Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Việt Đông, một Hồ Biểu Chánh bị bỏ quên

08/04/201605:46:00(Xem: 5302)
Việt Đông,
một Hồ Biểu Chánh bị bỏ quên.
 
Nguyễn Văn Sâm

 

Mười hai năm trước khoảng năm 1997, gặp nhau tại Paris, tôi được GS Tạ Trọng Hiệp chỉ cho biết ở đây có 2 quyển sách ghi tất cả những tác phẩm của Việt Nam mà Thư Viện Quốc Gia Pháp tại Paris đang giữ: Catalogue du fonds Indochinois de la Bibliothèque Nationale. Quyển 1 gồm những tác phẩm từ những năm đầu tiên của người Pháp hiện diện ở Việt Nam đến năm 1930, quyển 2, từ năm 1930 đến năm 1954. Nhờ hai quyển sách nầy, tôi được biết nhiều tác phẩm mà trước nay mình chưa nghe nói đến bao giờ. Cũng vậy có những tác giả rất lạ với nhiều người mà tác phẩm cũng nhiều như là Nguyễn Chánh Sắt, Trần Phong Sắc hay Việt Đông…

Thời gian qua cả 10 năm trời, tôi vẫn chưa có thời giờ để tâm nghiên cứu về những nhà văn nầy vì điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm chưa thực hiện được.

Gần đây, một người nghiên cứu trẻ, anh Nguyễn Tuấn Khanh, thuộc Viện Việt Học, thành viên của trang mạng Nam Kỳ Lục Tỉnh mách với tôi rằng anh đã mượn được tất cả 14 truyện của Việt Đông hiện chứa tại trường Đại Học Cornell, New York. Mười bốn truyện của một tác giả cách nay đã tám mươi năm tương đối là nhiều, dầu rằng tại Thư Viện Quốc Gia Pháp còn có danh sách khoảng hơn 50 quyển nữa. Nhưng thôi có được bấy nhiêu hay bấy nhiêu, đợi tới khi có đủ trong tay toàn bộ tác phẩm của một nhà văn thì nhiều khi không biết đợi đến bao giờ!  Ngay cả một tác giả, nếu đã viết và in sách, đăng báo chừng 2, 3 mươi năm, lúc đứng tuổi, muốn gom toàn bộ tác phẩm mình lại để làm một tuyển tập cũng còn khó đầy đủ thay!

Và tôi bắt đầu đọc Việt Đông, càng đọc càng say mê. Đã đến lúc tôi chia sẻ với các bậc thức giả về sự hiện diện một thời trên văn đàn của nhà văn đặc biệt nầy.

Nghĩ cũng lạ, năm tháng để giới thiệu về một nhà văn cũng có cái định mệnh của nó. Ông ta bị lãng quên hơn 2/3 thế kỷ, tôi biết sự hiện diện của ông cả chục năm nay rồi thế mà đến bây giờ mới có thể mạnh dạn nói về ông…

Nhưng Việt Đông là ai?

Tiểu sử của Việt Đông còn lại quá ít, có người mách rằng trên tờ nhật báo Công Luận, số 1886, ngày 29/9/1930 cho biết ông tên là Lưu Thoại Khải. Ngoài bút hiệu Việt Đông, ông còn ký là Vi Đệ Tông (một hình thức chơi chữ kiểu Khánh Giư thành Khái Hưng), ông cũng ký Việt Đông trên những hình bìa do ông vẽ cho các quyển tiểu thuyết của mình, như vậy ngoài tài viết ông còn biết đôi chút về vẽ. Thế thôi, năm sanh năm mất không thấy sách vở nào ghi lại. Sách của ông xuất hiện sớm nhất là năm 1930, ta từ đó có thể đoán định rằng ông sanh vào những năm đầu của thế kỷ 20 căn cứ vào giọng văn trong sáng, không đối xứng theo lối cổ, ít cầu kỳ của Việt Đông… ta cũng có thể khẳng định ông là người tân học, còn trẻ vào năm 1930. Nhưng còn năm mất?  Tác phẩm ông, qua những quyển tôi có được, cho thấy quyển sau cùng nhất xuất bản năm 1940, chắc chắn năm mất sẽ sau thời gian nầy, còn lâu mau sau đó không thể nào biết được… Tiếc thay! Một cánh chim hiện ra trên bầu trời, không ai thấy lúc nào, cũng không ai biết nó biến mất lúc nào. Khứ lai vô ảnh, vô tung, chỉ để lại một vài dấu vết trên bầu trời trong một thời gian ngắn chừng hơn 10 năm thôi! Với thời gian, dấu vết nầy càng lúc càng mơ hồ phai lạt.

Tại sao tôi gọi Việt Đông là Hồ Biểu Chánh bị bỏ quên?

Dĩ nhiên chúng ta không ai lại so sánh giá trị hơn kém giữa hai nhà văn, dầu họ sống đồng thời, dầu họ khai triển những vấn đề tương tợ, và ngay cả văn phong hai người tương đối giống nhau cũng vậy. Nhìn tổng thể Việt Đông có những điều tương tợ với Hồ Biểu Chánh nhưng về mặt đóng góp văn học, về giá trị sự nghiệp sáng tác thì hai người khác nhau nhiều. Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh phong phú hơn, thời gian hoạt động của ông dài hơn, ngay trong một tác phẩm, sự dài hơi trong một quyển truyện cũng thấy rõ ràng. Tuy nhiên những điều nầy cũng không có nghĩa là Việt Đông không xứng đáng được một chỗ đứng trong văn học sử. Ông có những giá trị của riêng mình, chỉ riêng việc xuất bản khoảng 6, 70 tác phẩm ăn khách và đưa ra được những vấn đề có giá trị lâu dài cũng là điều kiện rõ ràng, có thể thấy ngay.

Nhìn chung Việt Đông khai thác về những bất công trong xã hội. Sự ức hiếp của kẻ giàu đối với người nghèo. Kẻ giàu đây là hạng chủ điền, hạng hương hào chức dịch, hạng dựa thế thần của nhà cầm quyền vì mình có may mắn được làm người có học thức hay có địa vị xã hội. Người nghèo dĩ nhiên là lớp nông dân chân lấm tay bùn, hạng tá điền làm ruộng mướn của chủ, kẻ cô thế là những trẻ mồ côi, những người dân thất học, những người đàn bà hay thiếu nữ không được xã hội bảo vệ. Tác giả muốn cho thấy sự cách biệt giữa giàu nghèo, giửa kẻ có thế quyền và lớp dân đen cô độc. Ta có thể đọc Việt Đông để thấy những hoạt cảnh bất công của một thời ở Nam Kỳ, đặc biệt là vùng đồng bằng Cửu Long và đất Sàigòn của thập niên 30 thế kỷ trước, để thấy được thế nào là lòng người thay trắng đổi đen, thế nào là sự giả dối của người xảo ngữ dùng ngôn từ để  trục lợi (những hô hào lớn tiếng, những lời ưu thời mẫn thế, những phát biểu thương nước thương nòi chưa hẳn là những lời chân thật, mà phần nhiều là những câu trên cửa miệng, che dấu lòng tham để mưu cầu lợi lộc.)

Có thể nói Việt Đông thuộc nhóm nhà văn dùng tiểu thuyết để răn đời. Mỗi truyện của ông là một bài học: chung thủy với chồng, thương yêu vợ nhà, không nên gian ác, áp bức, chớ nên ép uổng con cái vì những chuyện gì đó thuộc riêng mình, không nên cờ bạc, chớ hồ đồ, chớ phản bạn cướp chồng, phải coi nhẹ tiền tài mà trọng bề nhân nghĩa…. Nói ông ngụ ý răn đời vì kẻ xấu thường kết thúc bằng chết chóc, hối hận, tan cửa nát nhà hay tù đày khổ sở, kẻ tốt phần lớn hưởng được hạnh phúc và những ưu đãi của số mạng, rất ít trường hợp có kết thúc bi thảm cho người ngay. Một vài trường hợp “unhappy ending”, tôi nghĩ là do Việt Đông muốn tạo một kết cục bất ngờ để người đọc khỏi nhàm chán thốt lên lời: biết rồi thế nào cũng vậy mà thôi, thế nào Vân Tiên cũng gặp được Nguyệt Nga và sẽ được nhường ngôi vua, thế nào Thể Loan cùng mụ Huỳnh Trang cũng bị trời đánh…

Để diễn tả những điều nầy Việt Đông dùng lối kể truyện. Mỗi tác phẩm của ông là một câu chuyện, thường có đầu đuôi, tình tiết, thời gian kéo dài, có khi hết cả đời người, có khi là vài ba năm, đủ để sự kiện xảy ra, đủ để tạo thành hậu quả hành động nào đó của nhân vật. Ở đây là hành động, là xử thế, là đối phó, là nói chuyện, không có dòng tâm lý nhân vật, cũng ít thấy tác giả nói về tâm trạng và sự suy tư của nhân vật, cũng không có sự xáo trộn thời gian không gian. Tóm lại, kỹ thuật viết truyện của Việt Đông do cách xây dựng đơn giản của truyện dài, truyện ngắn cách đây cả trăm năm, nên nhẹ về mặt kỹ thuật, chỉ cốt đưa ra điều tác giả muốn nói hơn là mất công tìm tòi cách viết lạ, kỹ thuật tân kỳ, không giống người khác.

Văn phong của Việt Đông đã thoát ra khỏi loại biền ngẫu, không còn dài dòng lê thê, câu mà đã được định hình bằng những câu ngắn gọn rõ ràng, ở Việt Đông ta không bắt gặp được những câu sai văn phạm, câu cụt hay chữ nghĩa mơ hồ, có thể là vì ông thuộc lớp người tân học, chịu ảnh hưởng của văn phạm Tây phương, của sự rõ ràng khúc chiết. Những lỗi sai chánh tả hay viết theo cách phát âm địa phương của Việt Đông làm người đọc ngày nay lắm khi khó hiểu hay bực mình, nhưng đó là lỗi gần như là phổ quát của nhà văn thời ông, khó thể tránh được trừ những người như Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huình Tịnh Của… Sự kiện nầy nhìn ở mặt tích cực cũng là điều lý thú vì chúng ta biết chắc chắn rằng thời xưa ông bà ta ở trong Nam phát âm như thế, họ nhiều khi không cần mất công để cực khổ cong môi bành miệng để phát âm những chữ tỏa, tùy, suýt, xuyên…  Đó chẳng qua cũng chỉ là nét đặc trưng của thời đại mà thôi.

Một điều thích thú cho người đọc thuộc lớp tuổi từ 50 trở lên là bắt gặp lại được những từ ngữ mình đã từng nghe lúc nhỏ từ miệng cha mẹ hay ông già bà cả nhưng nay không còn nghe nữa, những từ nầy chất chứa đâu đó trong ký ức ta, bây giờ gặp lại như gặp người thân thương lâu ngày ly cách. Nếu ai đó có thời giờ có thể làm một tự vựng của Việt Đông để thấy ngôn ngữ chúng ta thay đổi nhiều trong khoảng thời gian chưa đầy thế kỷ… 

Trong ba hình thức truyện của Việt Đông, loại tiểu thuyết tình cảm xã hội là nổi bật nhất, đây cũng là sự giống nhau cơ bản giữa Việt Đông và Hồ Biểu Chánh, hai loại khác là truyện dã sử và trinh thám không nổi bật, tuy rằng loại dã sử tác giả viết thật hay, tình tiết và bố cục cũng như văn phong rất giống với truyện Tàu, mà ông cho là đọc vô ích.

Phảng phất trong tác phẩm của Việt Đông ta thấy có hai vấn đề nổi bật của thời đại còn kéo dài đến ngày nay, đó là:

1.       Kêu gọi hay gây ý thức cho người phụ nữ thấy được cái giá trị làm người của mình, giá trị bình đẳng của mình đối với nam giới, đả phá cái thói ru rú thường tình trong nhà để rồi mặc cảm thua kém hay tự ti đối với phái nam.

      Để viết những điều nầy Việt Đông tạo nên những người phụ nữ nhạy bén trong phán đoán, tài ba trong hành động, kiên trinh cương quyết đi hết đoạn đường khó khăn dầu bao nhiêu gian khổ cũng coi không ra gì. Tôi cho rằng tư tưởng của Việt Đông dính dáng xa gần với những vận động nữ quyền hay khuyến khích phụ nữ gánh vác vai trò trong xã hội của nhà thơ Nguyễn thị Kim nói riêng hay chủ trương của nhóm người tập hợp quanh tờ tuần báo Phụ Nữ Tân Văn của thời nầy nói chung. Vấn đề giá trị và vai trò người phụ nữ, trước đấy độ 2, 30 năm bà Sương Nguyệt Anh đã nói nhiều khi chủ trương tờ Nữ Giới Chung rồi. Vậy thì đây là vấn đề của bất cứ thời đại nào, có điều là người ta có nói ra minh bạch hay không mà thôi.…

2.       Rạch ra rằng cái quyền lợi kinh tế của người Việt bị bỏ quên, đã và đang lọt vào tay người Huê kiều khi dân Việt không chú trọng đến chuyện buôn bán, không chịu tranh thương với người Hoa. Biết bao nhiêu của cải đáng lý ra là tài sản của người Việt đã lọt vào tay người khách vì những cách thế buôn bán trục lợi gian tham của họ.  Một phần cái khổ của dân quê cũng từ đây mà ra.

Việt Đông thực ra nói một việc mà người đi trước ông cũng 2, 30 năm đã nói đó là ông Dũ Thúc Lương Khắc Ninh hay Nguyễn Chánh Sắt đã nói trên tờ Nông Cổ Mín Đàm.

Tiếc là hai điều trên được diễn tả quá sơ lược, qua lời nói của nhân vật, phải chi ông Việt Đông viết theo hình thức một câu chuyện có dầu đuôi thì tác dụng chắc chắn sẽ mạnh hơn nhiều. Tuy nhiên ta nên nhớ rằng bà Sương Nguyệt Anh và các ông Lương Khắc Ninh, Nguyễn Chánh Sắt chỉ lý thuyết bằng văn nghị luận, Việt Đông đã bước đi một bước tiến là đem đặt ý mình vào trong tư tưởng của nhân vật, ông đã làm cho vấn đề trở nên gần gũi với người đọc hơn vì dầu sao nhân vật trong truyện vẫn sống động hơn lý thuyết, bài giảng vốn vô tình, khô cứng, khó thẩm thấu.

Tôi vẫn cho rằng Việt Đông có khuynh hướng giáo dục hơn là hiện thực, ông muốn điều mình viết ra tạo ảnh hưởng tốt, là  bài học giá trị đối với người đọc, cho nên không biết bao nhiếu lần ông vẽ ra sự thất bại, cuối đời xấu, kết cục bi thương của những người ác, người đam mê thói xấu, hay người tánh tình nông nổi thiếu suy xét cho đến ngọn nguồn…

Tại sao Việt Đông bị bỏ quên?

Xin để mọi người tùy theo sự suy nghĩ mà đưa ra câu trả lời.

Có thể nguyên nhân nằm ngoài tác phẩm, có thể nằm trong chính tác phẩm của Việt Đông, nhưng điều chắc chắn là tác giả có cả 70 tác phẩm đã từng bị bỏ quên. Sự kiện nầy làm cho chúng ta những người đi sau, có cái nhìn sai lạc về văn học Miền Nam, đánh giá sai về vai trò và giá trị của nó, đó là điều chúng ta cần chỉnh sửa. Điều đad62u tiên của công việc nầy là đọc càng nhiều càng tốt tác phẩm của Việt Đông.

Westminter, CA, 05-12-2009

Nguyễn Văn Sâm


.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.