Hôm nay,  

Khởi Đầu Của Mọi Khởi Đầu

07/12/201300:00:00(Xem: 5032)
Ngô Mai Hương
(Để tạ ơn các bằng hữu Úc châu nhân ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2013.)

Tôi rời Cali vào những ngày trời chớm lạnh và đến Úc Châu khi mùa hè vừa mới bắt đầu. Chuyến đi như là một cuộc trở về, trở về tới điểm khởi đầu. Mỗi người đều có điểm khởi đầu của mình. Điểm khởi đầu của tôi là một buổi chiều đầy mây tím, khi mặt trời chìm xuống qua đám lau sậy, khi tôi còn ngơ ngác trước hướng đi của tương lai, và lúc đó cũng là lúc chiếc ghe nhỏ đã lặng lẽ vào vùng nước lợ, chỗ giao tiếp của giòng sông và biển. Rời quê hương ở cái tuổi vừa có ý thức, tôi cũng như bao nhiêu người khác, có ai không từng đứng ở mũi tàu tha thiết nhìn lại hướng quê nhà khi biển đã mênh mông một màu xám trắng!

Ở Úc, tôi đã gặp lại những thuyền nhân, gặp lại chính mình của ba mươi năm về trước, những bắt gặp bất ngờ làm mình xúc động. Tôi có cảm giác như những thuyền nhân này chưa từng bỏ quên lời hứa của họ trên bến sông ngày nào. Tấm lòng của những người Việt ở đây đối với quê hương có cái gì đó làm mình rưng rưng, nó tha thiết và trong sáng quá! Tha thiết và trong sáng đến mức độ tôi có cảm tưởng như những đòn ly gián của cộng sản sẽ không, và khó có thể làm vẩn đục được các cộng đồng người Việt ở đất nước này.

* * *

Tôi đứng trên ngã tư đường William và Brisbane nơi tượng đài thuyền nhân Việt Nam của tiểu bang Tây Úc vừa được khánh thành một tháng trước. Nếu xuất phát từ điểm tôi đứng, con đường sẽ dẫn thẳng về Việt Nam. Bỗng dưng tôi nhớ hai câu thơ cuối trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu do Ngô Tất Tố dịch: “Gần xa chiều xuống đâu quê quán?/đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!”

Nhìn hình tượng con tàu mong manh trên ngọn sóng, dáng dấp của những đoàn người vượt chết ra đi, ai mà không xốn xang! Mãi cho đến tận bây giờ, tôi vẫn thường tránh không nghe những câu chuyện về vượt biên. Có lẽ vì chuyện xảy ra trong thế hệ của mình, nó gần gũi quá, những đau thương nó thật quá! Những thế hệ sau này, khi nhìn những tượng đài thuyền nhân chắc cũng không thể nào hình dung hết được những gian nan mà cha mẹ họ đã trải qua. Tôi đã được đi thăm hai tượng đài một ở Perth, và một ở Brisbane. Tôi nghĩ nếu như hai tấm Bia Tỵ Nạn trên đảo Galang và Bidong không bị CSVN với tay qua giật sập một cách thảm thương, có lẽ không có nhiều tượng đài thuyền nhân được xây dựng ở khắp nơi trên thế giới như ngày hôm nay. Bidong và Galang là hai nơi tạm trú của người Việt trong khi chờ đợi để được đi định cư tại các nước khác. Người Việt ở hai nơi này đã dựng tấm Bia Tỵ Nạn ghi dấu đoạn đường họ đi qua và để tưởng nhớ những người đã bỏ mình trên đoạn đường tìm tự do. Giật sập hai Bia Tỵ Nạn ở Bidong và Galang, CSVN đã không thể phá huỷ được nó mà ngược lại.

Rời quê hương trên những con tàu monh manh hơn ba mươi năm trước, người Việt vẫn chưa từng lìa bỏ quê hương của mình. Tôi đã ghé Adelaide, qua Perth, đến Brisbane để cảm nhận hết những tình cảm thật đơn sơ mà thắm thiết của người Việt ở đây dành cho quê hương. Ngay tại hai thành phố lớn là Melbourne và Sydney, cái gọi là “văn hoá vận” của VC vẫn chưa với tay tới được. Chưa có một đài truyền hình nào, trong nước được quyền phát sóng tại các nơi này. Nơi mà sự hiện diện của ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh đã đem được cả ngàn người cùng đến, cùng nghe, và cùng hát với chị những bài hát đấu tranh.

Cũng tại nơi chốn này, tôi tìm thấy mình lặng người đi vì xúc động trước tấm lòng của một đồng bào. Chị chưa một lần tham dự hết một buổi nói chuyện về tình hình đất nước của một tổ chức chính trị hay một buổi gây quỹ nào. Người phụ nữ này đã cho tôi một bài học đáng giá nhất trên đoạn đường đi của mình. Nói qua giòng nước mắt, chị bảo chị ít học, chỉ biết đóng góp cái phần nhỏ bé của mình cho những người đang đấu tranh trong nước. Chị cầu nguyện hằng đêm cho họ và mong sao Việt Nam đừng rơi vào tay Trung Cộng. Cái phần đóng góp thường là không minh danh, mà chị gọi là “nhỏ bé” đó, là một số tiền khá lớn, là cả một gia tài đối với chị. Tôi tự hỏi làm sao các con của chị có thể hiểu được rằng cha mẹ chúng đã phải mặc loại áo quần mua lại (second hand), dè xẻn từng đồng - để cho đi cái phần lớn nhất của mình.

Đã nói chuyến đi Úc này cho tôi cái cảm giác như một cuộc trở về! Như mình soi lại bóng mình trên những dấu chân của những người đi trước. Đầu tiên, chúng tôi có chút việc phải dừng chân tại Hawaii. Trong một ngày rảnh rang, một người bạn đã dẫn chúng tôi đi thăm mộ của một chiến hữu ngày xưa. Ngôi mộ của anh nằm trên một đồi thông, anh mất đi khi chỉ vừa qua tuổi bốn mươi. Nghe kể lại khi vừa đến Mỹ, vừa ổn định gia đình, anh bảo vợ: “bây giờ bà lo làm nuôi con đi, để tôi lo việc nước”. Anh mất sớm nên không hề biết rằng quê hương của anh nay đã thành một khối đau thương từ Bắc chí Nam. Trời mưa, nhang bị ướt, không cháy. Bạn tôi thắp một điếu thuốc đặt lên mộ bạn mình rồi lâm râm khấn vái: “hôm nay tụi tôi đến thăm ông nè, ông hút thuốc đi rồi phù hộ cho đất nước mình, phù hộ cho tụi tôi chân cứng đá mềm nghe ông”. Tôi cố tình đứng lùi lại phía sau lưng hai người đàn ông, quay đi để giấu những giọt nước mắt của mình.
resized-tuong-dai-ky-vat
Trái: Tượng đài thuyền nhân Việt Nam của tiểu bang Tây Úc; Phải: kỷ vật của anh Nguyễn Trọng Hùng, người đi trong chiến dịch Đông Tiến.

Cũng ở tại Hawaii, cũng trong chuyến đi này, vô tình tôi được chạm vào những kỷ vật rất riêng tư của một người ra đi vì đất nước khác. Đó là những đồ vật được gởi lại của anh Nguyễn Trọng Hùng, người đi trong chiến dịch Đông Tiến. Cái bóp da màu nâu cũ, một cây thánh giá, những lá thư của các con của anh và vô số những hình ảnh hạnh phúc của gia đình anh. Tôi chạm vào tình thương thiết tha của một người cha dành cho các con và cảm nhận được hết cả sự hy sinh to lớn của anh.

Nhớ ơn và trả ơn là truyền thống ngàn đời của người VN. Nguyễn Trọng Hùng đã trả ơn đất nước anh bằng tất cả những gì anh có thể làm trong hoàn cảnh lúc đó, khi thế giới đã quay mặt với đất nước VN. Khi mỗi chúng ta chỉ còn chính mình đối diện với những bất hạnh của quê hương. Có người cho rằng việc làm của các anh là chuyện hoang tưởng, đội đá vá trời. Để hiểu được một Trần Văn Bá, một Vũ Đình Khoa, một Nguyễn Trọng Hùng có lẽ người ta phải quay lại từ điểm khởi đầu. Họ làm tôi nhớ đến những công dân tuyệt vời của nước Pháp sau đệ nhị thế chiến. Câu chuyện được nghe kể lại từ một người bạn - Nước Pháp lúc ấy gần như kiệt quệ vì chiến tranh. Để xây dựng lại một đất nước từ đống gạch vụn đổ nát, đã có 32 gia đình thế phiệt, giàu có vào bậc nhất nước Pháp đã tình nguyện dâng hiến tất cả tài sản của họ cho công cuộc canh tân nước Pháp. Sau đó, nghe nói là trong số họ có những người đã hành nghề taxi để kiếm sống cho gia đình. Họ hoà mình vào cuộc sống bình thường đầy khó khăn như tuyệt đại đa số người dân Pháp vào lúc ấy. Họ chìm vào quên lãng, nhưng chính những người tài xế taxi đó đã làm nước Pháp đi lên với niềm tự hào.

Một thống kê của năm 2013, do tổ chức quốc tế tranh đấu cho nhân quyền mang tên Walkfree, đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới về tổng số “nô lệ”. Một tiết lộ làm chúng ta giật mình và không khỏi xót xa! Chiến tranh đã kết thúc hơn ba mươi năm mà đất nước vẫn nghèo đói khổ nhục. Dân ta tiếng là cần cù, hiếu học, thông minh, nay trở thành những kẻ làm nô lệ, tôi đòi cho xứ người. Theo ước đoán của Walkfree có vào khoảng từ 240 ngàn đến 260 ngàn người Việt đang làm “nô lệ” cả bên trong VN và ở tại các quốc gia khác. Nếu quay lại từ điểm khởi đầu, khi cộng sản Bắc Việt vừa mới chiếm được miền Nam, ta khó có thể tin được chỉ trong một thời gian kỷ lục mà đất nước đi xuống như thế. Văn hoá xuống cấp, đạo đức suy đồi, và một dân tộc ngày nào từng kiêu hãnh về truyền thống chống ngoại xâm nay trở nên khiếp nhược đến thảm thương!

* * *

Mọi thứ dường như đã sụp đổ, đã chạm đáy. Những công dân đầy nhân cách, mọi giá trị tốt đẹp dường như đã biến mất dưới mái nhà “xã hội chủ nghĩa”. Như bao nhiêu dân tộc lầm đường khác, người dân VN đang phải bắt đầu từ một kết thúc.

Và khởi đầu của mọi khởi đầu vẫn là con người. Là giành lại chính mình - giành lại cuộc sống con người đúng nghĩa của chính mình. Tôi trộm nghĩ Kiến nghị 72, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam,... đang là những đấu trường để mỗi người dân Việt từng bước dài quay lại điểm khởi đầu danh dự ấy. Chúng ta hãy cùng nhau chứng tỏ với thế giới rằng người dân Việt Nam đang khao khát “được sống như một con người” mãnh liệt đến dường nào./.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.