Hôm nay,  

Hoa Khai Năm Cánh

05/11/201900:00:00(Xem: 3457)

Tiếng thầy tri chúng oang oang:

 - Chú Trí Giải đâu rồi? có mấy mân dưa chua mà vẫn chưa xong à? cỏ cũng chưa cắt? nhà khách chưa lau chùi? Chú làm gì mà cả ngày không xong vậy?

 Trí Giải dù nhỏ nhẹ nhưng trong chất giọng không giấu được sự bất mãn:

 - Thưa huynh, ba bốn việc một lúc làm sao kịp? có ba đầu sáu tay cũng không xong chứ nói gì hai tay!

 Thầy tri chúng vẫn không hạ giọng

 - Chú lười quá, có gì khó đâu, tại chú không chịu cố gắng nhanh lên thôi. Ngày trước bằng tuổi chú, tôi còn làm nhiều việc gấp bội kia!

 Trí Giải im lặng và tiếp tục làm mà không nói gì thêm. Từ ngày nhập chúng đến nay đã hơn mười năm nhưng chỉ toàn làm đồ chay để bán, gây qũy để góp tiền xây dựng, đi cúng đám… năm thì mười họa mới có một dịp tu học với các bậc thầy danh tiếng từ xa ghé thăm chùa. Còn an cư thì cả năm chừng nửa tháng hoặc hai tháng là phải về laị chùa cũ để lo công việc. Sư phụ, sư huynh luôn luôn bận Phật sự phải đi nơi này nơi kia, khi thì dự lễ lạc thành, an vị; khi thì thuyết pháp hoặc họp hành trên tỉnh; có khi về trên bộ bàn thảo công việc cả mấy tuần liền. Hơn mười năm rồi mà chẳng học thêm được tí gì, ngoài mấy bài kinh, chú đã thuộc lòng và những nghi lễ căn bản. Nhiều lúc chú nghĩ:Như thế naỳ làm sao mà phát triển trí huệ nói chi đến khai ngộ! Nếu cứ lo quyên giáo, kinh tế để xây chùa thế này thì ở ngoài đời chứ cần gì phải xuất gia, những tưởng xuất gia để giải thoát nào ngờ laị gia vào một cái buộc ràng khác. Chú càng miên man suy nghĩ thì càng thấy mình như chìm vào một cõi xa lạ naò đấy, tâm tư tự độc thoại một mình. Chú laị nhớ một điển tích của thiền lâm: có vị tiểu tăng quanh năm cơm bưng nước rót hầu sư phụ mà chẳng thấy thầy dạy bảo điều gì, một hôm chú xin từ biệt ra đi thì sư phụ hỏi:” Tại sao ngươi muốn ra đi?” chú thưa:” Đã hầu sư phụ bao nhiêu năm nay nhưng chẳng thấy sư phụ dạy điều chi cả!”. Sư phụ của chú mới bảo:” Ta đã dạy ngươi bao nhiêu năm nay, có lúc nào ta không dạy ngươi đâu?”  vị tiểu tăng chợt ngộ điều gì đấy bèn sụp lạy sư phụ. Trí Giải đem chuyện ra so sánh với phận mình rồi lẩm bẩm một mình:” Có lẽ nào như thế chăng? phải chăng thiền từ những việc nhỏ nhiệm này?”. Chú laị miên man nghĩ và khẳng định:” Tuy có giống nhau nhưng vẫn khác, trường hợp mình nếu có cố gắng nữa thì cũng chỉ được chữ nhẫn chứ trí huệ thì cùn nhụt; nhẫn và từ bi tuy có nhưng không có trí huệ thì làm sao khai ngộ? làm sao giải thoát? Chú vẫn nghe các thiền sư vân du khắp nơi cầu đạo, tuy chú không có ý nghĩ mình sẽ là thiền sư nhưng đi cầu đạo các nơi hoặc giả tìm một đạo tràng phù hợp căn cơ mình có lẽ sẽ hay hơn. Nếu cứ nhẫn nhục nơi đây suốt đời thì cũng chỉ là ông thầy cúng đám hoặc giữ chùa mà thôi. Sau nhiều đêm trằn trọc, chú lấy can đảm lên thưa với sư phụ:

 - Bạch sư phụ, cho phép con được rời khỏi chùa này!

 Sư phụ chưa nói gì thì thầy tri chúng đã mắng;

 - Chú muốn đi chứ gì? ở đây khổ quá chứ gì? Đi tu mà còn muốn hưởng sướng! muốn thì cứ đi nhưng mai kia không vừa ý đừng quay về đây nhé!

 Sư phụ gật đầu, thế là chú khăn gói ra đi, trải qua hai năm trời khi thì chùa sơn thôn, khi thì viện nơi thị tứ… Có nơi trú laị vài tuần, có nơi hai tháng nhưng vẫn chưa gặp được cơ duyên như ý. Nơi nào chú đến cũng thấy không khác gì mấy với bổn tự mà chú xuất gia, có lúc chú nghĩ: “Có lẽ thời kỳ chùa tháp kiên cố nên nơi nào cũng lấy việc xây chùa to Phật lớn làm Phật sự?’ Một hôm chú nghe một vị huynh trưởng bảo chú:

 - Trên đồi Cổ Châu ở trấn Long Bàng có một ngôi già lam trông thì vắng vẻ nhưng ở đấy vị thầy trụ trì có phát nguyện:” Độ tất cả những ai xuất gia mà không có nơi tu học.”

 Nghe thế, chú liền hỏi tên chùa và đường đi. Hôm sau chú đi tìm chùa, cứ mỗi chặng chú laị hỏi thăm người địa phương về ngôi chùa trên đồi Cổ Châu. Dân cư có người không biết, có người biết mơ hồ nhưng chú cứ dấn bước tiến tới. Sau khi hết đường lộ thì chú lội bộ chừng mươi cây số đường đất nữa thì thấy xa xa một ngọn đồi. Lên đến đỉnh đồi thì thấy một ngôi cổ tự tuy nhỏ, đơn sơ nhưng có gì đó làm cho chú thấy hứng khởi mà chú cũng không biết tại sao, quanh chùa nhiều cây cao bóng cả rợp mát cả một vùng nắng gió. Chú nhìn thấy trên tấm biển đề ba chữ Bản Viên Tự , khẽ mở cánh cổng bước vào thì gặp một vị tăng đang gánh nước tưới rau. Chú đến thi lễ:

 - Bạch hoà thượng, con là Trí Giải từ xa đến đây, xin hòa thượng cho con tá túc một thời gian.

 Vị tăng ấy hỏi:

 - Ngươi từ đâu đến?

 Trí Giải thưa:

 - Bạch hoà thượng, con từ Vân Mộng Viện.

 Ông tăng laị nói:

 - Không, ta không hỏi địa danh! Ta chỉ hỏi ngươi từ đâu đến!

 Bất chợt Trí Giải cảm thấy như có một luồng điện chạy xuyên suốt cơ thể, lập tức nói như một cái máy:

 - Bạch thầy, con từ mê đến!

 - Vậy ngươi đến đây để làm gì?

 - Dạ, con xin học pháp giải thoát.

 - Ai buộc ngươi mà cần phải giải thoát?

 - Dạ, không có ai cả, tự mình buộc lấy mình.

 - Ngươi đã xuất gia ắt cũng biết tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhiêu đó chưa đủ sao mà còn cầu pháp?

 - Dạ, không cầu thêm mà cầu bớt.

 - Ở đây chõng tre, áo thô, cơm hẩm…kham nổi không?

 - Dạ, nếu sợ những thứ ấy thì con không dám lên đây quấy rầy hoà thượng!

  Hoà thượng mỉn cười:

 - Ngươi là Trí Giải, ở đây trọn chẳng có gì để giải trí cho ngươi!

 - Dạ, hoà thượng từ bi. Con không cầu giải trí mà cầu giải, cầu trí!

 Hoà thượng không hỏi gì thêm mà chỉ bảo vào trong cất hành trang đi. Trí Giải đi vài bước thì quay laị;

 - Bạch hoà thượng, cho con biết pháp danh của người!

 Hoà thượng cười to:

 - Sư phụ của ta ban cho pháp danh Thanh Đồng Xứng nhưng pháp lữ và người đời vẫn quen gọi ta là lão Dã Sơn tăng.

 Trí Giải sụp lạy:

 - Con xin bái tạ sư phụ lão Dã Sơn tăng.

 Lão hoà thượng cầm nguyên thùng nước tưới lên người Trí Giải rồi ngửa cổ cười vang vọng cả ngọn đồi, đoạn đọc bài thơ ứng tác:

 Nay ta tưới giọt nước này

 Ngày mai lớn cội cao cây bồ đề

 Sa Bà là lối đi về

 Chơn tâm vẫn vậy chưa hề hư hao.

 Tối hôm đó sau buổi công phu khuya hai thầy trò đi bách bộ quanh đồi ngắm trăng. Hòa thượng bảo:

 - Ta có cả kho pháp bảo, ngươi kham nổi không?

 - Trí Giải thưa:

 - Con mọt tuy bé xíu nhưng tháng ngày có thể đục ruỗng cả ngôi nhà lớn.

 Lão tăng laị bảo:

 - Ngoài pháp bảo ra ta chẳng còn có gì để cho ngươi cả!

 - Hoà thượng từ bi, nhiêu đó cả kiếp này cũng dùng không hết- Trí giải đáp

 - Ngươi hãy nói xem, ta với ngươi chỉ có thân tứ đaị ngũ uẩn còn chư Phật thì có tam thân-tứ trí-ngũ nhãn-lục thông… thế sao bảo là đồng, là bất nhị?

 - Bạch sư phụ, đồng ở tánh giác.

 - Tại sao chư Phật giác mà chúng ta chưa giác?

 - Bạch sư phụ, tại chư Phật sáu căn thanh tịnh, không nhiễm sáu trần.

 - Thật sự taị ý căn, ý căn tạo tác, sanh khởi mới lộ qua năm căn kia và từ đó chúng ta mới nhìn, nghe, nói, làm, ngưởi, nếm, sờ…Ý căn thanh tịnh thì mình làm đúng, ý căn nhiễm thì mình mê! vậy làm sao để giác đây?

 - Vì cầu giác mà sư phụ trụ ở đây và cũng vì cầu giác mà con tìm đến đây.

 - Ngươi khá lắm, Hãy nhớ rằng: người cầu đạo cần có từ bi, trí huệ và vô úy. Ba điều này như cái kiềng ba chân, thiếu một thì hỏng!

 Đến đây thì hai thầy trò ngồi xếp bằng dưới gốc thông, chỉ phút chốc là nhập vào định. Chung quanh lặng im đến độ nhịp đập của tim như làn sóng tỏa vào không gian làm lung lay cả ánh trăng. Ánh trăng bàng bạc xuyên qua tàng lá rơi lấp loáng trên tà áo lam trông như dát bạc lên hai pho tượng. Cả đất trời tĩnh lặng tịch mịch đến vô cùng!

 Ngày kia ba vị huynh đệ Thanh Đồng Nguyện và Thanh Đồng Hành và Thanh Đồng Đắc vừa mãn khoá an cư trở về. Sư phụ giới thiệu Trí Giải với ba người và bảo:

 - Năm xưa Thế Tôn chuyển pháp luân và độ năm anh em Kiều Trần Như.  Từ đấy Phật môn mới có tích:” Nhất hoa khai bách diệp”. Hôm nay thầy và các con cũng năm người, đều bái Thế Tôn làm thầy. Thầy không dám ví chúng ta với năm anh em của tôn giả Kiều Trần Như nhưng ở Bản Viên Tự hôm nay cũng có năm cánh hoa nở ra. Trí Giải, thầy ban cho con pháp danh là Thanh Đồng Giải, hãy chào các huynh của con đi!

Bốn vị huynh đệ thi lễ xong đồng thanh quay sang lạy tạ sư phụ:

 - Tạ ơn thầy, hoa nở năm cánh cúng dường Thế Tôn, phụng sự chúng sanh!

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 29/05/19

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.