Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Thế Giới Và Bầu Cử Hoa Kỳ

18/09/200400:00:00(Xem: 11115)
Đối với dư luận thế giới, George W. Bush là người ngang ngược và hơi... nhà quê. Nếu ông thắng, họ sẽ kết luận - như đa số truyền thông Hoa Kỳ - là vì dân Mỹ nhà quê. Họ lầm to.
Hoa Kỳ là siêu cường kinh tế, quân sự và chính trị, cho nên gần 300 triệu dân Mỹ mặc nhiên chi phối thế giới qua những chọn lựa chính trị của họ. Vì vậy, nếu thế giới có quan tâm theo dõi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ thì cũng là bình thường. Nếu có thể thì chính quyền nhiều quốc gia cũng muốn tác động vào cuộc bầu cử trong khi vẫn phải giữ thái độ công khai trung lập để khỏi mang họa khi đánh bạc lầm cửa.
Khi theo dõi tình hình tranh cử, qua truyền thông loại "toàn quốc", "ưu tú", "già" (ba đài truyền hình toàn quốc ABC, CBS và NBC và bốn nhật báo lớn là USAToday, Wall Street Journal, New York Times, và cả Los Angeles Times - tạm gọi là lớn và toàn quốc), các nước có ấn tượng không đẹp với chính quyền Bush và thấy Nghị sĩ John Kerry có vẻ văn minh, ôn hoà và có tinh thần quốc tế hơn. Cảm tình đó của quốc tế lại dội ngược vào xã hội Mỹ, cũng qua hệ thống truyền thông "toàn quốc", và gây ấn tượng cho một số dư luận Mỹ (và có khi cả truyền thông của các sắc dân thiểu số) là thế giới ủng hộ ông Kerry hơn ông Bush.
Thực ra, thế giới biết rất mù mờ về xã hội Mỹ, và chính quyền các nước có ảnh hưởng rất ít đến cuộc bầu cử, kể cả những quốc gia muốn ủng hộ Liên danh Kerry. Và sự thật có khi là họ không thất vọng nếu Bush tái đắc cử. Tại sao lại có nghịch lý này"
Thế giới hiểu lầm xã hội Mỹ
Nếu so với nhiều sắc dân khác, người Mỹ có thể có sự hiểu biết dưới trung bình về địa dư và lịch sử, nhất là của những vùng đất nằm ngoài Hoa Kỳ. Họ không biết và có khi chả cần biết, làm nhiều quốc gia bị khốn đốn vì những quyết định của họ. Ngược lại, thế giới bên ngoài cũng không hiểu những phức tạp của xã hội Hoa Kỳ. Nhiều người sinh sống mấy thập niên tại Mỹ còn chưa thấy hết những khúc mắc của tiến trình quyết định chính trị trong một quốc gia theo thể chế liên bang có đầy mâu thuẫn, và luôn luôn thay đổi. Huống hồ là người sinh sống ở bên ngoài. Tai mắt của thế giới là giới ngoại giao quốc tế làm việc tại Hoa Kỳ thì cũng tập trung tại Washington DC và New York, theo dõi tình hình xứ này qua những luận bàn của truyền thông miền Đông Bắc, và không hiểu hết tâm lý dân Mỹ ở các vùng xa xôi khác.
Một thí dụ là đến hơn 80% các chủ biên và bỉnh bút chính trị loại "toàn quốc", tức là có uy tín và ảnh hưởng, đều thiên về đảng Dân chủ (tại Thủ đô Washington, tỷ lệ này là 12/1). Ngẫu nhiên chăng mà khi được tham khảo ý kiến thì hơn 80% dân Âu châu (kể cả tại Anh, đồng minh chí thiết của Hoa Kỳ) ủng hộ Kerry. Thực tế thì tỷ lệ ủng hộ Dân chủ với Cộng hoà trong xã hội Mỹ vẫn chỉ ngang ngửa bằng nhau. Cho nên nói rằng truyền thông thiên tả hơn xã hội là không sai, mà thế giới bên ngoài lại không thấy.
Một thí dụ khác là tình hình Ohio, một tiểu bang tiêu biểu cho sự đa diện và phức tạp của xã hội Mỹ. Nằm trong lục địa, Ohio có kích thước trung bình, gồm 11 triệu dân với 20 phiếu cử tri đoàn (so với 55 của California, 34 của Texas và 31 của New York). Ohio tiêu biểu vì là nơi mà, trong lịch sử Mỹ, không ứng viên nào đắc cử tổng thống nếu không thắng cử tại đây. Từ 2001, tiểu bang bị thất nghiệp nặng vì hai hiện tượng: suy trầm kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ chế biến lên dịch vụ. Cả hai liên danh Bush và Kerry đều ráo riết vận động cử tri ở đây và 45 ngày trước bầu cử, ngược với dự đoán của truyền thông, Bush đang dẫn đầu với gần 10 điểm.
Lý do là tiểu bang nhỏ này gồm năm khu vực có những khác biệt lớn.
Vùng Đông Bắc kỹ nghệ bị thất nghiệp nặng nên Kerry có hy vọng. Vùng Đông Nam nghèo nàn thì lại bảo thủ về đạo đức xã hội nên không ưa Kerry với chủ trương cho phá thai và ủng hộ hôn nhân đồng tính. Vùng Trung tâm (có thủ phủ Columbus) thì phóng khoáng hơn về luân lý xã hội nhưng dẫn đầu về công nghiệp tiên tiến nên thấy việc giảm thuế và nâng đỡ doanh nghiệp của Bush là hấp dẫn. Vùng Nam sống nhờ nông nghiệp nên không ưa dáng vẻ "quốc tế" lẫn chủ trương bảo hộ mậu dịch của Kerry và theo dõi kỹ quyết định tự do mậu dịch của chính quyền Bush với... Trung Quốc. Vùng Tây Nam thì tiêu biểu cho các tiểu bang miền Nam: ưa tính anh hùng cá nhân, chơi súng, sùng đạo và rất đồng ý với lập trường đầy dương tính của Bush.
Dáng dấp và luận điệu thiên tả miền Đông-Bắc của John Kerry không hấp dẫn loại cử tri mà trí thức Âu châu ưa đọc tờ Le Monde, Le Nouvel Observateur hay New York Herald Tribune (liên doanh của tờ New York Times và Washington Post, xuất bản tại Paris) có thể gọi là "nhà quê", "Mỹ ruộng", thiếu văn hoá, kém tinh tế, v.v...
Thành phần cử tri này sẽ chọn nhân vật lãnh đạo siêu cường thế giới.
Cũng cần nói ngay là vì sự chuyển dịch dân số, âm thầm mà mãnh liệt, từ 1960 đến nay (từ Kennedy), không ứng viên nào, nhất là xuất thân Nghị sĩ, từ vùng Đông Bắc lại đắc cử tổng thống. Giới chính trị của vùng đất quý tộc mà già nua này thiên về Âu châu, chú trọng vào quan hệ Đại Tây Dương, và nhìn vào quá khứ, trong khi Hoa Kỳ đã thay đổi.
Thay đổi lớn nhất là vụ khủng bố 9-11.
Vì vậy, thế giới ngày nay đang gặp một nghịch lý lớn là bị chi phối bởi một cuộc bầu cử mà ít ai ở bên ngoài hiểu rõ. Cũng do sự hiểu lầm này mà trong mùa tranh cử Hoa Kỳ, nhiều xứ đã bị hố.
Hoa Kỳ đã thay đổi trong một thế giới đã đổi thay
Không chỉ chính quyền Bush mà cả xã hội Hoa Kỳ đã thay đổi thế giới quan sau vụ khủng bố, ngày nay đa số dân Mỹ coi an ninh là vấn đề nghiêm trọng, khác hẳn tâm lý của họ trong các cuộc bầu cử từ hơn nửa thế kỷ vừa qua. Chính quyền Bush đi trước và đi mạnh hơn dư luận khi coi khủng bố là vấn đề chủ đạo của chánh sách đối ngoại (ngoại giao và an ninh chiến lược). Từ kế hoạch tái phối trí quân lực, rút quân khỏi Nam Hàn và Đức, tới các hiệp định về mậu dịch, với Thái Lan hay Úc Đại Lợi chẳng hạn; từ quyết định sẽ xoá hết nợ cho 27 quốc gia nghèo nhất tới việc đặt Saudi Arabia vào thành phần "đặc biệt đáng quan tâm" vì vi phạm tự do tín ngưỡng; từ việc sẽ bãi bỏ lệnh trừng phạt Lybia đến chánh sách ngoại giao với Pháp, Đức hay viện trợ cho Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) và Phi Luật Tân (Philippines), v.v... tất cả đều quy vào nhu cầu chống khủng bố. Những vấn đề không trực tiếp liên hệ đến chiến tranh chống khủng bố đều trở thành phụ thuộc.
Ông Bush có thể sai hay đúng trong thái độ ấy, chuyện này không quan trọng bằng sự thể là thái độ ấy của Hoa Kỳ đang thực tế chi phối quan hệ quốc tế.
Tất nhiên là chẳng xứ nào lại ưa con đường độc đạo này và nhiều xứ còn khó chịu ra mặt khi Hoa Kỳ giàng mọi quyết định về ngoại giao, kinh tế, mậu dịch, viện trợ vào một vấn đề như vậy. Cấu trúc bang giao của thế giới, điển hình là vai trò của Liên hiệp quốc, của Minh ước NATO, hoặc vị trí của các "đại cường già nua", "đồng minh lâu đời" như Pháp và Đức, thậm chí vai trò của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, được xây dựng từ Thế chiến II và phát triển trong thời Chiến tranh lạnh, nay đã bị đảo lộn. Sự thật phũ phàng là dù Pháp hay Đức có ủng hộ chính quyền Bush trong vụ Iraq thì Hoa Kỳ vẫn quan tâm đến quan hệ với Pakistan hay Saudi Arabia hơn.
Đa số các nước thảy đều muốn khỏi bị liên lụy đến chuyện khủng bố, một số chính quyền còn mong là khỏi phải góp phần xương máu cho cuộc chiến do Hoa Kỳ lãnh đạo. Nhiều quốc gia lại thấy Bush ngang ngược và họ luyến tiếc trật tự cũ: chỉ vì khủng bố mà Bush xoá bỏ quân bình của thập niên 90 - trùng hợp với tám năm của Bill Clinton. Đó là khi Chiến tranh lạnh đã kết thúc khiến họ hết sợ Liên xô và hết cần Hoa Kỳ mà vẫn duy trì được tư thế đại cường tới độ luận bàn với nhau về một thế giới đa cực làm lực đối trọng với Mỹ. Vẻ hòa nhã lém lỉnh và sự trì hoãn đối phó với khủng bố trong tám năm của Clinton khiến nhiều nguyên thủ quốc gia càng có ác cảm với Bush vì tính khí quyết liệt lẫn lý luận một chiều.
Trong thái độ ấy, ta thấy lẫn lộn nhiều yếu tố tâm lý, kể cả phản ứng tự ti khi bị Mỹ ép mà phải nhượng bộ, lẫn mặc cảm tự tôn khi cự tuyệt rằng họ mới biết cách xử lý với khủng bố, tinh khôn và ít tai hại hơn Bush. Họ đúng hay sai, ta không bàn ở đây, chỉ thấy là vì quyền lợi khách quan của các nước, Hoa Kỳ đang mất nhiều bạn cũ.
Phải chăng vì vậy mà nhiều lãnh tụ thế giới đang thầm mong là Kerry sẽ đánh bại Bush" Chuyện không đơn giản như vậy.
Thế giới trước trận thư hùng Bush-Kerry
Ông Bush lên cầm quyền từ Tháng Giêng năm 2001 và Hoa Kỳ thay đổi đối sách ngoại giao từ tháng 11 năm 2001, hai tháng sau vụ khủng bố. Từ đó đến nay đã gần ba năm. Trong suốt thời gian đó, dù muốn dù không, lãnh đạo nhiều nước đã có những chọn lựa về đối ngoại, với nhiều ảnh hưởng về nội chính. Thủ tướng Anh, Úc và Ý, gặp nhiều áp lực nội bộ vì lập trường chủ chiến theo Bush, Thủ tướng Đức tái đắc cử nhờ lập trường chống Mỹ, Tổng thống Pakistan gây hấn với xu hướng Hồi giáo cực đoan trong nước vì ủng hộ Mỹø tại Afghanistan.... Thay đổi chính quyền tại Hoa Kỳ có thể dẫn tới thay đổi về ngoại giao của Mỹ khiến họ lập tức bị đối phương hỏi tội trong khi vẫn phải duyệt lại chánh sách đối ngoại. Một cơn ác mộng chính trị.
Trong thâm tâm, nhiều lãnh tụ thế giới có thể không ưa tánh khí của Tổng thống Mỹ nhưng lại không vui gì với một viễn ảnh xoay chiều của Hoa Kỳ. Họ vừa muốn vừa ngại một đổi thay chính trị tại Mỹ. Đâm ra họ theo dõi chuyện tranh cử tại Mỹ với cái tâm bất an. Và lại có khi cái trí không sáng, vì chưa chắc đã hiểu rõ những uẩn khúc bên trong vụ tranh cử tại Hoa Kỳ.

Nghị sĩ John Kerry nêu ra lập luận là chính quyền Bush có thái độ đơn phương thay vì vận động sự tham gia của các nước trên thế giới. Thực tế thì nhiều lãnh tụ thế giới còn mừng vì lấy đó làm lý cớ thoái thác, để khỏi dây máu mắc vạ với khủng bố. Trong khi nhiều lãnh tụ khác thì biết rõ là trong suốt cả năm trời, từ đầu năm 2002 đến đầu năm 2003 và sau đó, họ đã được Hoa Kỳ kêu gọi hoặc bị Hoa Kỳ bẻ tay yêu cầu tham gia chiến sự. Trước sau, có hơn ba chục nước đã vui lòng hay miễn cưỡng nhập cuộc.
Đối với nhiều lãnh tụï, dường như Kerry chỉ nhìn thấy lập trường của Pháp và Đức rồi coi đó là tiêu biểu cho thế giới trong khi khinh miệt sự tự nguyện của họ hoặc không hiểu gì về những khó khăn của họ khi họ từ chối không được. Đối với họ, John Kerry là thằng Cuội trên Cung trăng, tách rời khỏi thực tế phức tạp của quan hệ quốc tế và nếu Kerry lên lãnh đạo, Hoa Kỳ sẽ lên quỹ đạo không tưởng, còn bất trắc và nguy hiểm hơn những gì Bush đang đề nghị.
Khổ một nỗi, Kerry bị oan.
Ông ta đang đi tranh cử và nói chuyện với cử tri Mỹ để tìm cách lên làm tổng thống. Kerry đang tìm lập luận đắc cử và nói đến một trật tự quốc tế đa phương và hiền hòa hơn chủ trương mà ông gọi là đơn phương và hung hãn của Bush. Nhìn từ bên ngoài, đó là trật tự mà Pháp và Đức đề cao, trái ngược với lập trường của đa số còn lại trong Liên hiệp Âu châu. Nhìn từ Anh, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp, trật tự đó là sự khống chế của Pháp-Đức, với hậu thuẫn của Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Kerry. Một viễn ảnh không mấy hấp dẫn!
Thực ra, các nước đều thầm mong Hoa Kỳ đơn phương ôm súng đi diệt trừ khủng bố cho họ yên thân. Liên hiệp quốc, tổ chức cán sự xã hội toàn cầu, cũng chỉ mong là Mỹ khỏi đòi gửi công chức quốc tế vào giám sát bầu cử tại Afghanistan hay xây dựng trường học tại Iraq. Bất cứ một vụ khủng bố nào cũng là lý do tháo chạy, dưới lá cờ chống Bush đơn phương, rằng tấn công Iraq là "phạm luật", như Tổng thư ký Kofi Annan vừa phát biểu! Nếu chưa thấy đủ, hãy nhớ đến lập trường kỳ lạ của Manila: Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo đã tái đắc cử mà khi bị khủng bố bắt giữ con tin thì vẫn rút khỏi Iraq trong khi chính công nhân viên chức Philippines lại biểu tình đòi vào Iraq kiếm việc.
John Kerry không hiểu thế giới mà thế giới cũng không hiểu Hoa Kỳ.
Hai quan niệm đối nghịch
Trong cuộc tranh luận Bush/Kerry ở Hoa Kỳ, cả hai đều đồng ý là Hoa Kỳ không nên tham chiến một mình. Vì lý do khách quan của địa dư, Hoa Kỳ không thể can thiệp têân toàn thế giới nếu không có căn cứ hay tiền trạm quân sự, cho nên việc hợp tác với các xứ khác là một đòi hỏi của thực tế. Lãnh đạo không hiểu vậy thì các tướng lãnh sẽ giải thích cho rõ khi nói đến vấn đề tiếp liệu, tình báo và an ninh.
Khác biệt chính ở đây là triết lý hợp tác, hoặc tinh thần liên minh.
George W. Bush cho là hệ thống liên minh quốc tế được xây dựng trên quan niệm hỗ tương về quyền lợi, và tồn tại trên cơ sở của quyền lợi. Đó là phương tiện của các nước, mục tiêu là quyền lợi thỏa đáng của từng thành viên trong liên minh. Vì vậy, liên minh Âu-Mỹ như một phương tiện vắt ngang Đại Tây Dương đã hoàn tất mục tiêu của thời Chiến tranh lạnh, nay không còn cần thiết như xưa. Ngược lại, Hoa Kỳ phải xây dựng một thế liên minh khác, nằm rất xa Âu châu, trải dài từ Trung Đông qua Trung Á tới Đông Nam Á và Úc Đại Lợi.
John F. Kerry nghĩ khác.
Ông cho là liên minh Âu-Mỹ xây dựng trong nửa thế kỷ Chiến tranh lạnh phải là kiến trúc nền tảng cho quan hệ quốc tế. Nó là mục tiêu chứ không là phương tiện. Bush có tội khi xóa bỏ liên minh đó và xúc phạm các đồng minh cố cựu là Pháp Đức.
Nhìn từ Úc, với nguy cơ khủng bố và thuyền nhân từ Nam Dương đổ xuống, hay nhìn từ Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, Ấn Độ, với các vấn đề cục bộ trong vùng, hoặc nhìn từ các nước Đông Âu cũ nay là Âu châu mới, quan niệm đó của Kerry còn tệ hơn chủ nghĩa "duy Mỹ" (U.S. centrist). Nó "duy Âu" (Euro-centrist) nhuốm mùi Yalta, khi các đại cường phân chia thế giới làm hai khối, phó mặc cho các xứ chết kẹt ở giữa. Họ cho là Kerry có thể là Tổng thống của một xứ Âu-Mỹ hoang tưởng, một khu vực không dính dáng gì đến những quan tâm về an ninh hay quyền lợi của họ.
Từ triết lý liên minh (là phương tiện hay mục tiêu) còn phát sinh ra một dị biệt khác. Vì liên minh thành lập trên cơ sở quyền lợi, Bush cho là nó tồn tại khi các thành viên tương nhượng lẫn nhau theo tính toán lợi-hại, muốn cái này thì phải chấp nhận hy sinh cái khác. Nếu thấy lời ít lỗ nhiều thì thôi, mỗi nước giải quyết mục tiêu của mình theo một cách. Hoa Kỳ không thể để bị ràng buộc bởi loại liên minh đó khi lợi bất cập hại. Các nhà đạo đức gọi đó là "ngoại giao con buôn". Ngược lại, Kerry cho là sự ràng buộc đó là cái giá phải trả để gìn giữ thế liên minh này. Vì vậy, ông được cảm tình của nhiều người lý tưởng - và nhất là của các nước hưởng lợi nhờ thế liên minh đó.
Nhìn từ bên ngoài, thế giới không hiểu được tinh thần của cuộc tranh luận đó.
Một cách nông cạn, người ta cho rằng Hoa Kỳ luôn bị giằng xé giữa hai xu hướng đối ngoại, một bên là xu hướng tự cô lập và tránh can thiệp vào chuyện thiên hạ, bên kia là xu hướng quốc tế, ưa can dự vào chuyện thế giới.
Thực ra, sau hai cuộc đại chiến của thế kỷ 20, tuyệt đại đa số các lãnh tụ đều hiểu là nếu không lý vào thiên hạ sự thì các vấn đề của thiên hạ vẫn tác động vào Hoa Kỳ. Từ các đại trí thức cố vấn về an ninh đối ngoại cho John Kennedy, Lyndon Johnson, Richard Nixon, Jimmy Carter đến Ronald Reagan hay hai đời Bush lẫn Bill Clinton, giới lãnh đạo về đối ngoại Hoa Kỳ đều thuộc trường phái "quốc tế".
Tranh luận nếu có là giữa hai khảo hướng (approach) khác nhau của cùng một chủ trương can thiệp.
Một bên cho là các định chế quốc tế hay liên minh là mục tiêu và nền tảng an ninh của Hoa Kỳ. Bên kia thì cho rằng quyền lợi Hoa Kỳ mới là tối thượng. Huống hồ nước Mỹ đang bị khủng bố tấn công, trước sự bất lực của các định chế quốc tế, từ Liên hiệp quốc trở đi.
Từ khác biệt đó mới nổ ra vụ tranh luận về Iraq. Kerry đồng ý là trên cơ sở của những thông tin đã có về chế độ Saddam Hussein, Tổng thống Mỹ có quyền khai chiến. Tuy nhiên, trong quyết định khai chiến thì cũng nên nhịn nhục mà tham khảo và vận động thế giới, cụ thể là Liên hiệp quốc và Pháp Đức, theo tinh thần "ném chuột phải sợ vỡ đồ cổ". Bush, con người mang tiếng là ngang tàng kiểu Texas, rất ruộng nếu nhìn từ Âu châu, thì không. Không có mợ thì chợ vẫn đông, và dù đèn vàng đã bật vẫn nhấn ga xông tới. Mục tiêu đối ngoại của Hoa Kỳ nay là diệt trừ khủng bố, không phải là gìn giữ Liên hiệp quốc hay giao tình lâu đời với các đồng minh đang chỉ tìm cơ hội trục lợi.
Thế giới có khi không nhìn ra khác biệt này, nhưng, điều đó không quan trọng đối với cử tri Hoa Kỳ. Họ bỏ phiếu khi nhìn vào túi tiền hay sự an nguy của gia đình hơn là tham khảo ý kiến của các thầy bàn quốc tế.
Thực tế xã hội Mỹ
Trong địa hạt đối ngoại, các phần tử gọi là trí thức ưu tú của Hoa Kỳ, các hàn lâm viện sĩ và giới ngoại giao lão thành (tức là về hưu hay thất nghiệp) thì thiên về trật tự cũ, khi họ còn uốn ba tấc lưỡi để nói đến một thế giới đại đồng và an bình, dựa trên cấu trúc của liên minh quốc tế. Họ có thể ở bên đảng Cộng hòa, như Henry Kissinger, George Shultz, Brent Scowcroft. Đa số thì ở trong đảng Dân chủ, trong Atlantic Council, hội viên của Council of Foreign Relations, viết tiểu luận trong tạp chí Foreign Affairs, hoặc làm tư vấn kinh doanh quốc tế, kiếm tiền nhờ quan hệ quốc tế ôn tồn và văn minh.
Thế giới bên ngoài không hiểu là quan điểm của họ, và của John Kerry ngày nay, chỉ là quan điểm thiểu số. Hoa Kỳ luôn luôn có chủ trương thực dụng hơn hẳn lý luận của giới khoa bảng lý tưởng. Hai xu hướng lý tưởng và thực tiễn chỉ đôi khi nhất trí: trong Thế chiến II và vào buổi giao thời 1991-2001, khi các định chế quốc tế còn có lợi cho quyền lợi Mỹ.
Ngày nay, Osama bin Laden đã xoá bỏ thế quân bình dễ chịu đó. Và George W. Bush chứ không phải Al Gore lại làm Tổng thống.
Lập trường của Bush phù hợp với quyền lợi Hoa Kỳ trong lúc này, cử tri Mỹ nghĩ vậy, dù có thể không đồng ý với ông về rất nhiều vấn đề khác. Đây là lý do vì sao dù đã phạm nhiều sai lầm và gặp nhiều rủi ro, Bush vẫn ngang ngửa với Kerry và càng ngày càng thắng điểm cho tới khi thắng cử. John Kerry thất bại vì chỉ rất rõ một việc là thèm làm tổng thống, ngoại giả thì mơ hồ, thời cơ và lụp chụp. Đó là chuyện nội bộ Hoa Kỳ.
Từ bên ngoài, vì sao thế giới lại mơ hồ về chuyện tranh cử Hoa Kỳ" Vì giới lãnh đạo các nước cũng chỉ nhìn thấy quyền lợi cục bộ của mình: "Hoa Kỳ hốt hoảng vì khủng bố như vậy, mình xử trí thế nào để có lợi nhất"" Từ đó, họ bọc xuôi theo áp lực của Hoa Kỳ, của Bush, và ngày nay dù có cảm tình với Kerry vẫn cho rằng Bush sẽ thắng cử. Với lý luận là dân Mỹ nhà quê sẽ bầu cho lãnh tụ nhà quê.
Về tâm lý, họ ngao ngán với sự thể đó nhưng về lý trí thì tự an ủi, rằng thà vậy còn hơn. Vì John Kerry bị mắc nợ với rất nhiều thành phần cử tri khác biệt, từ phản chiến đến bảo hộ mậu dịch, cho nên nếu thắng cử thì sẽ có chủ trương đối ngoại mâu thuẫn, bất nhất và dễ thay đổi hơn kiểu đơn phương và đơn điệu của George Bush.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.