Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Cuối Cùng Cũng Phải Chia Ly với Lê Thiệp

16/07/201300:00:00(Xem: 4588)
Điều những người thân, quen, bạn hữu quý mến anh Lê Thiệp lo sợ cuối cùng rồi cũng xảy ra. Anh Lê Thiệp đã vĩnh viễn từ bỏ mọi người.Anh Lê Thiệp là một cựu hoc sinh Chu Văn An của miền Đông Bắc Hoa Kỳ

Anh ra đi vào buổi sáng, một ngày quang đãng thật đẹp. Anh đi nhẹ nhàng như thiếp vào cõi mộng (theo lời kể của người bạn thân, BS Hoàng Xuân Trường). Đối với tôi, ra đi như vậy là nhất. Không đau đớn, vật vã, cũng không kéo dài cái giây phút đau lòng cho người ở lại.

Tôi đã biết nhiều về anh Lê Thiệp qua cuốn bút ký Lững Thững Giữa Đời do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ấn hành.

Kỷ niệm đẹp nhất về tuổi thơ của anh là những giây phút ngồi trên lòng bố dưới gốc bích đào ở góc sân nhà. Bước vào tuổi thiếu niên, thì hình ảnh thoáng qua như in đậm nét trong tâm hồn chàng trai mới lớn cũng là những bông hoa đào vẽ rải rác trên vạt áo dài thiếu nữ mà anh thoáng gặp trước tiệm Mekong ở Đà Lạt, để rồi sau đó biến thành mối tình “thuở thiếu thời đầy hoa mộng”.

Cuối cùng anh lại được sống ở một vùng có hoa anh đào nở rực rỡ vào những ngày xuân thật đẹp, suốt gần ba mươi năm cho tới khi anh vĩnh biệt cõi trần.

Vì quá yêu hoa đào và có nhiều kỷ niệm với hoa đào nên trong chuyến về thăm Việt Nam, đi chơi Đà Lạt, anh thấy những cây hoa đào èo uột, lơ thơ quá, anh bỗng có ước vọng muốn Đà Lạt có rừng hoa anh đào rực rỡ như bờ sông Potomac của Thủ đô Hoa Kỳ. Anh đã quyết định làm một việc không ai tưởng tượng được.

Năm 2009, giữa mùa đông giá rét, trước Lễ Giáng Sinh có ba ngày, anh đã lái xe xuống tận một vườn ươm cây ở North Carolina để mua 230 gốc đào gởi về Việt Nam cho người bạn đem trồng ở Đà Lạt. Lý do anh phải vất vả lái xe trong tuyết lạnh như vậy vì hoa đào phải trồng đúng thời điểm nó mới đơm hoa. Dù đã cẩn thận tính kỹ như vậy nhưng cho tới giờ này khi anh đã từ biệt cõi trần, 230 cây đào của anh vẫn chỉ có lá xanh um chứ chưa có một bông hoa nào cả. Người ta bảo có thể vì khí hậu Đà Lạt khác với khí hậu bên Mỹ.

Nhìn bề ngoài anh Lê Thiệp có vẻ cứng cỏi, phong trần, ít ai tưởng tượng anh có thể làm một việc như vậy. Bỏ bao nhiêu là tiền bạc, công sức, cho một ước muốn quá sức lãng mạn.

Hình như trong tâm hồn anh vẫn còn nguyên vẹn cái ngông nghênh bất cần đời của thời trai trẻ,.

Đường công danh sự nghiệp anh đã là một phóng viên, một nhà báo, một nhà văn nổi tiếng và trong thương trường anh đã rất thành công với công ty phở 75. Đời sống gia đình, anh rất hạnh phúc với người vợ trẻ đẹp và ba đứa con ngoan đã thành đạt. Tóm lại anh có đủ tất cả những điều mà người đời mong muốn.

Lần cuối cùng tôi gặp anh Lê Thiệp là ngày ra mắt những tác phẩm mới của tủ sách Tiếng Quê Hương. Anh Lê Thiệp được mời lên nói chuyện. Rất tự nhiên, không giấu diếm, anh nói về căn bệnh hiểm nghèo của mình, bệnh ung thư gan, mới phát hiện nhưng đã tới thời kỳ chót. Anh nói một cách bình thản, pha chút khôi hài cố hữu rất có duyên của anh. Nghe anh nói, tôi biết anh đã can đảm chấp nhận định mệnh của đời mình. Quả là thái độ của một nguời đàn ông can truờng, đáng nể.

Vợ chồng tôi quen biết anh chị Lê Thiệp khá lâu. Nhớ lại một buổi tối thật vui tại một tiệm ăn Ý ở Reston. Anh chị Lê Thiệp, anh chị Hoàng Xuân Trường, vợ chồng tôi và hai người bạn nữa. Vừa ăn cơm vừa nói chuyện, ngồi gần tới giờ đóng cửa tiệm mà chuyện vẫn chưa dứt. Cả bọn lại phải về nhà anh chị Lê Thiệp uống cà phê, ăn bánh ngọt để tiếp tục, chuyện vẫn nổ như pháo rang. Cuối cùng nhìn đồng hồ khuya quá, đành phải chia tay.


Tôi với anh Lê Thiệp cũng có duyên văn nghệ với nhau. Tôi đã làm MC cho buổi ra mắt tác phẩm đầu tiên của anh ở hải ngoại. Cuốn truyện dài Đỗ Lệnh Dũng. Cùng làm MC với tôi là nhà báo Phạm Trần. Đứng bên cạnh nhà báo gạo cội, tôi cũng hơi run. Tuy nhiên mọi việc cũng trôi qua một cách suôn sẻ.

Hôm đi dự buổi ra mắt sách Những Cánh Hoa Dại Màu Vàng của tôi, anh Lê Thiệp nói đùa: “Kỳ tới ra mắt sách của tôi là chị phải lo từ A tới Z đấy nhé”.

Ai ngờ, tập bút ký Lững Thững Giữa Đời của anh chưa kịp ra mắt thì anh đã bỏ đi rồi.

Nói về tập bút ký này, có nhiều bài rất hay và có giá trị về lịch sử làm báo. Bao nhiêu kỷ niệm của cả một thời gian dài trước 1975 trong làng báo chí. Nhưng bài ký tôi thích nhất lại là bài nói về kỷ niệm với người bạn thâm giao, ông Đỗ đình Duyệt, một tên tuổi quen thuộc của vùng Hoa Thịnh Đốn. Anh viết về lần đến thăm anh Duyệt vào một buổi trưa hè, anh Duyệt ở một nơi xa thành phố trong một trang trại ở miền quê. Hai ông ngồi uống rượu, nhâm nhi món ve rang giòn do chính tay anh Duyệt chế biến với tất cả nghệ thuật khéo léo. Tôi thích bài viết này vì anh Lê Thiệp viết thật hay và dùng chữ thật khéo.

Để tả cái thú vị khi “xơi” một chú ve rang giòn. Anh viết như sau: “Bỏ một con ve óng vàng vào miệng mà như cuộn gọn thời gian lại. Cái giòn tan thanh tao lẫn với hương thơm của rễ cây, của trời đất như thấm vào tận đáy lòng.”

Làm sao anh Đỗ đình Duyệt có thể tìm được người bạn nào biết thưởng thức con ve rang giòn của anh với cái cảm nhận tinh tế như anh Lê Thiệp.

Tri kỷ đi rồi, chắc anh Đỗ đình Duyệt sẽ buồn lắm!

Trong bài này có đoạn anh Duyệt bùi ngùi nói với anh Thiệp: “Ngần này tuổi rồi, bạn bè cũng vơi gần hết. Nhớ năm nào, ngày xưa còn ông đại tá Nguyễn Bé, ông này cũng làm một mẻ ve rang với tôi, vậy mà ông ấy qua đời cũng gần hai mươi năm rồi. Lại sắp sửa giỗ Ngọc Dũng nữa”.

Anh Duyệt ơi, một ngày nào, có người bạn ghé qua thăm anh, hai người lại ngồi nhậu ve rang giòn với nhau chắc chắn anh sẽ nhớ anh Lê Thiệp nhiều lắm. Tôi như đang nghe thấy anh lại ngậm ngùi nói với người bạn: “Nhớ ngày nào Lê Thiệp còn ngồi đối ẩm, ăn ve rang giòn với tôi, vậy mà…”

À, tôi phải hỏi thêm anh, trong bài này, anh Lê Thiệp có viết, ngày ấy khi tiễn anh Lê Thiệp về, anh đã ân cần nắm tay anh Thiệp nói: “Tôi vừa gầy đuợc một bè rau rút nhỏ. Sang tháng ông xuống, ta làm một bữa rau rút chấm muối vừng. Có khi lại hay”.

Sau đó có khi nào anh Lê Thiệp trở lại ăn rau rút chấm muối vừng với anh chưa?

Nếu rồi, năm nay anh cố gầy một bè rau rút nữa. Khi nào rau rút mọc đủ ăn, anh nhớ cho vợ chồng tôi xuống ăn rau rút chấm muối vừng với anh nhé. Thú thật với anh, tôi thèm và nhớ rau rút lắm! Từ ngày xa quê hương, tôi chưa từng đuợc ăn lại rau rút nên nhớ rau rút vô cùng.

Vợ chồng tôi và anh, chúng mình sẽ cùng ăn rau rút để nhớ về anh Lê Thiệp, chứ tôi không dám ăn món ve rang giòn của anh đâu. Tôi thấy tội nghiệp mấy con ve lắm. Vả lại, chắc anh cũng không muốn làm món ve rang giòn nữa, bởi vì có ai biết thưởng thức món ăn đó với cả tâm hồn tinh tế, nhậy cảm như ông bạn Lê Thiệp của chúng ta đâu.

Kỷ niệm ngày tiễn đưa Lê Thiệp

Hồng Thủy

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.