Imre Kertész, Nobel văn chương 2002.
Không cần tư tưởng thứ xịn, chỉ cần thứ xài được. Tiểu thuyết bộ ba "Hang động, Tất cả những cái tên, Mù lòa" của José Saramago, là từ cuốn 1984 của Orwell mà ra, nhưng những câu chuyện của Saramago đáp ứng đòi hỏi thời đại toàn cầu hóa, với tất cả những nhức nhối của nó. Cái nhìn trẻ thơ của Kertész, trong Không Số Kiếp so với cái nhìn của Oskar, một đứa trẻ mãi mãi lên ba, trong Cái Trống Thiếc, của Grass. Nhưng nếu với Grass, theo Dương Tường, khi dịch cuốn sách trên, câu chuyện của ông một thứ khôi hài đen (u-mua đen, chữ của dịch giả), theo tôi, là bởi vì thứ ngôn ngữ đó, tư tưởng đó không những xài được, mà còn hết sức cần thiết, cho tiếng Đức, sau khi đã bị chủ nghĩa Nazi lợi dụng. Nói một cách khác, nếu coi tư tưởng Nazi là thứ "xịn", thí dụ vậy, thì chính thứ xài được ở Grass chẳng hạn, mới thật là cần thiết, không có không được, một khi thứ xịn kia trở thành một lời dối trá khổng lồ.
[Chúng ta hãy nhớ lại những bài hát 'mô phỏng" nhạc cách mạng, giải phóng... tại miền nam, sau 1975. Hãy nhớ lại một thời kỳ thật là ngắn ngủi, cả miền nam đã say mê với những "Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại bằng mười". Giấc mộng lớn đó, nếu bạn là người Việt nam may mắn sống sót cuộc chiến, bắt buộc bạn phải mê, không có "oong đơ" gì hết! Nhưng sau đó, chính những "phiên bản" mới nói lên sự thực cay đắng, và "từ trận thắng hôm nay, ta xây lại bằng mười", biến thành "từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn dài dài"].
Kafka là một trong những người ảnh hưởng sâu đậm tới tư tưởng cũng như văn phong của Kertész. Cách nhìn ngây thơ, treo lửng mọi phán đoán bởi vì chưa từng biết phán đoán đó, của một đứa trẻ, tại Lò Thiêu, là cũng từ Kafka, theo như một cách đọc "khác" , về nhà văn "u tối" này. Đây là cách đọc ông, của một số nhà văn nhà phê bình hiện đại, thí dụ như của Kundera, trong Những Di Chúc Bị Phản Bội. Thế giới Vụ Án, Toà Lâu Đài, là "địa ngục", là "ác mộng", là kín bưng, nhưng không phải không có những "cửa sổ" (chữ của Kundera), hé cho thấy một thế giới khác, chắc là dễ thở hơn. Không phải tới Kundera, người ta mới nhận ra những khía cạnh, cứ tạm cho là "hy vọng", ở trong thế giới "ma quỉ, mộng mị" của Kafka. Sartre, khi tìm hiểu sự thành công của Kafka trong "Văn học là gì"" (Nhận Định, II), đã viết: "... Tôi cho rằng ông [Kafka] muốn miêu tả phận người. Và cái phần mẫn cảm đặc thù ở đây, đối với chúng ta, là, trong một vụ án cứ thế kéo dài, rồi bất thình lình chấm dứt trong đau thương, tức tủi, những phán, ông toà thì không ai biết được, mà cũng chẳng làm sao với tới [QT tôi liên tưởng tới cuộc chiến VN, ở đây].... chúng ta nhận ra lịch sử, và chính chúng ta, trong lịch sử. [Quách Tường tôi nhận ra ở đây, cuộc chiến, và chính chúng ta, ở trong cuộc chiến đó]. Nhìn dưới góc độ triết học, những nhân vật của Kafka, như Joseph K. và K., với Sartre, tượng trưng cho "nỗi ở đời" của con người: "Địa ngục, là kẻ khác".
Camus nhìn ra, cả hy vọng lẫn phi lý, ở trong Kafka: Nói đến hy vọng ở đây, không phải là tiếu lâm, là cà chớn (ridicule). Bởi vì, càng bi thảm tới cỡ nào là cái nỗi ở đời của những nhân vật của Kafka, hy vọng càng hung bạo chừng đó... hay nói như Kierkegaard, "Phải đập nát bấy hy vọng trần gian, để làm bật ra hy vọng thứ thiệt, và được cứu rỗi, nhờ nó. (On doit frapper à mort l'espérance terrestre, c'est alors seulement qu'on se sauve par l'espérance véritable - la Pureté du coeur: Sự Trong trắng, trinh nguyên của trái tim).
Nhân nhắc tới Camus, Mặt Trời Địa Trung Hải, nhân tiện nhắc tới Mặt Trời Auschwitz (chữ của nhà xb Actes Sud, khi giới thiệu Không Số Kiếp, của Kertész, bản dịch tiếng Pháp), như một trích đoạn sau đây cho thấy:
"Ở nơi đó, cũng vậy, giữa những ống khói, trong những quãng ngừng của khổ đau, có một cái gì giống như là hạnh phúc.... Vâng, đúng là nó đấy, hạnh phúc ở trại tập trung, điều mà tôi sẽ nói tới sau này, khi có người hỏi. Thì cứ giả dụ như sẽ có người hỏi. Thì cứ giả dụ như chẳng bao giờ tôi quên nổi, hạnh phúc."
Quách Tường giới thiệu



