Hôm nay,  

Tản Mạn Tháng Năm

04/12/202015:02:00(Xem: 5125)

Thế là những ngày cuối năm laị tấp nập rộn ràng: phố phường, khu thương maị, quán xá… dập dìu người đi mua sắm. Năm nay dịch bệnh đang hoành hành nên đã làm giảm đi rất nhiều cái không khí tưng bừng của mùa lễ cuối năm. Có một điểm giống nhau chi lạ, có thể nào goị là đông tây hội ngộ chăng? những ngày tháng cuối năm bên đông hay bên tây cũng rộn ràng như nhau cả, bao nhiêu lễ lạc như dồn cả vào thời gian này. Nếu xứ mình thì nào là: cưới hỏi, chạp mộ, dẫy mả, giỗ quả, cúng ông táo, rước ông bà, tất niên, tết tư và bao nhiêu lễ hội ở các làng quê. Bên tây thì lễ tạ ơn, các ngày hội mua sắm như Black Friday, Cyber Monday, lễ giáng sinh, lễ năm mới…Người ta cũng thăm viếng nhau, tặng quà, tổ chức ăn uống, đi du lịch. Những ngày lễ như dồn hết vào thời gian cuối năm.

Tháng năm thời gian là cái khái niệm hết sức trừu tượng mà laị cụ thể như thế. Người xưa chế ra lịch, đặt ra năm tháng, ngày giờ để tiện cho công việc, đời sống, mùa màng. Nếu lịch phương đông thì căn cứ theo mặt trăng, vì nền văn minh nông nghiệp lúa nước phụ thuộc nhiều vào chu kỳ mặt trăng. Lịch phương tây laị căn cứ theo mặt trời. Ngày xưa, khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, các nền văn hoá có sự cách trở trong việc giao lưu với nhau thì sự chênh lệch của lịch pháp có thể gây ra những trở ngại nhất định. Ngày nay thì sự chênh lệch ấy không còn là vấn đề nữa.

Người Trung Hoa chế lịch, rồi cũng người Trung Hoa chế ra ngày giờ tốt - xấu, tháng năm kiết – hung… rồi người ta mắc kẹt vào đó suốt mấy ngàn năm nay. Những việc xin xăm, bói quẻ, xuất hành, giải hạn, coi ngày giờ, xem mạch đất…đủ cả. Người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề cái văn hoá, chính trị của người Tàu nên cũng không kkhác người Tàu trong việc mê tín. Đạo Phật có mặt ở Trung Quốc và Việt Nam cũng mấy ngàn năm rồi. Kinh Thắng Hạnh đức Phật có dạy rõ ràng: 

 Khi nghiệp thân khẩu ý

 Hiền thiện và thanh tịnh

 Chính là ngày cát tường

 Là giờ phút hanh thông

 Là thời khắc hưng vượng

Tiếc rằng chẳng ai chịu tin và làm theo, người ta chỉ tin theo thầy bà bói toán, coi ngày giờ. Không chỉ mê tín tin vào năm tháng ngày giờ mà còn tin một cách ngây ngô và buồn cười vào những ngôi sao kiết hung. Có những ngôi sao vô tri xa xăm trong vũ trụ kia có thể làm cho họ gặp hoạ, xui xẻo, ốm đau, tán gia baị sản và cũng có những ngôi sao tốt có thể làm cho họ gặp may, phát tài, phát lộc, vận hạn hanh thông…Rồi từ đó có cúng sao, giải hạn, đội sớ. Người Tàu và người mình đều làm như thế suốt ngàn năm nay. Việc này ban đầu có thể do các tổ dùng phương tiện để dẫn dụ mà hoằng pháp, nhưng càng ngày thì càng lạm dụng tệ haị. Bây giờ là thế kỷ hai mươi mốt, khoa học và kỹ thuật đã phát triển cao độ nhưng vẫn có những vị vì thiếu chánh kiến hay là nặng danh văn lợi dưỡng mà khuếch trương mạnh mẽ việc này. Những vị ấy đẩy mạnh việc cúng sao, giải hạn… để trục lợi, lợi dụng sự mù quáng và thiếu chánh kiến của tín đồ. Kinh Suy Niệm Về Nghiệp đức Phật đã dạy:” Chúng sanh là kẻ thừa tự nghiệp cũng là chủ nhân của nghiệp…Thanh tịnh hay uế trược đều do mình, không ai có thể khiến người khác thanh tịnh hay uế trược…Chính hành vi tạo tác khiến người thấp hèn hay cao quý. Mỗi chúng sanh là kết tinh của những gì đã tạo ra và sẽ là kết quả của những gì đang tạo…” Vậy mà người ta chẳng chịu học và làm theo, đằng này laị tin vào những ngôi sao vô tri hay ngày giờ tháng năm trừu tượng kia sẽ làm cho họ gặp phước hay họa. 

Tháng năm là dòng thời gian vô thuỷ vô chung, nó nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Nếu người theo Hindu quan niệm có ba vị thần: sáng tạo (Brahma) - duy trì (Vishnu) - hủy diệt ( Shiva) thì thời gian chính là ba vị thần ấy. Thời gian tạo dựng nên, thời gian duy trì và làm cho tăng trưởng, rồi cũng chính thời gian hủy diệt đi. Khi mình sinh ra và dần dần lớn lên, thời gian xây dựng ta thành một thanh niên cường tráng nhưng rồi cũng chính thời gian lần lượt tháng năm lấy đi nhan sắc, bào mòn thể xác cho đến một ngày nào đó thì hủy diệt hoàn toàn, lúc ấy thì cái già, cái chết hoàn tất một quá trình sinh - trụ - dị - diệt. Thời gian giúp ta tích luỹ kiến thức, chất chứa bao kỷ niệm buồn vui, nhưng rồi cũng chính thời gian bôi xóa nhạt nhoà, thậm chí xoá sạch ký ức một đời, ấy là lúc hoàn toàn lú lẫn hoặc mang bệnh Alzheimer's).

Năm, tháng, ngày, giờ vốn thiên sai vạn biệt, vì nó là sản phẩm chế ra của con người, nó là khái niệm lượng định của con người. Tự nhiên làm gì có năm, tháng, ngày, giờ. Tự nhiên vốn vô thủy vô chung, có ai biết khởi đầu ở đâu và kết thúc khi nào! Khi thành Ất Lăng vào chính ngọ thì ở thung lũng hoa vàng mới tám giờ sáng mà thôi. Khi xứ Cờ Hoa vào hạ, rực rỡ nắng vàng thì xứ sở chuột túi Kangaroo còn trong lạnh buốt của mùa đông. Khi mà ở bắc bán cầu là ngày thì nam bán cầu laị là đêm. Nếu mở rộng ra đến sao Hoả, sao Kim, Sao Thổ… thì sự khác biệt càng lớn biết là bao. Còn như nói đến tầm mức những quốc độ và cảnh giới thì sự khác biệt càng không làm sao có thể hình dung ra. Tỷ như ở cung trời Đâu Suất mới một ngày một đêm thì ở thế gian này đã là năm mươi năm. Hoặc nói như lời giảng của hoà thượng Tịnh Không thì một ngày một đêm ở địa ngục vô gián bằng hai ngàn bảy trăm năm ở thế gian. Ở đây xin lưu ý qúy độc giả, đừng mắc kẹt vào chữ nghĩa hay con số mà bàn luận hay tranh cãi cho phí sức. Sự là thế, nhưng cái lý chính là ý muốn nói: sự thống khổ của chúng sanh vô cùng dài lâu, còn sự hạnh phúc hay vui vẻ thì vô cùng ngắn tạm. 

Từ tuổi thiếu niên cho đến tuổi thanh niên, thời gian mở ra mọi cánh cửa chào đón mọi người, làm cho tăng trưởng từ thể xác đến tinh thần: học vấn, tình yêu, sự nghiệp…Từ tuổi trung niên trở đi thì thời gian dần dần khép mọi cánh cửa laị, những con đường ngắn dần. Những cánh cửa và những con đường cứ khép laị theo tháng năm, cho đến một lúc nào đó thì chỉ còn có mỗi một cửa, một đường đó là huyệt mộ. 

Thời gian vốn vô thuỷ vô chung, không nhanh không chậm, không đến không đi, không tốt không xấu, không tăng không giảm… Nhưng tâm người thì có, từ tâm người mà tạo tác ra đủ thứ thời gian, có nhanh có chậm, có tốt có xấu, có đầu có đuôi. Ví như có người ngồi trong phòng thi mà bài không thuộc, lý không thông vật lộn với đề thi chưa xong thì đã nghe chuông báo hết giờ. Hoặc như vận động viên điền kinh, thời giờ tính bằng sát – Na, những lúc như thế này thì thời gian trôi nhanh dễ sợ! cũng cùng một thời gian ấy nhưng những người ngồi tù thì thời gian nó dài thăm thẳm, đúng như cổ thi viết:” Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Cũng cùng một thời gian ấy, nếu người làm ăn hanh thông, cuộc sống đẹp đẽ, tháng ngày hoan lạc, thì những lúc này cho là ngày lành tháng tốt. Bằng như làm ăn bết bát, vợ chồng lục đục, đau bệnh, gặp hoạ… thì thời gian ấy laị là năm xui tháng hạn. Điều này cho ta thấy rõ ràng là tất cả do tâm tạo tác, tất cả không ngoài một tâm. Sự hên xui, được thua, hanh thông hay cùng cực… ấy là cái quả của nghiệp tạo tác trong quá khứ, chẳng phải do thời gian năm tháng kiết hung hay ngày giờ tốt xấu.

 Nhà Phật thường bảo: "Thời gian và không gian là không thật, nó vốn là một niệm tâm mà ra. Điều này có thể khó hiểu, khó tin với một số người, tuy nhiên có thể chứng minh bằng câu chuyện này:” Có anh học trò lên kinh ứng thí, dọc đường vào quán trọ nghỉ chân và nấu nồi cháo kê, trong lúc chờ cháo chín thì anh ta ngủ thiếp đi. Trong mơ anh ta thấy mình đậu trạng nguyên, được bổ làm quan, laị cưới con gái nhà quyền quý, cuộc đời hanh thông, thăng quan tiến chức. Một ngày kia đắc tội chi đó nên bị biếm và bị đuổi về quê, may mà còn giữ được mạng sống và không bị hoạ tru di. Cuộc đời lên voi xuống chó suốt mấy mươi năm như thế. Bất thần có người gây ra tiếng động lớn, anh học trò tỉnh giấc thì nồi cháo kê còn chưa chín”. Thế đấy, mấy mươi năm thăng trầm một đời người gói gọn trong một cơn mơ,  nếu không phải một niệm mà ra thì còn là cái gì nữa đây? Cũng có người không đồng ý, anh ta bảo:” Tôi không tin thời gian không gian là không thật, làm gì có chuyện một niệm tâm mà ra!”. Nói thế rồi anh ta nằm ngủ, trong mơ anh ta chu du khắp bốn phương thiên hạ, lặn xuống đáy đaị dương, bay ra ngoài không gian tới  mặt trăng, sao hoả… thậm chí anh ta còn mơ mình trở về quá khứ gặp tổ tiên xa xưa, rồi laị vượt thời gian phía trước để gặp những thế hệ tương lai sau này. Khi anh ta thức giấc, mở mắt ra mà lòng bàng hoàng hỏi:” Tôi đang ở đâu đây? Bây giờ là lúc nào?” Rõ ràng lưng anh ta không rời chiếc chiếu một phân, thời gian anh ta mơ không đầy một canh giờ. Ấy vậy mà anh ta vượt qua không gian vô biên, thời gian vô tận, quá khứ không điểm đầu, tương lai không điểm cuối. Chính vì thế mà nhà Phật có câu:

 Thập phương hư không bất ly đương xứ

 Cổ kim tam thế bất ly đương niệm 

Từ một niệm này có đủ mười pháp giới, một niệm hiện tại chứa cả mười phương, ba thời quá khứ, hiện taị và vị lai. Khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết:” Ngày tháng nào đã ra đi, khi ta còn ngồi laị…” ấy là vì “ từng người tình bỏ ta đi, như những giòng sông nhỏ…”. Làm sao mà có thể ngồi laị được? khi mà mỗi sát na trôi qua là quá khứ, mỗi sát na đi qua là sanh diệt luân hồi. Thời gian dựng lập nên, thời gian duy trì và rồi thời gian xoá nhoà tất cả. Dòng đời mênh mông, dòng thời gian bất tận, dòng tử sanh tất bật, dòng lịch sử nghiệt ngã, dòng người mãi tương tàn, dòng ký ức bồi lấp nhớ quên…Kiếp người ngắn ngủi, vô thường lãng đãng, có biết bao nhiêu người dự tính này nọ mà không kịp làm, bao nhiêu ước vọng và tâm nguyện nhưng không thành. Thời gian không chờ đợi được bao giờ. Thời gian hằn in trên nét mặt, đóng dấu sâu trên thân xác và tâm hồn nhưng có mấy ai nắm bắt được bao giờ. Thời gian vốn không hình tướng; không cả sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; càng không có bản lai diện mục thế mà thời gian vẫn cứ hiển hiện bên mình. Thế gian này có sự vật hay sự việc nào nằm ngoài sự khống chế của thời gian? tất cả đều quay cuồng trong cái vòng: sanh - trụ - dị- diệt hoặc thành - baị - hoại – không. 

Chúng ta thường an ủi những người đau vì tình:” Thời gian là phương thuốc kỳ diệu sẽ chữa lành mọi vết thương”. Người đàm luận thế sự thì bảo:” Thời gian như nước qua cầu”. Người bàn về nhân sinh thì nói:” Thời gian như bóng câu qua cửa sổ”. Đời thường hơn nữa thì than vãn:” Thời gian nhanh quá, mới ngày nào tóc còn xanh mà giờ bạc trắng mái đầu” hoặc” Thời gian như tên bay, mới ngày nào mà giờ đã xanh rêu”…Thời gian là thế, cái khái niệm trừu tượng nhưng vì một niệm tâm mà nó sanh ra bao nhiêu là hình thái, sắc tướng và tướng trạng cảm xúc. Phải chăng đó là sự phản ảnh cái diện mục của con người chúng ta?  

Có một điều vượt qua thời gian năm tháng, dù ngày trước, bây giờ hay ngày sau vẫn mãi mãi như thế. Đó là câu kinh văn:” Nhất thời - một thuở nọ…”, những ai đọc kinh Phật thì biết câu này:” Ta nghe như thế này một thuở nọ…” Hai mươi lăm thế kỷ trước, khi Phật nói kinh đã là “ Một thuở nọ”, rồi những lần kết tập kinh điển mấy trăm năm sau cũng là “ Một thuở nọ”. Khi Phật pháp truyền đến Trung Á, Sri Lanka… cũng vẫn “ Một thuở nọ”. Một ngàn năm sau Phật giáo ở Trung Quốc cũng vẫn là “Một thuở nọ”. Phật pháp hiện nay cũng “ Một thuở nọ” và vĩnh viễn mai sau cũng là “Một thuở nọ”. “Một thuở nọ” cho đến khi có một vị Phật mới ra đời. Thời gian năm tháng, ngaỳ giờ trở nên vô nghĩa. Giáo pháp Phật đà, kinh Phật dạy người “ Nhập Phật tri kiến”, chỉ đường đi đến giác ngộ, giải thoát… Điều này vượt qua thời gian tháng năm, vĩnh viễn là “ Một thuở nọ”, ba chữ đơn giản tưởng chừng như rất bình thường nhưng laị diệu dụng vô cùng, thời gian nào có thể đong đo được, quá khứ đã thế, hiện tại vẫn thế và tương lai cũng sẽ như thị.

Năm đã gần hết, thế là thêm một tuổi đời, tuổi tây hay tuổi mụ cũng thế mà thôi! Tuổi càng chồng chất bao nhiêu thì tỷ lệ nghịch với sự trẻ trung sung mãn bấy nhiêu. Những người đã qua tuổi trung niên thì càng thấm thía cái tác động của thời gian trên thân thể và tâm hồn mình. Thêm một tuổi đời thì thời gian phiá sau dài thêm và thời gian phía trước càng ngắn laị.

Những ngày tháng cuối năm, hải ngoại dẫu dịch bệnh vẫn đang hoành hành nhưng đời sống con người vẫn ấm no hạnh phúc. Kinh tế có suy thoái, xã hội có giãn cách nhưng cũng không hề gì, vẫn còn sung túc và sẽ sớm phục hồi thôi.

Những ngày tháng cuối năm ở cố quận chắc cũng rộn ràng như bao đời. Người người lo tích luỹ, sắm sửa cho lễ lộc tết tư. Năm nay thì tiêu điều tang hoang quá, lũ chồng lũ, bão tiếp bão, núi chuồi đất lở… Thiên tai một phần, nhân tai laị làm cho trầm trọng hơn: Rừng rú cạo sạch, núi đồi xẻ nát phá tang hoang, thủy điện, thủy lợi xả nước vô tội vạ. Những tai hoạ do con người gây ra thậm chí còn tàn khốc hơn. Những thể chế độc tài toàn trị ở thế gian này đều giống nhau ở chỗ: quyền lực và quyền lợi là tối thượng. Chúng sẵn sàng tru diệt tất cả, nếu quyền lực và quyền lợi của chúng bị động đến. Khái niệm nhân dân và quốc gia bị lợi dụng dùng để bao che cho lợi ích băng nhóm, nhân dân và quốc gia không là gì cả, sẵn sàng bán cả để giữ ngôi vị của mình.

Thời gian tồn tại của thời kỳ đồ đá, đồ đồng tính bằng vạn năm; thời gian tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến tính bằng ngàn năm; thời gian hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tính bằng vài trăm năm, hiện tại vẫn còn phát triển mạnh mẽ; riêng thời gian tồn tại của chủ nghĩa không tưởng, chủ nghĩa xã hội chỉ tính bằng vài mươi năm, hiện nay tuy còn vài quốc gia đeo đuổi nhưng đã biến tướng hoàn toàn.

Những ngày tháng cuối năm ở cố quận mình thường có nhiều lễ hỏi và đám cưới. Có lẽ là “ngày lành tháng tốt”, có lẽ là thời gian ấy mùa vụ đã xong… Nhưng những ngày tháng cuối năm cũng là lúc có nhiều đám giỗ nhất trong năm. Nếu đám cưới là sanh thì đám giỗ là tử; sanh- tử tương tục nối nhau không ngừng, dòng sanh - tử chưa hề đứt đọan, chưa hề dừng laị bao giờ. Đám cưới để cho ra thế hệ mới, đám giỗ là thế hệ cũ nhường chỗ cho thế hệ mới, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, quả là một sự kết hợp thú vị và kỳ diệu. 

Những ngày tháng cuối năm là thời gian rộn ràng nhất trong năm. Điều này không chỉ ứng với cố quận mình, xứ Cờ Hoa này mà hầu như mọi nơi trên thế gian này cũng đều như thế cả, cho dù có khác nhau về văn hoá, phong tục. Có lẽ thời gian sắp kết thúc cái cũ chuyển sang cái mới, thời điểm chuyển đổi làm cho lòng người chuyển theo hay lòng người chuyển tạo ra ảo giác chuyển của thời gian? Cái cũ, cái hư hoại sẽ qua đi để cho cái mới, cái tốt đẹp sẽ đến. Thật tình thời gian không có đến đi, không tốt không xấu, không tăng không giảm bao giờ! Có chăng là ta đến rồi đi, ta dơ ta sạch, ta xấu ta tốt… tất cả từ một niệm tâm mà ra.

TIỂU LỤC THẦN PHONG 

ẤT LĂNG thành, 12/2020

                                                                                        

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.