Hôm nay,  

Viết Về Mẹ Trong Ngày Hiền Mẫu

11/05/202009:25:00(Xem: 5866)


Từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây… hình bóng người mẹ cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác… không thể nào liệt kê hết trong bao nhiêu tác phẩm của nhân loại.

Hai nhạc sĩ lừng danh Robert Schumann cho rằng “Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người” và Antonio Rossini ca ngợi “Ngôn ngữ của âm nhạc là ngôn ngữ chung của tất cả mọi thế hệ và mọi dân tộc; ai cũng hiểu được nó, bởi nó được hiểu bằng trái tim”. Vì vậy âm nhạc dễ đi vào người mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh trong niềm vui lẫn nỗi đau.blank


Với hình bóng người mẹ trong thời chinh chiến, thế hệ chúng tôi phải
“Xếp bút nghiên theo việc đao cung” (Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn & Đoàn Thị Điểm) không được gần gũi bên mẹ, nhất là trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc với nỗi niềm như ca khúc Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân:

“Con biết bây giờ mẹ chờ tin con

Khi thấy mai đào nở vàng bên nương.

Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về,

Nay én bay đầy trước ngỏ mà tin con vẫn xa ngàn xa.

... Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm

Mái tranh nghèo không người sửa sang.

Khu vườn thiếu hoa vàng mừng xuân”.

Và, dù sống xung quanh thiên hạ có vui bao nhiêu nhưng niềm đau của mẹ khi thiếu người con, với nỗi nhớ thương lưng tròng nước mắt. Trong ca khúc Lá Thư Gởi Mẹ, nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thơ của Thái Thủy viết thay cho những người lính chiến xa nhà:

“Mẹ ơi! thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương.

Con đi say tình viễn xứ

Đâu có quên tình cố hương”.

Nghe ca khúc nầy với tiếng hát Hà Thanh khi xa mẹ, lòng quặn đau!

Hay ca khúc Thư Về Thăm Mẹ của Mạnh Phát trọn niềm nhớ mong:

“Mẹ ơi đã lâu rồi 

Con chưa về thăm mẹ và đàn em

Từng đêm biết mẹ buồn 

Nhưng đời trai nước loạn làm sao nguôi.

Bao nước sông là bao nhớ mong

Dù cho tháng năm cách mặt bận lòng

Con vẫn thương đàn em nhỏ bé 

Một bàn tay mẹ chăm sóc ngày đêm”.

Câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” với nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân rất phổ thông, ca khúc nầy thịnh hành hơn sáu thập niên qua.

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào

Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào

Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào

Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu

Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu

Tình mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ

Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ

Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.

Thương con thao thức bao đêm trường

Con đã yên giấc mẹ hiền vui sướng biết bao

Thương con khuya sớm bao tháng ngày

Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn

Dù cho mưa gió không quản thân gầy mẹ hiền

Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền

Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm

Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên”

Cùng tựa đề nhạc phẩm Lời Ru Của Mẹ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và nhạc sĩ Mặc Thế Nhân nhưng MTN với lời dựa vào dân ca:

“Con ơi con ơi, con ngủ ngủ đi con

Để mẹ đi mẹ gánh nước non cho đầy…

Con ơi con ơi, con ngủ ngủ cho say

Để mẹ đi gọi gió kéo mây cho trời…”.

Còn nhiều ca khúc viết về mẹ trong thời chinh chiến của các nhạc sĩ như: Thương Về Quê Mẹ của Trần Công Tấn, Lời Mẹ Khuyên của Thùy Linh, Mùa Xuân Của Mẹ của Trịnh Lâm Ngân, Giữa Lòng Đất Mẹ của Châu Kỳ, Mẹ Ơi của Trần Văn Lý, Huyền Thoại Mẹ của Trịnh Công Sơn, Xin Mẹ Thương Con của Giao Tiên & Đỗ Yến, Bông Hồng Cài Áo của Phạm Thế Mỹ, Xuân Về Với Mẹ của Nhật Ngân, Lối Về Đất Mẹ của Duy Khánh…

Nhạc sĩ Phạm Duy viết nhiều ca khúc về mẹ như Trường Ca Mẹ Việt Nam gồm 4 phần: Đất Mẹ - Núi Mẹ - Sông Mẹ - Biển Mẹ, Bà Mẹ Gio Linh, Mẹ Trùng Dương, Giọt Mưa Trên Lá; trong đó hình ảnh Bà Mẹ Quê:

“Mẹ quê, mẹ quê vất vất vả trăm chiềublank

Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu.

Bà bà mẹ quê, gà gáy trên đầu ngọn tre

Bà bà mẹ quê, chợ sớm đi chưa thấy về

Chờ nụ cười con và đồng quà ngon.

… Bà bà mẹ quê, dậy sớm không nề hà chi

Bà bà mẹ quê, ngày tháng không ao ước gì

Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui”.

Tiếc rằng sau nầy ông về Việt Nam nếu yên vui với tuổi già thì hình ảnh nhạc sĩ tài hoa nầy với những tình ca bất hủ trong nền âm nhạc VN được người Việt hải ngoại ngưỡng vọng. 

Về ca khúc ngoại quốc, ca khúc Maman của nhạc sĩ Claude Carrère được Thanh Lan chuyển lời Việt và trình bày trước năm 1975, được mọi người ái mộ:

“Người mẹ hiền yêu dấu, mẹ đã trao về ta

Thật bao âu yếm trong những năm vừa qua.

Mẹ hiền có biết, khi lớn khôn ra đời,

Con sẽ nhớ hoài bóng dáng người…

Người mẹ hiền yêu hỡi, những lúc mẹ cười vui

Là mặt trời trên tóc mưa bão không còn rơi.

Mẹ hiền có biết, khi lớn khôn ra đời,

Con sẽ nhớ hoài bóng dáng người”.

Ca khúc Maman của nhạc sĩ Christophe được ghi âm trước năm 1975 nhưng ít thông dụng hơn.

Còn nhiều ca khúc viết về mẹ nhưng với những dòng nhạc trên đã in sâu trong lòng tôi vì ở đó, gắn bó với cuộc sống thời binh nghiệp.

*


Trong vài bài viết của tôi có nhắc đến hình ảnh người mẹ và với những dòng chia sẻ với tính cách gia đình của đứa con út cho thế hệ thứ hai, thứ ba để nhớ hình ảnh bà cố, bà nội, bà ngoại với trái tim, tấm lòng cao đẹp… đã ảnh hưởng sâu đậm cho các người chị của tôi.

Tuy không được may mắn sống gần mẹ vì học hành và đời quân ngũ nhưng tuổi thơ của tôi với mẹ với bao kỷ niệm thương yêu không bao giờ phai. Ngay cả các món ăn của mẹ cho đến bây giờ, ba mươi năm nơi xứ người, tôi vẫn thích, và mỗi khi có món ăn đó, tôi thướng nói “món mẹ cho ăn”.

Năm 1973, trước khi chào đón đứa con đầu lòng, tôi mời mẹ ở Hội An lên Đà Lạt, vì buôn bán hằng ngày đã quen với bạn hàng nên hai tuần lễ chưa có cháu nội, cụ không muốn đi dâu cả, chỉ than “Gớm, ở cái xứ gì mà buồn quá, nhà ai nấy ở, sao mà chịu nối!”, khi có đứa cháu nội, cụ vui khôn tả và bắt phải hơ than, ăn uống theo cách hướng dẫn của mẹ. Suốt đời của mẹ khi con cái sinh đẻ hầu như mẹ ở bên cạnh. Tôi là đứa út ít, thích lang bạt, lập gia đình, mẹ mừng lắm rồi, có đứa cháu nội nữa, mẹ đã toại nguyện.

Những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 1975, tôi lang thang ở Vũng Tàu, không muốn ra đi vì chẳng biết vợ con ra sao và nghĩ đến mẹ khi bặt vô âm tín đứa con út sẽ đau khổ nhiều. Lúc đó mẹ tôi đã 75 tuổi.

Năm 1983, từ Đà Lạt về Hội An thăm mẹ và người thân trong gia đình, nghe anh chị kể lại, sau năm 1975, chỉ một tháng tóc mẹ bạc trắng, mẹ lúc nào cũng thẩn thờ vì chưa biết tin con…!

Mùa Hè năm 1990, khi gia đình tôi ở Sài Gòn đợi ngày phỏng vấn H.O 4, mẹ tôi qua đời, anh chị em bàn với nhau không báo tin cho tôi biết… Khi về Đà Lạt, đánh tin mừng cho thân nhân, rồi nhận được tin về quê. Khi về đến nơi thì than ôi! Thay vì nụ cười với nhau thì chan hòa nước mắt. Tôi làm lễ phục tang rồi khi ra đi khỏi nước, vợ và các con đều đeo băng tang trên ngực. Ở Sài Gòn, vài người khuyên không nên sẽ bị xui xẻo nhưng tôi bất chấp vì đó là đạo hiếu. Khoảng mười lăm năm trước, tôi đã viết lại nỗi đau đó.

Buổi sáng cuối tháng Tư năm 2006, ra quán cà phê Lily, tôi thấy anh Trạch Gầm ngồi một mình bên ly cà phê, tôi hỏi vì sao buồn vậy, anh cho biết mẹ anh vừa mất, tôi an ủi anh, hai đứa cũng rơi vào cảnh ngộ giống nhau khi mẹ qua đời mà không được nhìn nhau lần cuối. Tôi nói anh viết cho vài câu thơ.

“Bây giờ trong cõi hư vô ấy

Mẹ thảnh thơi rồi có phải không?

Giọt sầu mất nước giờ hóa đá

Mây nước quê hương cung lạc dòng!”

Ban ngày bận ở tòa soạn, đêm đó tôi viết một mạch đến khuya bài viết Thiên Chức Nhà Giáo, Tâm Hồn Nhà Văn: Bà Tùng Long, đúng vào ngày 1 tháng 5. Sau đó mọi người mới biết nhà giáo, nhà văn Bà Tùng Long là thân mẫu nhà thơ Trạch Gầm. Cảm nhận từ nỗi đau của bạn cũng như nỗi đau của bản thân nên viết trong sự xúc cảm. Trong bài viết nầy tôi chép lại 4 câu thơ của bạn tôi.

Trước đó và sau nầy khi nghe tin bạn bè trong hoàn cảnh mẹ mất ở quê nhà mà không về được, tôi liên tưởng đến bản thân mà lòng quặn thắt. 

“Lũ chúng tôi đầu thai nhầm thế kỷ” (Vũ Hoàng Chương) bởi trưởng thành trong cơn binh lửa, trai thời chiến, người đau khổ nhất là mẹ. Hầu như người mẹ VN chân chính nào cũng nghĩ đến con cái hơn bản thân mình. Mẹ đã mang nặng đẻ đau, lo từ giọt sữa cho con khi chào đời đến khi khôn lớn, lập gia đình… cho đến khi mẹ vào cõi vĩnh hằng. 

Hình ảnh mẹ thiêng liêng, cao quý không ai có thể nói hết. Với truyền thông dân tộc chúng ta không chỉ có một ngày tôn vinh Ngày Hiền Mẫu mà mỗi ngày suốt cuộc đời trong cõi đời ô trọc nầy.

May mắn thay với ai còn có mẹ.

Và. với những ai không còn mẹ, mượn ý thơ của bạn tôi, cầu mong “trong cõi hư vô ấy, mẹ thảnh thơi, mẹ yên nghĩ ngàn thu”. Mẹ không còn nhưng trái tim, hơi thở của mẹ trong con.

Little Saigon, Ngày Hiềm Mẫu 2020

Vương Trùng Dương

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
Bạn nghe một người nói, nhưng không lên tiếng, bạn suy nghĩ nhưng không bộc lộ. Bạn nén sự giận dữ xuống, bạn bôi xóa sự khinh bạc, bạn chờ cho những lời ca tụng giả dối lắng xuống, bạn giữ lại lời khen ngợi đối với một người xứng đáng thêm một ngày nữa, để nó được nung chín trong lòng.
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được nhữn
Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót. Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza...
Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.