp La Pirogue ở thủ đô Lomé của nước Togo. Không rõ từ khi nào nem bắt đầu có trong thực đơn nhà hàng Pháp? Do người Pháp từng sống ở Bắc Kỳ đem về nước, hay từ nhà hàng ở Pháp có chủ người Việt gốc bắc giới thiệu trước tiên? Có thể nem có ở Pháp từ thập niên 1950, sau khi Pháp rút lui khỏi Việt Nam. Dù nguồn gốc nem du nhập vào châu Âu ra sao thì món này đã được biết đến bên ngoài nước Việt cũng lâu rồi, đặc biệt là những nước nói tiếng Pháp mà tôi có dịp đi qua, từ Togo, Côte d’Ivoire ở châu Phi cho đến Tahiti, Nouvelle Calédonie ở Nam Thái Bình Dương.
 
Ở Côte d’Ivoire trong khu chợ Cocody của thủ đô Abidjan có ki-ốt với bảng hiệu chỉ có chữ “NEM” mà chủ nhân là một người gốc Sài Gòn. Trong một chuyến du lịch năm 1985, tại thành phố này tôi đã thấy nhiều người da đen địa phương đẩy xe hàng rong trên phố khu Plateau bán nem và tôm chiên tẩm bột, chấm nước mắm chua ngọt và được người châu Phi ưa thích.
 
Vài năm trước trở về thăm trường cũ, đi ăn trong khách sạn 2 Fevrier sang nhất của Togo, ở đây cũng có món nem, cùng gỏi gà và phở. Tôi cũng tìm thấy một nhà hàng có tên “Nem 24” ở thủ đô Lomé mà chủ nhân là một người Bến Tre qua đây theo chương trình xuất khẩu lao động rồi mở nhà hàng cũng đã 5 năm. Quán này giống như các quán ăn Việt bình dân ở California, Hà Nội hay Sài Gòn, từ món ăn, cách trang trí và nhạc mang đậm sắc thái Việt.
 
San Jose và Westminster là những nơi đông người Việt nay cũng có nhà hàng tên NEM, nhưng bán nem nướng kiểu Ninh Hoà làm bằng thịt heo giã nhuyễn rồi nướng lên, cuốn bánh tráng, rau thơm các loại, chấm với mắm. Uống bia, nhậu rất ngon. Quận Cam có quán Brodard nổi tiếng với món này.
 
Bên Ba Lan, trong khu phố cổ của thủ đô Warsaw có một nhà hàng tên NEM, mà theo chị Mạc Việt Hồng là tổng biên tập báo Đàn Chim Việt thì tiệm ăn và khách sạn là do mấy người Việt hùn nhau kinh doanh. Ngó qua tờ thực đơn lại thấy đủ các món Việt, Thái, Tầu, Mã Lai.
 
Đến Paris lần đầu tiên năm 1985, vào một nhà hàng Việt ở khu Latin, gọi tô phở và ngạc nhiên khi người phục vụ mang ra một đĩa với 2 nem rán nhỏ bằng ngón cái, cùng xà lách, húng bạc hà và chén nước mắm, tôi nói không gọi món này thì cô hầu bàn giải thích đó là món khai vị bình thường cho khách, không tính tiền thêm. Trở lại Paris sau này tôi không còn thấy cách phục vụ nem rán như thế trong quán Việt nữa.
 
Tối nay ở Tây Ban Nha, ăn nem rán cũng có xà-lách, húng bạc hà, chấm nước mắm chua cay ngọt, nhâm nhi bia Saigon thấy thật ngon. Lá cờ đỏ thỉnh thoảng phất phơ trong gió gợi lại cho tôi những kỉ niệm ở khu phố cổ Hà Nội, ngồi ăn uống bên lề đường.
 
Tô phở lai lai bắc nam, có rau mùi thái nhỏ, không húng hay ngò gai, nhưng cũng có ít cọng giá. So với phở California hay phở Hà Nội thì không ngon bằng, nhưng sau chuyến bay dài có phở ăn là ngon miệng, no bụng và thấy hết mệt.
 
Tôi muốn hỏi người bưng phở là quán mở cửa bao năm rồi, nhưng em không rành tiếng Anh nên gọi một người làm trong bếp ra tiếp chuyện. Anh người Philippin nói cậu thanh niên đó là con ông chủ, sinh ra ở đây, quán mở cửa từ năm 1992 và nếu tôi muốn biết thêm về quán thì đến vào giờ ăn trưa là có mặt ông. Nhưng chúng tôi không có cơ hội trở lại vì lịch tham quan đã kín trong mấy ngày ở đây.
 
Lên mạng tìm thông tin về người Việt ở Tây Ban Nha, joshuaproject.net ghi nhận có 600 người Việt định cư tại đây từ đầu thập niên 1980 và đã hoàn toàn hội nhập vào nếp sống mới. Theo tôi hiểu họ là những thuyền nhân được nhận cho định cư khi làn sóng vượt biển lên cao vào cuối thập niên 1970 và đáp lời kêu gọi của Cao uỷ Tị nạn Liên Hiệp quốc, sau hội nghị cứu giúp thuyền nhân vào tháng 7/1979 tại Thuỵ Sĩ, trên 50 quốc gia đã cho người Việt tị nạn được định cư, trong đó có Tây Ban Nha, tuy con số chỉ vài trăm người.
 
Theo thông tin trên báo Quốc Tế của Bộ Ngoại giao Việt Nam thì trước dịch Covid-19 có khoảng 2000 kiều bào đang học tập, đi xuất khẩu lao động hay sinh sống ở đây. Tây Ban Nha và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1977, có căng thẳng khi Madrid rút đại sứ để phản đối Hà Nội xâm lăng Cambodia. Đến đầu thiên niên kỷ mới bình thường quan hệ trở lại và năm 2009 hai nước nâng quan hệ lên đối tác chiến lược và hiện nay trao đổi thương mại là 3 tỉ đô la mỗi năm.
 
Chính trị của Tây Ban Nha cũng phức tạp. Sau thời độc tài với Thống chế Francisco Franco thì bắt đầu xây dựng nền dân chủ, nhưng có trắc trở khi vùng Catalonia, với Barcelona là trung tâm kinh tế, có mức phát triển vững mạnh và đã nhiều lần muốn tách khỏi Tây Ban Nha để thành một quốc gia độc lập. Gần đây nhất phong trào đòi độc lập đã thắng trên chính trường, nhưng toà án tối cao đã không cho phép tách rời khiến một số lãnh đạo của phong trào phải vào tù hay sống lưu vong.
 
Với người Việt, Barcelona cũng là nơi dễ sinh sống, làm ăn vì từ năm 1992 đã có nhà hàng Capítol de Việtnam và bây giờ có cả chục nhà hàng Việt.
 
Đi du lịch tôi thích thử các món ăn địa phương và cũng tìm nhà hàng Việt để xem món ăn quê nhà ngon dở ra sao. Vào quán Việt cũng là để có cơ hội biết thêm ít nhiều về nếp sinh hoạt của đồng hương ở địa phương.
 
Những tụ điểm du lịch ở Barcelona có Vương cung Thánh đường Sagrada Familia, phố đi bộ La Rambla, có những nhà thờ, toà nhà với kiến trúc theo phong cách Antoni Guadí.
 
Tôi thích bánh ngọt ăn sáng ở đây, cũng như ở Pháp hay Ý, vì có nhiều loại và thơm ngon hơn bánh Mỹ. Có phải vì đang đi du lịch, thư thả ngồi nhâm nhi cà phê, không phải nghĩ đến công việc, không phải lo cuộc sống thường nhật, thoải mái đi chơi, thưởng thức những món ăn địa phương trong một không gian mới lạ, mọi thứ như chậm lại, nên ăn uống thấy ngon hơn khi ở nhà.
 
Khách sạn của chúng tôi mang cùng tên với Thánh đường Sagrada Familia, chỉ cách nhà thờ dăm phút đi bộ nên sáng nào cũng uống cà phê bên đường, nhìn dòng du khách đổ về, trước khi chúng tôi xuống tàu điện đến những nơi tham quan. Cuối tháng 5 chưa đông, không thấy những đoàn du khách người Hoa, có lẽ vì ảnh hưởng của Covid-19 trong việc hạn chế du lịch từ Trung Quốc vẫn còn.
 
Sagrada Familia, tôi gọi là nhà thờ tổ mối vì hình dáng bên ngoài của thánh đường này, là công trình kiến trúc dở dang của Antoni Guadí từ hơn trăm năm qua, dự định năm 2026 sẽ hoàn tất để kỉ niệm 100 năm ngày mất của ông. Nguyên thuỷ đây không phải là công trình của Gaudí, nhưng sau khi ông tham gia và trở thành kiến trúc sư trưởng thì nó là một dấu ấn nghệ thuật của ông, không chỉ nơi thánh đường này mà còn ở nhiều thánh đường, các toà nhà khác ở Barcelona và nhiều nơi ở Tây Ban Nha. Sagrada Familia là một công trình xây dựng kéo dài 144 năm, thể hiện nghệ thuật khác biệt của Gaudí so với những ngôi nhà thờ xây cùng thời ở châu Âu.
 
Ngoài thánh đường, phong cách hiện đại của Gaudí đặc sắc nhất là trong lâu đài của kỹ nghệ gia Eusebi Guell, gọi là Palau Guell mà nay như một bảo tàng kiến trúc và là một di sản văn hoá được UNESCO công nhận. Guell bỏ tiền và chọn Gaudí thiết kế ngôi nhà nhiều tầng thành một trung tâm của nghệ thuật kiến trúc đương đại với nhiều phòng và mỗi phòng có một không gian, sắc thái nghệ thuật khác nhau.
 
Palau Guell nằm ngay cạnh phố đi bộ La Rambla, trung tâm du lịch của Barcelona, là con đường rộng với cây xanh dài hơn một cây số từ tượng đài Columbus đến trung tâm thành phố, nơi chúng tôi đi nghe nhạc flamenco mà không thấy tình tứ lãng mạn hay vui bằng nhạc Mễ, nhạc Mỹ Latinh.
 
Con phố lớn này đông người qua lại dù là ngày thường trong tuần. Hai bên là những hàng quán, những con đường nhỏ dẫn vào các phố mua sắm, ăn uống. Chúng tôi ngồi uống bia Estrella Damm, thưởng thức các món tapas truyền thống mà tôi thích nhất là mực, bạch tuộc, cá cơm.
 
Thức ăn Tây Ban Nha còn có món ăn chơi khác trông như lạp xưởng các loại cắt to hơn đốt ngón tay, miếng nhiều mỡ, miếng nhiều nạc và có mùi thơm, nhậu với bia cũng hấp dẫn.
 
Một bữa cơm tối chúng tôi thử paellas mầu đen, là gạo nấu với hải sản, không hấp dẫn lắm và cũng khó ăn. Ăn trưa có bánh mì kẹp thịt heo hun khói, là một thứ như dăm bông của Pháp, nướng giòn ăn ngon, nhưng hơi khô nếu so sánh với bánh mì Việt.
 
Trên phố La Rambla có quán Wok to Walk với mì, phở xào các loại. Khách có thể chọn loại mì hay bánh phở mình thích, chọn thịt, các loại rau, hạt rồi chọn nước sốt và đầu bếp sẽ bỏ vào chảo xào ngay trước mặt. Trong các loại sốt với tên Tokyo, Bangkok, Hong Kong có cả Saigon, tôi tưởng sẽ có nước mắm, nhưng chỉ là mấy gia vị tiêu, tỏi, ớt. Chúng tôi gọi phở xào theo ý mình. Nóng và ngon. Đây là chuỗi nhà hàng thức ăn châu Á ở châu Âu.
 
Hôm vừa tới Barcelona, đi ăn nhà hàng Việt thấy cờ đỏ sao vàng, hôm sau đi ngang một quán ăn Tây Ban Nha gần Thánh đường Sagrada Familia thấy những chiếc ghế vải với sao vàng nền đỏ sau lưng ghế. Mấy ngày dạo quanh phố lại thấy trên cột đèn có những lá phướn quảng cáo cũng có sao vàng trên nền đỏ làm gợi ý tò mò, thắc mắc. Sau mới hiểu đó là thương hiệu biểu tượng của bia Estrella Damm được mọi người biết đến từ năm 1867.
 
Một buổi chiều ngồi ghế bên ngoài chờ nhà tôi mua sắm trong cửa hàng Zala ở trung tâm thành phố, thấy một xe buýt chở khách du lịch chạy ngang, trên đó có anh thanh niên mặc chiếc áo mầu đỏ với hình sao vàng ngay giữa ngực đang quay phim, chụp hình. Tôi không rõ đó là áo quảng cáo cho bia hay là món quà du lịch từ Việt Nam.
 
Đã đi du lịch nhiều nước châu Âu nhưng tôi ít thấy sao vàng trên nền đỏ ở Pháp, Ý hay Hà Lan. Đến Tây Ban Nha lần đầu tiên, Barcelona thoáng gây ngạc nhiên vì có nhiều sao vàng nền đỏ, lẫn lộn giữa mầu cờ và thương hiệu bia.
 
Nếu bạn cần tìm thức ăn Việt ở đây, quán Capítol de Việtnam hay Viet Kitchen đều có cờ đỏ trong tiệm. Quán Little Việt còn có cả hình Hồ Chí Minh trên nền cờ đỏ sao vàng. Những hình ảnh đó nếu gợi lại quá khứ không vui, làm phiền lòng thì ở Barcelona còn có quán Phở Saigon.

Bùi Văn Phú


Hình ảnh (Photo by Bùi Văn Phú):

BuiVanPhu_2023_0719_AnNemRan_H04_Nem24_Lome_Togo.JPG

Nhà hàng Nem 24 ở Lomé, Togo. Tác giả và con trai cùng chủ nhà hàng, đứng giữa.


BuiVanPhu_2023_0719_AnNemRan_H05_PhoDiBo.jpg

Hàng quán trên phố đi bộ La Rambla, Barcelona.

BuiVanPhu_2023_0719_AnNemRan_H06_SagradaFamilia.jpg

Vương Cung Thánh Đường Sagrada Familia, Barcelona.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.