Hôm nay,  

Văn Kim Trọng tế Thúy Kiều…

21/08/201500:01:00(Xem: 8019)
Một bài Văn tế của một nhân vật tiểu thuyết
cho một nhân vật tiểu thuyết:
Văn Kim Trọng tế Thúy Kiều…
 
Nguyễn Văn Sâm
(Phiên âm và giới thiệu 2015)

 .
Thúy Kiều, dầu là nhân vật thiệt sự ngoài đời, được Thanh Tâm Tài Nhân cấu tạo thành nhân vật tiểu thuyết, đối với người Việt Nam nói chung hay đối với người đọc Đoạn Trường Tân Thanh nói riêng cũng chỉ là một nhân vật tiểu thuyết. Do đó những gì người ta viết thêm về Kiều - hay những nhân vật trong Đoạn Trường Tân Thanh - đều chỉ là hình thức bày tỏ lòng cảm phục Nguyễn Du qua sự lân mẫn hay oán ghét nhân vật của ông mà thôi… (Thúy Kiều Án chẳng hạn)

Đọc Văn Tế Vợ của Bùi Hữu Nghĩa, Văn Tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, Văn Tế Bá Đa Lộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc… Người đọc cảm xúc và có thể để lòng mình nổi lên tràn đầy tình cảm bi thương cho người được tế khi nghĩ đến số phận không may của họ. Đọc Văn Tế Kiều những tình cảm nầy chắc chắn sẽ được ngăn chặn lại không cho tràn đầy vì trong thâm tâm người đọc nổi lên một sự ngăn chận vô hình: Đó chỉ là nhân vật tiểu thuyết và người đứng tế cũng chỉ là một nhân vật tiểu thuyết chẳng qua một người nào đó viết giùm. Sự ngăn chặn nầy tuy vậy không làm mất giá trị thiệt sự của ĐTTT về phương diện văn học, đó chỉ là sự báo hiệu của tâm thức để phân biệt đời sống thực tế và đời sống do tác phẩm văn nghệ tạo ra trong trí độc giả mà thôi.

Tôi được người bạn chuyển bài Văn Tế Kiều anh lấy xuống từ trang mạng Nom Foundation, nhưng không thấy nói lấy từ tác phẩm A, B nào, đã lâu lắm rồi, 10 năm có lẽ, bây giờ ngồi lại phiên âm. (Nhân đây cũng xin cám ơn học giả Nôm Nguyễn Hiền Tâm đã góp ý sắc sảo trong một vài chữ đọc.) Bài văn tuyệt vời  ở chỗ đã dùng phương pháp lẫy Kiều để tạo nên gần như toàn bài. Lẫy Kiều theo thể phú - thể thường có của văn tế - là chuyện cần nhiều tài hoa, cũng như lẫy Kiều đem chữ câu trên xuống câu dưới của thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một sự tài hoa khác.  Bài văn đáng đọc, đáng ghi thêm vào danh sách những phó phẩm của Đoạn Trường Tân Thanh cùng với những bài vịnh Kiều hay những phó phẩm dài hơi chuyển ĐTTT sang Hán văn bằng những thể thơ nầy nọ mà tôi nghĩ rằng học giới không phải ai cũng may mắn được biết. Những thước đo sự đi vào lòng người của tác phẩm là phó phẩm, là những bản in, là những bình luận, nghiên cứu suốt thời gian dài. Ba thứ nầy thì ĐTTT đã dẫn đầu.  

Sau khi bản thảo được đưa đến Suối Nguồn thì được nhắc rằng Nam Phong tạp chí số 92 năm 1925 đã có đăng bài phiên âm rồi (trang 179-80), tác giả bài văn tế là tiến sĩ Phạm Liệu, người Quảng Nam, người sao lục (phiên âm) là ông Lê Viết Lượng nên xin ghi thêm những chi tiết nầy vào đây. Cũng được chỉ rằng bản Nôm mà lâu nay tôi không biết nằm trong sách nào là lấy từ  sách Hán-Nôm Đại Gia Di Cảo. Bản phiên âm nầy (NVS) có vài sai biệt nho nhỏ với bản phiên âm trước đó chín mươi năm của người xưa (1925-2015) nhưng không mấy quan trọng. Chữ quan trọng nhứt là gắn vó 哏𨀒 chúng tôi theo tự điển Huình Tịnh Của (1895) và Taberd (1838) nên không viết gắn bó như thường thấy gần đây. Nhân việc nầy chợt nghĩ rằng Nam Phong Tạp Chí có nhiều bài phiên âm những tác phẩm Nôm xưa rất có giá trị mà không đưa ra nguyên bản Nôm, nay chuyện tìm nguyên bản trở nên dễ dàng hơn, sao ta, những người yêu văn chương Việt Nam, không ngồi xuống cùng nhau làm việc đối chiếu để tác phẩm xưa được hiểu chính xác hơn… (NVS, CA, 4 tháng 8, 2015)

.

blank 
(t1) Hỡi nàng nàng ôi!

.

Trâm gảy gương tan,

Bèo trôi sóng phủ.

Đất khách giang hồ tủi phận, chúa Xuân sao khéo vô tình?

Cơ trời dâu bể đa đoan, ông Tơ cớ chi ghét bỏ?

Người đời đến thế thời thôi, tâm sự biết đâu giãi tỏ.

.

Nhớ nàng xưa:

.

Sắc nước tư dung,

Hương trời phong độ.

Tuyết nhường da, mây thua tóc, đua bề tài sắc phần hơn.

Hoa phong nhụy, trăng tròn gương, vừa điệu ca ngâm mùi đủ.

Lá thắm thâm nghiêm kín cổng, đoan trang ngọc nói hoa cười.

Xuân xanh xấp xỉ cập kê, êm đềm màn che trướng rũ.

Phong phỉ thói nhà băng tuyết, tường đông ong bướm mặc ai,

Phong lưu rất mực hồng quần, ngoài cửa yến oanh hiếm có.

Hương lân vẫn nghe thơm nức, hội đạp thanh âu hẵn nhân duyên,

Nước non cách mấy buồng đào, tuần đố lá may thay giải cấu.

Rũ trướng đào còn treo giá ngọc, biết bao ân trọng nghĩa dầy.

Khóa buồng Xuân còn đợi gió đông, những mòng chốc thầm yêu (t2) trộm dấu.

Đòi lúc câu thơ nét vẽ, ngàn xưa âu Ban, Tạ tài danh.

Tình dầu khi lá thắm chỉ hồng, đôi lứa gẫm Thôi, Trương kỳ ngộ.

Đêm chén thề, ngày quạt ước, trăm năm tính cuộc vuông tròn.

Lời vạn phúc, nỗi hàn huyên, hai mặt giáp nhìn tỏ rõ.

Kẻ thiên tài người quốc sắc, tóc tơ một ước, quả mai ba bảy đương vừa,

Trai anh hùng gái thiền quyên, hương lửa ba sinh, dây nguyệt một hai gắn vó.

Vừa đâu bỗng thấy gia đồng đưa tin thúc phụ.

Nỗi nhà tang tóc, đất Liêu đành cách trở sơn khê.

Tủi phận bèo mây, nệm thúy chưa dựa kề kinh bố.

.

Uẫy thôi rồi!

.

Sá phận mưa tan,

Gặp cơn gió tố,

Nước non hỡi còn mang nặng, trăm chiều riêng để tội cho hoa,

Tóc tơ chưa chút đền bồi, ba sinh quyết liều đem tấc cỏ.

.

Hỡi nàng nàng ôi!

.

Lưu lạc quê người,

Đoạn trường trong sổ.

Duyên hội ngộ mặt mơ tưởng mặt, vì ai rụng cải rơi kim.

Mảnh tương tư ngày nặng (t3) một ngày, xót kẻ nằm mưa ăn gió.

Tủi phận trắng ngần trong giá, năm chờ tháng đợi, xa xôi ai có thấu tình chăng.

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, rày ước mai ao, vẹn vẽ khôn đền chưng nghĩa hậu.

Nghĩ phong cảnh [cũ]: Có cổ thụ, có san hô, có bông bốn mùa, có cây trăm thước, trước sau nào thấy bóng người.

Nhớ nguyền ước xưa: Khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín khúc, khi chau đôi mày, sụt xùi ngắn dài lệ rỏ.

Đàn còn đây hương còn đó, keo loan đành tơ chấp mối kia.

Hương càng đượm lửa càng nồng, khúc phượng nỡ phím rời dây nọ.

Những ước: loan chung phượng chạ, phu vinh phụ quí, muôn chung nghìn tứ cũng có nhau.

Hay đâu:  thúy rẻ loan bay, tử biệt sinh ly, kim mã ngọc đường giờ ai đó!

.

Hỡi nàng nàng ôi!

.

Vật đổi sao dời,

Sương che tuyết ủ.

Đèn hạnh sớm khuya, bông đào mới cũ, tấm đá xem chung còn tạc, ai quạt sầu đắp thảm được cho vơi!

(t4) Khối tình mang xuống chưa tan, lời thề bể chỉ non thôi đã phụ.

Non Thúy Lĩnh mây bay phới phới, nhìn chơn mây thêm mỏi mắt xanh.

Sông Tiền Đường nước gợn xanh xanh, thấy mặt nước như hình má đỏ.

Muôn ngàn kể nguồn ân bể ái, thấy người thấy cảnh, khóc than không xiết sự tình,

Mười lăm năm liễu yếu đào tơ, càng nghĩ càng đau, buồn bã giận trong căn số.

Trong khuê các đau lòng tiếc kẻ, đốt lò hương một niệm dạ sầu cam tệ với tri âm,

Dưới tuyền đài cách mặt khuất lời, kính dâng chén cúc ba tuần, tình thương biết bao nhiêu đoạn khổ. (Hết)

.

Nguyễn Văn Sâm, CA, 30-07-2015

 .

 RA MẮT TỈNH MÊ MỘT CÕI
GHI CHÚ: Nhà văn Nguyễn Văn Sâm cũng sẽ ra mắt tác phẩm “Tỉnh Mê Một Cõi” (tức: Hứa Sử Truyện) cối tháng này. Mời đồng hương dự buổi ra mắt sách “Tỉnh Mê Một Cõi” vào Chủ Nhật 30-8-2015, từ 2:00PM-5:00PM, tại Viện Việt Học, 15355 Brookhurst St #222, Westminster, CA 92683. Sẽ có 3 diễn giả: GS Trần Ngọc Ninh, GS Nguyễn Văn Sâm, và Cư sĩ Nguyên Giác. Tác phẩm “Tỉnh Mê Một Cõi” (Hứa Sử Truyện) là một tác phẩm độc đáo, cả về phương diện văn học và Phật học, và tự thân truyện này đã là một sử liệu quan trọng để tìm hiểu về Phật Học thế kỷ 18 ở vùng Nam Bộ VN

 

 

 

 



.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.