Hôm nay,  

Nguyễn Du và Xuân Trong Truyện Kiều

24/01/202000:00:00(Xem: 6731)
Hinh chinhTu-Duyen-09---Cung-nhau-trot-da-nang-loi
Tranh lụa Tú Quyên

 

Trong năm 2020, thế giới sẽ chào mừng 250 năm ngày sinh của Ludwig van Beethoven (1770-1827) trong khi người Việt Nam chúng ta thì nhớ tới Nguyễn Du, đã tạ thế đúng 200 năm về truớc.

 

Tùy duyên phận của mình, mỗi người có thể nhớ Nguyễn Du một cách. Dòng họ thuộc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyển Du lại sinh tại Thăng Long, năm 1765, dù có nơi ghi theo một bản gia phả là ngày 23 Tháng 11 năm Ất Dậu, ứng vào ngày ba Tháng Giêng năm 1766. Nguyễn Du có tên tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, lấy hai biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ và Nam Hải Điếu Đồ.

 

Nguyễn Du là nhà thơ không có hạnh phúc. Cuối đời, ông bị bệnh, sai người nhà sờ tay chân, nói rằng đã lạh. Ông buông một câu “được”. Rồi nhắm mắt ra đi…

 

Được coi là một đại thi hào của dân tộc, Nguyễn Du để lại gần 250 bài thơ chữ Hán trong các bộ Thanh Hiên Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm và Bắc Hành Tạp Lục và nhiều bài thơ chữ Nôm như Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Văn Chiêu Hồn), Thác lời trai Phường Vải, Văn tế hai cô gái làng Trường Lưu.

 

Nhưng nổi bật nhất là Đoạn Trường Tân Thanh, được dân ta gọi là Truyện Kiều.

 

Văn học Việt Nam góp mặt cùng văn học thế giới với Truyện Kiều, là tác phẩm được phiên dịch nhiều nhất sang các ngoại ngữ, như Pháp, Anh, Nga, Nhật, v.v… tổng cộng hơn 30 bản dịch kể từ năm 1884 cho tới sau này. Và năm 2013, UNESCO là Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn học của Liên Hiệp Quốc tôn vinh Nguyễn Du là Danh nhân Văn hóa  của Thế giới.

 

Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) với 3.254 câu thơ lục bát được cho là tác phẩm văn chương kinh điển nhất của văn học VN, với nội dung dựa trên một tiểu thuyết Tầu có tên là Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (có bản ghi là Thanh Tâm Tài Tử). Nguyễn Du đã lấy một tiểu thuyết chữ Hán viết lại thành truyện thơ bằng chữ Nôm, và đời sau đã chuyển ra chữ quốc ngữ, in thành sách, hình như là lần đầu vào năm 1925.

 

Trong một giai đoạn khá lâu ở nhà, nhiều bài giảng văn ở cấp trung học của chúng ta đã phân tách dài dòng về "chuyện bên lề" của Truyện Kiều và Nguyễn Du, như "Triết lý Phật giáo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều”, hoặc thuyết "Tài mệnh Tương đố", rồi lẽ "Nhân quả của nhà Phật trong Truyện Kiều", v.v... Ở ngoài Bắc thì người ta ca tụng nào là tinh thần cách mạng và giải phóng phụ nữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, thậm chí còn hàm ý là thâm tâm Nguyễn Du khâm phục nhà Tây Sơn nên mới tạo ra hình tượng Từ Hải như con người cách mạng, kiểu “Cách mạng Nông dân” của Nguyễn Huệ.... Toàn là chuyện bên lề cả!

 

Việc chúng ta nên làm là ca ngợi giá trị văn chương trác tuyệt của Nguyễn Du, nếu không ca ngợi bút pháp điêu luyện và sự phong phú của thơ Kiều thì e rằng nhiều thế hệ về sau lại mất. Trong khi đó lại có bậc túc nho đả kích Truyện Kiều là dâm thư hay sách tục, là có hại cho đạo đức của xã hội, từ đó mới có câu ca dao “Đàn ông chớ kể Phan Trần, đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”.

 

Một chi tiết đáng chú ý là tinh thần cực đoan và tôn sùng sự toàn trị - totalitarian - trong tiềm thức của dân mình, được phản ảnh qua cách đánh giá Nguyễn Du. Tố Như là thi hào mấy trăm năm dân ta mới có một. Thế đã là điều cực may cho dân tộc. Ông cũng có tâm hồn đa cảm, thương người và không hám danh lợi. Đấy là nhân cách đáng quý. Vậy mà với quan niệm khắt khe là đòi nhà thơ phải là nhà tư tưởng, nhiều người muốn đưa nhà thơ lên vị trí sư phụ về phép hành xử trong xã hội.

 

Nhiều người còn muốn nâng Nguyễn Du lên bậc thánh, "có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời". Xưng tụng điều vĩ đại ấy thì tội cho nhà thơ, và làm thầy cô đời nay hết dám tìm hiểu và giảng dạy những nét đẹp sơ đẳng trong Truyện Kiều. Vì vậy mà trong nước mới có người viết nhảm lại Truyện Kiều làm sách giáo khoa thời nay. Thà là đốt sách còn hơn!

 

Thật ra, đọc nguyên truyện thì ta mới thấy Nguyễn Du tài tình viết lại nhiều đoạn tả chân của trò tình dục trong kỹ viện ra vài chi tiết khêu gợi, cùng lắm là "erotic", mà hoàn toàn không tục, kể cả đoạn Kiều tắm bên cạnh con mắt hau háu của Thúc sinh. Cũng đều là những án oan nếu ta đọc nguyên truyện và phần chuyển hóa tế nhị của Nguyễn Du. 

Tu-Duyen---27---Ai-tri-am-do-man-ma-voi-ai
Tranh lụa Tú Quyên

 

 

Thời Nguyễn Sơ, ông vua nổi tiếng nghiêm khắc là Minh Mạng, lại khen nàng Kiều là con người đủ trung trinh hiếu nghĩa, thế mà một danh nho nổi tiếng tài hoa là cụ Nguyễn Công Trứ lại có bài vịnh, trong đó lên án và mạt sát Thúy Kiều rất nặng. Sau khi Tuyện Kiều xuất hiện, nhiều tác giả đã làm thơ Vịnh Kiều và ác nghiệt nhất là một bài hát nói:

 

Đã biết má hồng thời phận bạc,

Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm lòng vàng.

Chiếc quạt thoa đành phụ nghĩa Kim lang,

Nặng vì hiếu, nhẹ vì tình thì cũng phải.

Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải,

Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.

Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu,

Mà bướm chán ong chường cho đến thế!

Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa,

Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.

Bán mình trong bấy nhiêu năm,

Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai!

Nghĩ đời mà ngán cho đời.

 

Đó là Hy Văn Nguyễn Công Trứ trong bài "Vịnh Thúy Kiều". Cụ rủa nàng là "đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm"! Chúng ta hơi ngạc nhiên về tâm địa của một tay ong bướm ra trò, người gây ra giai thoại “Giang sơn một gánh giữa đồng, thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ không” và khi đi chấm thi Nguyễn Công Trứ còn cho con hát giả trai vào trường thí để tiêu khiển!  

 

Về nét dâm trong nguyên bản và trong thơ Nguyễn Du thì ta có thể nói “chuyện không có gì mà ầm ĩ”, và dân ta thật ra rất khắc khổ! Kể cả “vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” mà Tú Bà ép Kiều phải học tập để cải tạo nàng thành kẻ bán phấn buôn hương. Xin chỉ nói qua. Vành ngoài là nghệ thuật khêu gợi có bảy phép. Vành trong là thủ thuật ái ân có tám nghề. Bảy chữ thuộc "vành ngoài" gồm có: Khốc, Tiễn, Thích, Thiêu, Giá, Tẩu, Tử.

 

- Khốc là khóc, dùng nước mắt để làm động lòng thương cảm của khách làng chơi. Phải khóc lóc như thật để chứng tỏ mình thành tâm, thiệt ý. Tú bà đã dạy Kiều dùng nước gừng sống tẩm vào khăn tay để lau nước mắt thì nước mắt sẽ không khô mà còn tuôn ra như suối.

 

- Tiễn là cắt. Rủ khách cùng mình mỗi người cùng cắt một mớ tóc, kết thành một sợi rồi chia cho nhau buộc vào hai cánh tay, làm lể "kết tóc" biểu tỏ thủy chung bền chặt, khách sẽ tưởng là mình chân thành mà không nở bỏ.

 

- Thích là đâm chích. Là sâm vào cổ tay hay trên bắp đùi mấy chữ "Thân phu mỗ nhân" (người chồng thân yêu tên là mỗ), khách thấy vậy càng thêm yêu quý, tin tưởng.

 

- Thiêu là đốt, dùng hương đốt vào sáu huyệt của chàng và nàng. Sau khi thề thốt, cả hai áp người vào nhau cùng đốt các huyệt trên bụng, trên cánh tay, cổ tay. Phải là người cao tay ấn mới sử dụng thủ pháp này

 

- Giá là cưới hỏi làm vợ chồng. Sau khi điều tra biết khách là kẻ giàu có thì thủ thỉ, rủ rê, bàn chuyện cưới nhau. Tất nhiên khách muốn cưới thì phải bỏ ra một số tiền lớn để chuộc.

 

- Tẩu là chạy. Đây là kế "đào". Nếu thấy dan díu đã lâu, khách hết tiền, muốn chuộc không có tiền mà muốn chơi cũng không còn tiền đâu chơi tiếp thì chỉ còn cách tống khách đi cho rảnh. Lúc ấy phải giả vờ rủ khách đi trốn, hẹn giờ hẹn chỗ mà không đến, đánh tiếng cho lính đi bắt kẻ bỏ trốn, thế tất khách phải sợ mà… trốn thật.

 

- Tử là chết. Là dọa chết chứ không phải chết thật. Thề thốt cho họ tin là mình yêu họ, chỉ biết họ thôi, nếu không tin thì chết ngay trước mắt cho chàng thấy. Nếu biết y có thê thiếp rồi, không thể lấy mình được thì càng làm già đến độ rủ "cả hai cùng chết hơn là chẳng lấy được nhau!" Lúc đó, có táng gia bại sản, đem hết bạc tiền ra dâng cho mình, y cũng không tiếc.

 

Tám nghề của vành trong là thủ thuật giao hợp tùy theo cơ thể hay sở thích của khách hàng. Thật ra, những ngón võ phòng the ấy mới chỉ tóm lược mà nhiều người đã không dám nói, nếu so với các bộ sách cổ như Tố Nữ Kinh hay Nhục Bồ Đoàn của Trung Hoa hay Dục Kinh Kama Sutra của Ấn Độ và nhiều cuốn dâm thư khác của Âu Châu thì vẫn chưa nghĩa lý gì cả. Đấy là ta chưa nói đến phần Xuân Họa hay Dâm Họa của Nhật mà thế giới ngày nay đánh giá rất cao về nghệ thuật thì các cụ của ta còn hiền lắm.

 

Mà người hiền nhất chính là Nguyễn Du. Không hiểu rằng trong ba năm khắng khít với nàng Hồ Xuân Hương thì nhà thơ của chúng ta xoay trở thế nào!

 

Tu-Duyen-31---Doi-duyen-cam
Tranh lụa Tú Quyên

 

Trong một số báo mừng Xuân, chúng ta cũng nên nhắc đến tài nghệ chơi chữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, với chữ Xuân.

 

Nếu hiểu mùa Xuân là một năm thì Truyện Kiều trải qua 15 mùa Xuân là 15 năm lưu lạc của nàng Kiều. Nhưng tác phẩm văn học này gồm 3.254 câu thơ có bao lần nhắc đến chữ Xuân, với ý nghĩa ra sao? Chung ta có nhiều cách đếm và nói gọn thì là có 55 hay 58 chữ Xuân. Lý do khác biệt là vì có ba câu thơ có tới hai chữ Xuân là:

Câu 424: Lòng Xuân phơi phới chén Xuân tàng tàng

Câu 1006: Hoa Xuân đương nhụy, ngày Xuân còn dài,

Câu 1294: Ngày Xuân lắm lúc đi về với Xuân.

 

Chúng ta nên chấm là có 55 chữ Xuân cho dễ nhớ vì Nguyễn Du thọ 55 tuổi nên coi như đã có 55 mùa Xuân héo hắt trong đời. Nhưng, chi tiết éo le là trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, chữ Xuân theo lối hiểu biết thông tục là mùa Xuân lại được ông dùng rất ít, tổng cộng chỉ có hai lần thôi. Đó là:

Lần lần ngày gió đêm trăng

Thưa hồng rậm lục đã chừng Xuân qua (câu 370)

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn Đông đà sang Xuân (câu 1796).

 

Về nghệ thuật chơi chữ, ta nhớ một câu có hai chữ Xuân, là Hoa Xuân đương nhụy, ngày Xuân còn dài, hai chữ Xuân này có hai ý nghĩa hoàn toàn khác biệt.

 

Đó là sau khi Thúy Kiều bị Sở Khanh lường gạt thì được Tú Bà an ủi. Hoa Xuân đây là “cửa tình” của nàng Kiều, ngày Xuân còn dài là nói về tuổi thanh Xuân của nàng. Cũng thế, ở câu Thưa hồng rậm lục đã chừng Xuân qua, thầy cô hiền lành phúc hậu thì giải chữ hồng là má hồng và lục là tóc xanh, chứ kẻ tinh quái nơi thanh lâu kỹ viện lại hiểu đấy là mô tả phần thịt da khêu gợi của thiếu nữ. Thành thử, xấu đẹp là tùy người đối diện và đúng sai là tùy ở khả năng tưởng tượng. Chúng ta thấy ra một sự thật: Nguyễn Du làm cho ngôn ngữ của dân ta thêm phong phú.

 

Nếu suy ra thì chữ Xuân có khoảng năm sáu ý nghĩa.

 

Dễ hiểu nhất, Xuân là vẻ đẹp của người con gái, như “Làn thu thủy nét Xuân sơn” và trong nghĩa này thì chỉ Nguyễn Du mới hạ xuống chữ Xuân Gầy ở câu 3026 khi tả vẻ hốc hác của Thúy Kiều lúc gặp lại cha mẹ: “Mười phần Xuân có gầy ba bốn phần”. Thứ hai, Xuân chỉ tuổi tác hay thứ bậc, nên có “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” là thiếu nữ 15 tuổi, mà cũng có “Xuân đường” hay “Xuân già còn khỏe, huyên già còn tươi” là chỉ cha mẹ. Thứ ba, Xuân là tấm lịch, chỉ thời gian mà không nhất thiết là mùa Xuân, như khi Thúy Kiều cài thoa trên cành để đánh bẫy Kim Trọng vào những buổi gặp gỡ đầu tiên, như “Ngày Xuân đã dễ tình cờ thấy nhau”. Tình đây có tình cờ đâu! Ý nghĩa thứ tư, Xuân là dịp hội hè hay một bước thi đỗ, được đăng khoa, như “Chị em sắm sửa bộ hành chơi Xuân” vào lễ Thanh Minh mở đầu câu chuyện, hoặc khi nàng Kiều còn lưu lạc thì hai chàng Vương Quan và Kim Trọng đều thi đỗ trong câu “Vương Kim cùng chiếm bảng Xuân một ngày.”

 

- Thứ năm, phổ biến nhất, Xuân là trạng thái tâm lý hay tình cảm lồng trong khung cảnh thiên nhiên, như “Lòng Xuân phơi phới chén Xuân tàng tàng” khi đôi trẻ Kim Kiều tình tự lúc ban đầu, hoặc “Ngày Xuân càng gió, càng mưa, càng nồng” khi Thúy Kiều ân ái cùng Thúc Sinh, ở câu 1284. Trong trạng thái ấy, Xuân cũng có ý nghĩa là hành vi án ân giao hợp và đấy là con dốc rất dễ trơn trượt. Như khi Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh và qua một đêm động phòng hoa chúc thì mới thấy ê chề: “Đêm Xuân một giấc mơ màng, Đuốc hoa để  đó, mặc nàng nằm trơ!” Trong nghĩa đó, ta mới hiểu ra lời khuyên giải quái ác của Tú Bà, rằng Hoa Xuân đương nhụy, ngày Xuân còn dài. Với mụ đàn bà bán thịt người này thì “Hoa Xuân” là một món hàng còn tươi mơn mởn.

 

Viết về Nguyễn Du, người ta cần cả một cuốn sách. Nhớ về Nguyễn Du trong buổi đầu năm thì điểm ra ngần ấy nét Xuân cũng là một cách tri ân.

Ý kiến bạn đọc
25/01/202009:58:39
Khách
Hình như họs sĩ Tú Duyên chứ không phải Tú Quyên
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nó đứng như tượng biết cử động suốt ngày đêm. Tôi chưa biết phải làm gì với nó, nhưng tò mò muốn theo dõi. Mang thức ăn và nước uống mới đến mỗi buổi chiều. Tuy bốn chân bị dính cứng trong keo, nhưng mỗi khi tôi đến gần, ngày hôm trước, mắt nó tỏ vẻ giận dữ, cử chỉ hành hung như con vật trong màn múa rối; ngày hôm sau mắt tỏ vẻ nghĩ ngợi, cử động phòng thủ nhiều hơn hăm dọa; ngày thứ ba mắt nhìn thấy buồn bã và cầu khẩn, thoi thóp. Nó chết ngày thứ tư. Thân hình phục xuống trên bốn chân. Đầu gục về phía trước dính vào keo. Mắt nhắm hơn một nửa, hí nhìn không còn cảm giác.
Ngưởì Việt di tản tỵ nạn khi qua đây mới học được tiếng Anh. Cho dù, cuối cùng tốt nghiệp được đại học nhưng có lẽ cũng không thể nào biết tới hết 118 chữ đồng nghĩa với Death trong tự điển Thesaurus được. Ngay người Mỹ bản xứ cũng thế, nói chi đến các chữ khác.
Cuốn sách này, như chính tựa đề, Đường về thủy phủ, đã báo hiệu điều gì đó huyễn hoặc. Vì vậy, bạn đọc nếu chờ đợi một câu chuyện tiểu thuyết thông thường có đầu đuôi, có lô-gic, có sự tình chặt chẽ hợp lý, xin gấp sách lại, hãy tìm đọc một cuốn khác. Là một tác phẩm siêu hư cấu không có chủ ý đáp ứng những quy củ tiểu thuyết thông thường, Đường Về Thủy Phủ của Trịnh Y Thư là một tập hợp của ba câu chuyện, ba toa riêng lẻ của một chuyến tàu, vận hành trên cùng một đường rầy thiên lý, theo chiều dài của một giai đoạn lịch sử chiến tranh tanh nồng, nơi hành khách là những nhân vật bị ném lên tàu, vất vưởng chuyển động trên một trục cố định, dốc toàn bộ sức lực và trí tưởng tượng gắng tìm cho mình một lối thoát, hay theo tác giả, tìm một lối về.
Con người của toán học và kỹ thuật nhưng tâm hồn lại dành cho văn chương. Chính văn chương đã nâng anh dậy thành một nhà văn xứng với cái tên Trần Quí Sách tiền định. Từ năm 1964, anh đã có truyện và thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Đời, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành và Ý Thức. Năm 2004, anh về hưu và dành tất cả thời gian cho văn học Việt Nam với Thư Ấn Quán và Thư Quán Bản Thảo. Anh đã biến căn nhà ở Plainfield, New Jersey, thành nhà in gồm toàn máy móc cũ mua rẻ trên e-Bay để “chế tạo” những cuốn sách từ A đến Z.
Có lẽ từ khi xem cuốn phim Casablanca, một cuốn phim khá xưa, tôi có ý thích đi Morocco. Phim kể về một chuyện tình trong bối cảnh đệ nhị thế chiến. Humphrey Bogart và Ingrid Bergman thủ vai chính. Lúc đó, nhiều nơi trên đất Pháp đã bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Rất nhiều người chạy trốn Hitler bằng những con đường gian truân. Đi từ Paris, đến Marseilles, đến Lisbon, thoát qua Morocco. Để từ quốc gia ở bắc Phi lo giấy tờ trốn qua Hoa Kỳ. Hình ảnh Ingrid Bergman trong vai Ilsa cúi xuống nói với người nhạc công: “Sam, play it once, play “As Time Goes By”, đã đọng lại thật lâu trong trí nhớ tôi. Vì những lý do ngẫu nhiên, mà chuyến công tác sang Morocco cứ bị dời mãi. Hoạch định từ đầu năm, mãi đến tháng Sáu mới lên lịch được. Tôi nói với thượng cấp của tôi, sẽ lấy một tuần nghỉ phép sau khi đi làm ở Morocco. Lúc đó con tôi cũng được nghỉ lễ hai tuần, rất tiện. Chúng tôi sẽ về nhà Ba Mạ tôi.
Gửi BS Trần Quí Thoại, như một nén nhang tưởng nhớ người lính, nhà văn, nhà thơ Trần Hoài Thư. Thác là thể phách, còn là tinh anh. (Nguyễn Du) Những tấm hình chụp nhà văn Trần Hoài Thư trên giường bệnh là của BS Trần Quí Thoại, con trai Trần Hoài Thư gửi cho BS Ngô Thế Vinh với ghi chú: “để Bác Vinh viết về những ngày cuối cùng của Ba con.”
Tháng 6/2024 là ngày giỗ nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (nhà báo, nhà thơ, nhà văn) nên nhân dịp nầy tôi viết về cuộc tình của bà với nhà văn Nguyễn Quang. Nữ sĩ MĐHT nổi tiếng từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là người phục hồi lại Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nên tên tuổi bà được mọi người biết đến nhưng “Đằng sau một người đàn bà thành công luôn có bóng dáng người đàn ông” ở trường hợp nầy.
Trước hết, về cơ bản, thơ ca cho phép các cá thể con người nói lên những cảm xúc, suy nghĩ và trải nghiệm sâu sắc nhất của họ. Nó có thể nắm bắt được các sắc thái cảm xúc của con người theo những cách mà các loại hình giao tiếp khác không thể làm được. Vay mượn câu nói của Milan Kundera, “có những điều chỉ tiểu thuyết mới nói được”, tôi có thể nói “có những điều chỉ thơ ca mới nói được.”
Nhà văn Trần Hoài Thư vừa ra đi lúc 6 giờ 35 sáng nay [giờ miền Đông Hoa Kỳ], ngày Thứ Hai 27.05.2024 tại bệnh viện JFK, New Jersey, đúng một tháng sau ngày Chị Ngọc Yến mất [27.04.2024]. Đây là một tin buồn và cũng là một mất mát lớn trong làng Văn học Việt Nam hải ngoại. Sau đây là bài viết của Trần Yên Hòa tưởng nhớ về Ông.
Đọc 9 Khuôn Mặt 9 Phong Khí Văn Chương một lần, nhiều lần, vẫn thấy tràn lấp trong mọi suy tưởng, phê bình, phân tích, là niềm hứng khởi hân hoan của một người viết, vừa là nhà thơ, vừa phê bình văn học, và trên hết là một người đọc tha thiết, mê say, bằng tất cả trái tim và khối óc...