Hôm nay,  

Cúng Sao

23/08/201900:00:00(Xem: 5836)

Lớp lớp người đội sớ ngồi chật sân tràn ra cả ngoài đường, xe cộ chạy không được bóp coì inh ỏi, tiếng quát tháo, la hét chát chúa:

 - Tiên sư nó! Cúng sao mẹ gì mà cản trở giao thông thế này!

 Tiếng loa xướng danh oang oang, khói nhang mù mịt… một cảnh tượng đầy âm thanh sắc tướng vô cùng quái lạ. Một đoàn khách du lịch phương Tây trố mắt nhìn và hỏi anh thông dịch chuyện gì vậy. Anh ta giải thích:

 - Hằng năm sau tết âm lịch, người ta tổ chức dâng sớ cúng sao để giải hạn. Họ tin các ngôi sao xấu như: La Hầu, Kế Đô…sẽ chiếu mạng họ, làm cho họ đau yếu, xui xẻo… nếu không chịu cúng để hoá giải cái hạn của năm tuổi.”

 Cả đoàn phì cười, một vị trung niên nói:

- Các ngôi sao trong vũ trụ xa xăm kia làm sao mà có thể làm cho họ may mắn hay xui xẻo được cơ chứ? 

 Anh thông dịch bảo:

 - Nhưng dân ở đây họ tin vậy!

  Trong đoàn có vị giáo sư về hưu, ông ta cãi:

 - Tôi có đọc qua sách vở về đạo Phật, giáo lý của ngài chỉ dạy rất rõ ràng. Cuộc đời bạn nó lệ thuộc ở hành vi tác ý, ngôn ngũ, hành động của chính bạn! không có ai hay bất cứ vật gì có thể làm cho bạn thăng  hay đọa cả. Những ngôi sao vốn là vật chất vô tri xa tít tắp kia làm sao có thể gây họa cho bạn được? Một Phật tử chân chính không thể tin xằng bậy như vậy được! Tôi còn nhớ đức Phật từng tuyên bố: “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”.

 Anh thông dịch không ngờ ông khách thông hiểu đến vậy. Anh ta cũng không biết ăn nói thế nào nên phân vân lắm. Ông giáo sư laị tiếp tục:

 - Trăng sao là những hành tinh không có sự sống, năm xưa người Mỹ đã đổ bộ lên nguyệt cầu. Neil Amstrong đã đi bộ trên ấy, khiến cả thế giới khâm phục: “Những bước đi nhỏ nhưng là bước tiến vĩ đaị của loài người.”. Năm nay người ta cho xe tự hành đổ bộ sao hoả, chụp hình và lấy mẫu vật về xét nghiệm…Người ta còn dự tính tổ chứa tua du lịch không gian nữa kia, hà cớ gì các bạn còn quì gối đội sớ cầu cúng những ngôi sao kia?

 Anh thông dịch viên giơ hai tay lên trời tỏ vẻ chịu thôi, không biết nói gì thêm. Đoàn khách còn có một người gốc Việt , anh ta rành cả mấy thứ tiếng nhưng nãy giờ im lặng lắng nghe, chừng như có vẻ sốt ruột nên mới lên tiếng:

 - Thưa ông, chuyện cúng sao chỉ có ở các chùa thuộc Phật giáo  Bắc Truyền mà thôi, các chùa Nam Tông tuyệt đối không có việc này!

 Vị giáo sư kia hỏi taị sao thì vị khách gốc Việt giải thích:

 - Việc dài dòng lắm, tôi vắn tắt vài lời thôi nhé! Khi Phật giáo truyền đến Tàu thì giới tu sĩ bên ấy vốn nặng tính tự tôn và nặng tính dân tộc chủ nghĩa nên đã thêm thắt những thứ vốn của bản địa từ đaọ giáo, đạo lão, tín ngưỡng dân gian như: cúng sao, đốt đèn thất tinh, treo phan tục mạng…Rồi khi người Tàu đô hộ nước tôi họ du nhập Phật giáo mang màu sắc Trung Hoa vào, một phần khác chính từ các tăng sĩ của chúng tôi rập khuôn theo lối của Tàu. Đời này sang đời khác lâu dần thì càng ngày càng tệ và chưa bao giờ mà tệ cúng sao và những tệ trạng khác biến tướng kinh khủng như hôm nay.

 Vị giáo sư kia laị hỏi:

 - Các vị chức sắc trong giáo hội không biết sao?

 Anh ta nói:

 - Cũng có nhiều người thao thức đau lòng đã lên tiếng nhưng tiếng nói của họ không được lắng nghe. Họ cũng không có vị thế để làm việc. Những người có vị thế thì laị im lặng hoặc làm ngơ, vì sợ mất Phật tử, mất sự cúng dường cung phụng vật chất. Có nhiều người được sự nâng đỡ của thế tục họ  đứng ra tổ chức và khuếch trương cho rầm rộ hơn, đặt ra giá cả hẳn hoi. Ai không đóng đủ tiền thì không được xướng tên. Ngài đọc sách Phật nhiều chắc ngài còn nhớ câu này chứ: “Sư tử trùng phàm thực sư tử nhục”. Họ chính là những con vi trùng trong thân thể sư tử đó! 

 Dường như những chất chứa trong lòng đã lâu, hôm nay có dịp thổ lộ nên anh ta nói một hơi. Moị người còn im lặng thì anh ta laị tiếp tục:

 - Ông biết không? Các vị danh văn lợi dưỡng mang hình tướng tăng ấy còn kết hợp với phỉ quan gian thương phá cả ngàn mẫu rừng, bạt cả núi non xây dựng những ngôi chùa to lớn như Tử Cấm Thành để… bán vé tham quan, đặt thùng phước sương trục lợi, chiếm đất đầu tư. Những ngôi chùa cổ kính thì phá bỏ để xây mới, sơn đỏ loè loẹt, trang trí tượng bồ Tát Tàu, sư tử Tàu, pháp khí Đài Loan… Quanh năm cúng đám, cầu an, cúng sao, tế lễ, du lịch tâm linh… Trọn chẳng thấy nói pháp, giảng kinh hay tu học chi cả! thân sư tử bị cả bầy vi trùng đục khoét mà chưa có thuốc đặc trị.

 Anh ta dứt lời thì vị giáo sư già bảo:

 - Thật ra tôi cũng hiểu vấn đề, tôi thấy Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Nguyên Thuỷ tuy có tính bảo thủ nhưng cũng chính nhờ vậy mà giáo pháp còn tương đối nguyên chất. Họ tu học giống như thời đức Phật còn tại thế, cứ tuân thủ theo kim chỉ nam: “Tứ Diệu Đế”, “Tứ niệm xứ”, “Bát chánh đạo”… mà đi. Họ không đi sai lệch, giữ giới nghiêm ngặt, không dễ duôi rồi ngụy biện bằng chữ “phương tiện”…Anh biết không? Tôi còn nhớ có lần đức Dalai Lama trả lời các học giả rằng: “Phật giáo Ấn Độ bị suy tàn có nhiều nguyên nhân: thế gian vạn pháp vốn vô thường, sanh- trụ- dị- diệt, thành- baị- hoại- không… thì Phật giáo cũng không ngoaị lệ. Ngoài nguyên nhân chính là sự tàn sát và phá huỷ của các đạo quân Hồi giáo còn có nguyên nhân nội taị như: các tăng sĩ dễ duôi, phá bỏ giới luật, tích trữ đất đai tài sản quá nhiều…việc đó góp phần đẩy nhanh sự suy tàn vậy!

 Vị khách gốc Việt trả lời:

 - Tôi cũng có nghe qua, tôi còn có thêm thông tin này về Phật giáo nuớc tôi và nó cũng có chút tương đồng với vấn đề ngài vừa nêu: Dưới vương triều Trần, phật giáo nước tôi phát triển đến mức cực thịnh, tăng chúng đông đảo, chùa chiền khắp nơi, tích trữ nhiều của cải. Đặc biệt như chùa Quỳnh Lâm có đến một ngàn mẫu ruộng…Phật giáo gắn kết chặt chẽ với triều đình và giới quý tộc. Khi vương triều suy tàn thì Phật giáo cũng suy tàn theo, hậu quả kéo dài đến mấy trăm năm về sau.

 Cuộc đối thoaị bị cắt ngang, mọi người giãn ra cho ba đoàn lân tiến vào sân chùa cùng với tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng phèn la…đinh tai nhức óc. Cả đoàn chịu không nổi tiếng ồn bèn kéo đi. Họ nghiêng thân, khép mình để tránh xe dựng trên lề, bàn ghế và đồ đạc của các hàng quán… Đi một quãng xa rồi mà tiếng loa xướng danh, tiếng trống lân cùng bao âm thanh khác vẫn còn nghe rõ mồm một. Trước mắt họ dòng xe cộ hối hả chen lấn lao vun vút, sau lưng lớp lớp người đội sớ qùy ngồi lô nhô tràn ra cả mặt đường.

 

Tiểu Lục Thần Phong

 

Ất Lăng thành, 2/2019

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.