Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trăng, Sao và Sương

16/06/201715:49:00(Xem: 4393)
Trăng, Sao và Sương
 
-Cao Minh Hưng-

 

Lần đầu tiên tôi có dịp biết thêm nhiều về Thi sĩ, Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh khi tôi có dịp phỏng vấn cô và phu quân của cô là Nhà văn Nguyễn Quang trong chương trình Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ Talk Show.  Trước đây, tôi cũng có dịp gặp cô trong một vài buổi họp của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.  Người phụ nữ với vóc dáng nhỏ bé và yếu ớt vịn tay chồng đến tham dự những buổi họp.  Thường thì cô ít khi nào phát biểu, lặng lẽ đến, nghe và ra về. 

 

Tôi có thói quen dành ra vài giờ trước ngày thâu hình để tìm tài liệu về người khách mà tôi sẽ phỏng vấn trong chương trình talk show.  Trước đó, nhà văn Nguyễn Quang đã ân cần gửi cho tôi quyển sách "Ốc Muợn Hồn" của ông cũng như quyển sách "Văn Nghiệp và Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh" do ông thực hiện.

 

Mở quyển sách "Văn Nghiệp và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh", tôi say sưa đọc những bài viết, những hình ảnh về cuộc đời và những sinh hoạt của cô.  Càng đọc, tôi càng mến phục và thấy rằng trước đây mình biết quá ít về cô, ngoài những lần gặp mặt trong những buổi họp hay những bài hát được phổ nhạc từ một số bài thơ của cô mà thôi.

 

Sau biến cố tháng Tư đen năm 1975, Văn Bút Việt Nam bị chính quyền cộng sản bức tử và Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là người đã bỏ nhiều công sức để vận động Văn Bút Quốc Tế (VBQT) công nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.  Tôi rất cảm động khi đọc đến đoạn Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh "quá vui mừng, miệng thì cười nhưng nước mắt không ngừng rơi" khi Bồi thẩm đoàn VBQT tuyên bố với 25 phiếu thuận và 7 phiếu chống, công nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại được chính thức là thành viên của tổ chức Văn Bút Thế Giới trong Đại Hội VBQT vào tháng 7 năm 1979 tại Rio De Janeiro, Brazil.

 

Không chỉ thành công trong nỗ lực vận động cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh tiếp tục đấu tranh không mệt mỏi cho các nhà văn Viêt Nam bị cầm tù trong các lao tù cộng sản với các bài viết, các buổi thuyết trình, v.v. Mặc dầu sức khoẻ sút kém trong thời gian gần đây, cô vẫn sát cánh bên phu quân tham dự các chương trình sinh hoạt trong cộng đồng.

 

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 85 của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ có ý định phối hợp với Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại để thực hiện một quyển sách để vinh danh những đóng góp của cô trong nền văn học Việt Nam và đặc biệt cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

 

Khi biết tôi có ý định phổ nhạc một bài thơ như một món quà sinh nhật dành cho Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Nhà văn Nguyễn Quang đã rất cảm động và ông mang quyển Tập Thơ đến trao cho tôi với lời nhắn nhủ là "thơ của cô Minh Đức Hoài Trinh khó phổ nhạc lắm đó." Xem qua những bài thơ trong Tập Thơ, tôi thấy có một vài bài thơ đã được một số nhạc sĩ phổ nhạc trước đây như bài "Ai Trở Về Xứ Việt" do nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc, "Kiếp Nào Có Yêu Nhau", "Đừng Bỏ Em Một Mình" do Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, rồi đến "Em Về Giữ Lửa" do Nhạc sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến phổ nhạc và trình bày. Bài thơ "Hỏi Mẹ" cũng được phổ nhạc và do chính tác giả là Ca nhạc sĩ Trọng Nghĩa trình bày trước đây.  Nhạc sĩ Võ Tá Hân cũng đã phổ nhạc một số bài thơ của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh như "Ai Về Xứ Việt I", " Đợi Em Về", "Gỗ Đá", v.v…  

 

Khi đọc các bài thơ trong Tập Thơ, tôi hiểu ra lời nhắn nhủ của Nhà văn Nguyễn Quang.  Phần lớn những bài thơ trong Tập Thơ Minh Đức Hoài Trinh đều chất chứa nỗi niềm trăn trở của người con xa xứ hướng về quê hương Việt Nam thân yêu. Đong đầy trong nhiều bài thơ là những uất ức, những hờn căm, những nghẹn ngào của tác giả về cuộc chiến vừa qua.  Những nỗi đau thương, buồn tủi, căm hận, v.v. được khắc họa qua từng chữ, từng câu...Lời thơ tuôn chảy theo cảm xúc của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đôi khi như dòng thác cuồn cuộn tuôn trào, lắm lúc như tiếng nấc nghẹn ngào cho những sự mất mát, những đau thương cho thân phận quê hương với niềm đau trắc trở.  Dường như Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh làm thơ để diễn tả cảm xúc của mình, chứ không phải chú trọng chọn lọc những lời văn chương bóng bẩy để thi vị hoá những điều mình muốn nói.  Chúng ta hãy đọc một vài tâm tình của thi sĩ qua những vần thơ như sau:

 

Mình về phá tung gông cùm biên giới

Biên giới tình và biên giới kẽm gai

(Em Về Giữ Lửa)

 

Ta theo chim đến nghĩa trang Trung Việt

Cậy nắp hòm hôn từng mảnh xương yêu

(Mơ)

 

Nhưng họ tới, gót chân sắt

Họ đạp, họ chà, họ dẫm,

Thế là hết,

Ngọc ngà cháy sém...

Cây rừng úa héo

(Biết Đến Bao Giờ)

 

Ngoài tình yêu quê hương, tình mẫu tử thiêng liêng, xen kẽ trong các bài thơ trong tập thơ này là những bài thơ tình yêu đôi lứa. Tôi bắt gặp một bài thơ với một cái tựa khá lạ là "Trăng, Sao và Sương".  Chỉ với 4 câu đầu của bài thơ, thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã vẽ lên bố cục của câu chuyện qua hình ảnh của ánh trăng chiếu qua căn phòng và mảnh vườn đơn chiếc:

 

Ánh trăng chiếu qua song

Xanh xanh xanh mầu trăng trong

Chiếu phòng ai cô độc

Chiếu vườn ai đợi mong

 

Trong bốn câu thơ tiếp, 

 

Sương khóc trong lòng đêm

Sương trĩu cành lau mềm

Sương thương trăng thui thủi

Sương nhớ mầu sao êm

 

Hình ảnh hạt sương được tác giả nhân cách hoá, làm chúng ta liên tưởng ngay đến hình ảnh của người con gái đang đau buồn than khóc cho sự ngăn cách kẻ ở người đi. Người đọc tò mò muốn biết thêm tình tiết của câu chuyện và tác giả đã tiếp tục mượn ba hình ảnh của "trăng, sao và sương" để gửi gắm những nỗi niềm tâm sự đó.  Nếu như ngày xưa, người thiếu phụ trong Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn Thị Điểm tiễn đưa chồng ra chiến trận và nương theo bóng trăng tưởng nhớ người chồng ở phương xa như qua hai câu thơ:

 

"Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi.

  Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San".

 

thì cũng với hình ảnh bóng trăng ấy, Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã diễn tả tâm trạng của người ở lại trước buổi chia ly: 

 

Trăng ơi và sương ơi

Người ấy sắp xa rồi

Bơ vơ mình trăng lạnh

Một vì sao đang rơi

 

Người ấy sẽ ra đi

Gió ngàn tung cánh phi 

Tương tư ai đâu nữa

Trăng sáng nhiều làm chi?

 

Và hệ lụy của sự chia cách này đã được thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh khéo léo lồng vào qua hình ảnh của "trăng, sương và sao", với ánh trăng cũng dường như lu mờ đi, ánh sao không còn lung linh nữa và ngay chính những giọt sương cũng nhỏ lệ cho sự xa cách.

 

Trăng sẽ ngừng rực rỡ

Sao sẽ ngừng long lanh

Khuya nào sương nức nở

Khóc ngay vui mong manh

 

Tuy trong nỗi đau chia cách, tác giả đã viết lên niềm hy vọng trong một viễn ảnh tươi sáng về ngày đoàn tụ, với hình ảnh của "trăng, sao và sương":

 

Bao giờ ta gặp nhau

Cho trăng quên buồn đau

Cho sao bừng ánh sáng

Sương thôi mờ khóm lau

 

Là một người hiền hoà, trầm lặng nhưng mang trong lòng một ý chí cương quyết, một tinh thần lạc quan như chúng ta đã có dịp được biết qua quãng đời hoạt động của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh trong nhiều thập niên qua, chúng ta mong rằng niềm tin và ý chí lạc quan cho quê hương mà cô đã gửi gắm qua thi phẩm "Trăng, Sương và Sao" cũng như qua nhiều bài thơ khác sẽ sớm trở thành hiện thực với hình ảnh một ngày ánh trăng sao "bừng ánh sáng" trên quê hương Việt Nam không còn bóng cộng thù.  Ngày đó, những đôi tình nhân hay những cặp vợ chồng sẽ không còn gặp cảnh chia ly, kẻ ở lại trên quê hương tù đày, người đi tìm tự do hay phải bán thân vì miếng cơm manh áo trên xứ người.  Và ngày đó, những người cầm bút trên quê hương Viêt Nam được tự do nói lên tiếng nói của mình mà không sợ phải gặp cảnh đàn áp, tù đày.  

 

Xin phép mượn bốn câu thơ đầu trong bài thơ "Trăng, Sương và Sao" và sửa lại một số chữ để kính tặng Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, người đã cống hiến suốt cả cuộc đời mình cho nền văn học Việt Nam và cho tiếng nói của người cầm bút:

 

Ánh trăng chiếu qua song

Xanh xanh mầu trăng trong

Chiếu dòng thơ cương quyết

Nét bút không bẻ cong! 

 

-Cao Minh Hưng-

     9/2014

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.