

Các sinh viên tiếng Việt và Giáo Sư Trần C. Trí.
Trần C. Trí
University of California, Irvine
Chương trình tiếng Việt tại Đại Học UCI bắt đầu vào năm 2000. Tôi về lại ngôi trường mà sáu năm về trước tôi là sinh viên, lần này để bắt tay vào gầy dựng một học trình mới mẻ trong khoa Ngôn Ngữ và Văn Chương Đông Á. Biết bao nhiêu chuyện để làm lúc ban đầu: Soạn giáo trình, chọn sách giáo khoa, soạn các bài thi xếp lớp, phỏng vấn sinh viên ghi danh vào các lớp học, phỏng vấn một số ứng viên vào dạy trong chương trình, v.v. Đến một hai năm sau, khi mọi việc đã tạm ổn định, tôi bắt đầu có thì giờ để nghĩ đến một số sinh hoạt mới cho chương trình tiếng Việt. Một trong các sinh hoạt đó là cho các em sinh viên sắp hoàn tất khoá học thứ ba trong mỗi trình độ (năm thứ nhất và năm thứ hai) làm các phim ngắn như một phần của kỳ thi cuối khoá.
Trong các phim dài khoảng mười phút này, các em sinh viên được yêu cầu tự dựng truyện phim, quay phim và thực hiện đối thoại bằng tiếng Việt cũng như dùng một số bài hát tiếng Việt để làm nhạc nền. Cứ đều đặn như thế, sinh hoạt làm phim tiếng Việt của các em đã diễn ra hơn 15 năm nay. Thực hiện một công trình như vậy trong thời gian các em phải lo học thi cuối khoá, không những cho lớp tiếng Việt mà còn cho những lớp khác, không phải là một chuyện dễ dàng. Để đền đáp công lao khó nhọc của các em, phần tôi là người giảng dạy cũng phải chuẩn bị nhiều thứ như mua bánh kẹo làm quà, làm những tấm bằng tưởng lục, và nhất là đặt mua những bức tượng mô phỏng theo giải thưởng điện ảnh Oscar để trao cho những em đoạt giải nam nữ diễn viên xuất sắc và phim hay nhất. Trong lúc chiếu phim, các em dùng những phiếu bầu đã được soạn sẵn để bỏ phiếu cho những bạn cùng lớp và chọn ra những “ngôi sao” hay phim xứng đáng nhất.
Như mọi năm, khoá học mùa Xuân 2018 lần này cũng rộn ràng kết thúc bằng những cuốn phim mà các em đã khổ công thực hiện. Khoá học này có phần đặc biệt hơn những khoá trước là sĩ số trong hai lớp Việt 1C và Việt 2C không nhiều như những lớp trong các năm trước (chỉ có 14 em trong lớp 1C và 13 em trong lớp 2C, so với sĩ số bình thường là từ 20 đến 25 em). Vì vậy việc chuẩn bị làm phim và tổ chức trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn một chút. Năm nay, mỗi lớp chỉ có bốn nhóm, “trình làng” bốn phim để mọi người thưởng thức.
Trong phần hướng dẫn các em chọn đề tài làm phim, tôi để cho các em tự do chọn lựa, miễn là nội dung xoay quanh cuộc sống của các em trong gia đình, ở trường học, hay nói về những mối quan hệ bạn bè, xã hội. Năm nào cũng vậy, bao giờ tôi cũng khám phá ra nhiều tài năng mới, những ý tưởng ngộ nghĩnh mà cũng rất sâu lắng trong nhiều cuốn phim. Qua đó, tôi hiểu học trò của mình hơn một chút. Trong suốt khoá học, thầy trò ít khi có dịp tìm hiểu nhau vì ai cũng bận bịu kẻ dạy người học. Những cuốn phim của các em giống như những lời tâm sự chân thành của mình, nói lên nhiều suy nghĩ của các em về gia đình, học đường hay xã hội.
Bốn cuốn phim của lớp Việt 1C bao gồm các “tác phẩm” “Tình yêu quốc tế”, “Tôi là ai?”, “Một ngày trong đời sinh viên Việt Nam” và “Phụ nữ độc thân cần thẻ xanh”. Qua các cuốn phim này, các em đã cho thấy nhiều khía cạnh thú vị khác nhau. Từ những tình yêu sinh viên trong trắng, ngây thơ, những sinh hoạt hằng ngày của các em trong việc học tập, những băn khoăn của các em về gốc gác và căn cước của mình khi sống trong một xã hội đa ngôn ngữ, đa văn hoá, đến những tưởng tượng dí dỏm về những cô gái Việt Nam muốn qua Mỹ qua việc tìm những chàng trai độc thân sẵn sàng lựa chọn. Các em dùng những câu đối thoại mộc mạc, có khi còn chưa rõ phát âm vì đây là các lớp năm đầu tiên, nhưng hết sức dí dỏm và lắm lúc chứa đựng những chiều sâu bất ngờ. Kỹ thuật làm phim của các em cũng tài tình không kém. Các em dùng những xảo thuật điện ảnh không khác gì trong những cuốn phim thật như flash back, fade-out, caption, nhạc nền, v.v. Phải tận mắt xem các cuốn phim mới thấy các em giỏi về kỹ thuật hiện đại như thế nào.
Bốn cuốn phim của lớp Việt 2C gồm có “Phận con xa xứ”, “Arthu(r)”, “”Gia đình bình an” và “Chuyện tình Việt Nam”. Đây là lớp năm thứ hai trong chương trình tiếng Việt nên đa số các em đối thoại sành sỏi hơn và cốt truyện cũng phức tạp hơn trong các cuốn phim của lớp năm thứ nhất. Qua những cuốn phim này, các em đưa ra những trăn trở của các người con gốc Việt vừa phải tuân theo nề nếp gia đình truyền thống, vừa phải cố gắng hoà nhập vào xã hội Hoa Kỳ, phải vật lộn với việc học tập và làm việc cùng lúc, hay phải rèn luyện thêm về ngôn ngữ và văn hoá Việt để không cảm thấy mình rời xa cội nguồn. Đối thoại bằng tiếng Việt của các em năm thứ hai sâu sắc hơn, hóm hỉnh hơn so với các em năm thứ nhất. Việc chọn bài hát làm nhạc nền của các em cũng ra vẻ chững chạc hơn. Còn phần kỹ thuật làm phim của các em thì chẳng thua kém gì các bậc đàn em của mình.
Mười mấy năm qua rồi, tôi có trong tay cả trăm cuốn phim của các em. Biết bao nhiêu kỷ niệm các em đã để lại cho tôi trước khi rời trường lớp, bước vào cuộc sống của người lớn. Mỗi lần chuẩn bị cho một lớp làm phim, tôi lại đem một số phim cũ của các năm trước ra chiếu cho các em xem để tạo cảm hứng cho các em. Nhìn lại những khuôn mặt học trò trong những cuốn phim cũ, lúc nào tôi cũng thấy bồi hồi. Cách đây không lâu, vào một buổi tối, khi tôi vừa rời một tiệm ăn thì gặp một em học trò cũ lái xe ghé sát lại tôi, mừng rỡ chào hỏi. Đây là một trong những em học trò mà tôi không thể nào quên, vì em đã đóng một vai trong cuốn phim ngày trước mà tôi rất thích đem ra chiếu lại cho các em “hậu sinh” của em. Trong cuốn phim “classic” đó, em đóng vai một cô gái đỏng đảnh, hay ăn hiếp bạn trai của mình. Đến khi bạn trai của mình bị tai nạn, cô gái mới khóc thương cho anh ta thì đã muộn rồi. Cô học trò của tôi ngày xưa giờ đã có chồng con, vui vẻ giới thiệu tôi là thầy cũ với anh chồng ngồi bên cạnh mình trong xe.
Còn nhiều em nữa, nhiều cuốn phim nữa, kể sao cho xiết. Chắc nhiều em học trò cũng như tôi, một lúc tình cờ nào đó xem lại cuốn phim tiếng Việt của mình ở UCI ngày xưa, lục trong ngăn kéo thấy tấm bằng khen cũ, hay thoáng nhìn bức tượng Oscar đóng bụi trên kệ, chắc cũng thoáng chút bồi hồi, xúc động về những buổi chiếu phim cuối năm ngày trước. Có người ví nghề thầy giáo như anh lái đò đưa người sang sông. Khách sang sông và anh lái đò có thể không còn nhớ nhau mãi, nhưng những cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng chắc cũng còn lẩn quất đâu đó trong một góc sâu thẳm trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
Trần C. Trí
Send comment


