Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Ba Cung Nức Nở

11/09/200400:00:00(Xem: 4108)
Tưởng niệm Milosz

(Gửi PHT
Jennifer Tran)

Helen Vendler, trên tờ Điểm sách New York, số đề ngày 31 tháng Năm, 2001, qua bài viết “Nức nở bằng ba giọng” (A lament in three voices) cho rằng, đôi khi, một bài thơ mãnh liệt đến nỗi phá bung mọi câu thúc về ngôn ngữ, địa lý, và thời đại. Và theo tác giả, đó là trường hợp bài thơ Hoang Địa (The Waste Land) của Eliot.
Đôi khi: Hoang Địa được viết năm 1922. Bây giờ, theo Helen Vendler, lại có một bài thơ mãnh liệt chẳng kém. Đó là Luận về thơ (Treatise on Poetry), của Milosz (sinh năm 1911, Nobel văn chương 1980). Nguyên bản tiếng Ba Lan, bản dịch tiếng Anh do nhà thơ Robert Haas và chính tác giả (nhà xb Ecco, 2001).
Đôi khi: Treatise được viết thời gian 1955-1956.
***
Những độc giả tiếng Anh của Milosz đã từng sửng sốt, vào năm 1988, khi một đoạn chừng năm trang của bài thơ trên xuất hiện trong Tuyển tập Thơ của ông. Họ nhận ra rằng, ở một nơi chốn nào đó tại Ba Lan có cất giấu một cõi thơ, được ấp ủ bởi một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Cõi thơ đó nói gì về thời trai trẻ của người coi vườn, tức thời kỳ trước chiến tranh" Về thơ Ba Lan" Về thế giới" Về chiến tranh mà Milosz chứng kiến tận mắt tại Ba Lan bị Đức chiếm đóng" Về nghệ thuật, nói chung" Về những rằng buộc của người nghệ sĩ" Về mối liên hệ giữa chất (matter) chính trị và dạng (form) mỹ học"
Đó là những đề tài mà Milosz quan tâm, ai đọc thơ ông đều nhận ra, nhưng chưa có một bài thơ nào mãnh liệt ôm lấy tất cả những đề tài trên, và cùng lúc muốn bung ra, như là Treatise on Poetry.
Khi viết Treatise, Milosz ở giữa cuộc đời (44 tuổi), một quãng đời cực kỳ bất trắc, cực kỳ khốn đốn về tiền bạc, và cảm xúc cực kỳ căng thẳng. Ông đã đốt bỏ mọi cây cầu nối liền với nơi chốn ông ra đời, bốn năm trước đó, khi xin tị nạn tại Pháp trong khi là Bí thư thứ nhất của Toà Đại sứ Ba Lan ở Paris. Đây là một hành động thật thê lương bi đát đối với một nhà thơ, bởi vì như người ta được biết, thi sĩ thật khó mà đoạn tuyệt với ngôn ngữ của mình; và Milosz thật khó mà được cái xã hội di dân quốc gia Ba Lan ở Paris chấp nhận: họ nghi ngờ ông, một cựu viên chức ngoại giao của chế độ Cộng sản Ba Lan. Chính vào thời điểm căng thẳng, rã rời, chán ngán đó, nhà thơ xoáy sâu vào mình, những câu hỏi về chính quá khứ của riêng ông, và của văn chương Ba Lan; và từ đó bật ra Treatise, như là đỉnh cao cõi thơ ông, với tất cả quyền năng của nó.
Phần đầu, ‘Những Đoạn Đời Tuyệt Vời’ (Beautiful Times) mô tả Krakow và văn hóa Ba Lan ở vào khúc quanh của thế kỷ 19 (tiểu đề của Milosz: ‘Krakow, 1900-1914’). Phần hai, ‘Thủ Đô’ (‘The Capital’) miêu tả Warsaw (1918-1939), và đưa ra một thẩm định – giữa thi sĩ với thi sĩ - về thi ca Ba Lan trong ba hoặc bốn thập niên đầu thế kỷ, đặc biệt là sự thất bại của nó, khi không đếm xỉa tới thực tại tràn ngập phố phường (its failure to account the reality that overwhelmed that city). Phần thứ ba,‘Tinh thần của Lịch sử’ (‘The Spirit of History’), về những năm chiến tranh (1939-1945), là một suy tưởng về bản chất lịch sử, về ngôn ngữ, và về sức mạnh thô sơ… Phần thứ tư, ‘Natura’ (1948-1949), là một bước nhẩy vọt ngỡ ngàng. Chiến tranh kết thúc. Người kể chuyện ngồi trên thuyền, trên mặt hồ ở phía bắc Pennsylvania, đợi một viễn ảnh từ những cuốn sách đọc thời thơ ấu. Đây là một suy tưởng về thiên nhiên, về Âu Châu và Mỹ Châu và về vai trò của nhà thơ trong một thế giới hậu chiến.
Nhà thơ và đồng thời dịch giả Robert Haas, qua tóm tắt một nửa thế kỷ như trên – Krakow thời hoàng kim; khí hậu văn chương Warsaw những năm trước chiến tranh; Warsaw bị Nazi chiếm đóng trong thời chiến; thiên nhiên trong Thế Giới Mới hậu chiến – cho thấy ‘sự kiện’ (matter), chứ không phải ‘thái độ’ (manner) – khổ hạnh, trăn trở, bức xức – của bài thơ, theo nhận định của tác giả bài viết “Ba cung nức nở”. Nhưng chia bài thơ thành những phần như trên đã giúp chúng ta nhận ra “thái độ” của Milosz qua những chọn lựa của ông. Thí dụ như bài thơ sau đây, thời hoàng kim của Krakow [một thành phố ở Ba Lan], vào năm 1900 – những công trình tưởng niệm, những thi sĩ, những nhật báo-treo-trên gậy ở quán cà phê, những người bồi bàn của nó:
“Cabbies were dozing by St. Mary’s tower.
Krakow was tiny as a painted egg
Just taken from a pot of dye on the Easter.
In their black capes poets strolled the streets.
Nobody remembers their names to-day,
And yet their hands were real once,
And their cufflinks gleamed above a table.
An Ober brings the paper on a stick
And coffee, then passes away like them
Without a name.”
(Tạm dịch:
“Những ông tài tắc xi ngủ gà bên tháp nhà thờ St. Mary.
Krakow nhỏ xíu như trái trứng mầu
Vừa lấy ra từ lọ nhuộm vào dịp lễ Phục Sinh
Trong chiếc áo choàng đen, những nhà thơ dạo phố.
Bây giờ chẳng ai nhớ tên họ,
Mặc dù đã có lần những bàn tay của họ có thực,
Và những tay áo của họ đã ánh lên trên mặt bàn.
Một Ober mang tờ báo-trên cây gậy tới


Và cà-phê, rồi bỏ đi, giống như họ
Không một cái tên”).
Bài thơ cho thấy những nét đặc biệt của Milosz khi mô tả bước đi của lịch sử bằng những hình ảnh của nó: thu nhỏ thành phố vào một trái trứng, nỗi u hoài muốn thời gian đừng trôi, đời vẫn đẹp như thuở nào (‘chẳng ai còn nhớ…’), sức nóng bỏng của chi tiết (‘những tay áo ánh lên’), bước chuyển từ quá khứ vào hiện tại gần như chẳng ai có thể nhận ra (những bàn tay của họ ‘đã’ có lần có thực, những tay áo ‘đã’ ánh lên), một Ober mang tờ báo…/rồi bỏ đi giống như họ/Không một cái tên…. Giữa những chi tiết hình ảnh nhìn/đã nhìn đó, là nỗi bức xức của nhà thơ thời kỳ 1900-1955.
Phần hai: Thủ Đô Warsaw, 1918-1939, cho thấy nhiệm vụ của nhà thơ [Milosz] khi làm công việc ghi nhận theo kiểu biên niên, nỗ lực của văn chương, từ chủ nghĩa quốc gia Ba Lan thế kỷ 19 nhập vào dòng văn chương hiện đại thế giới. Ông nói: Ở Ba Lan, thi sĩ là một phong vũ biểu. Ông chỉ ra từng trường hợp thất bại của những thi sĩ Ba Lan, ngay cả những người mà ông mến mộ, khi họ đụng đầu với thực tại Ba Lan sau Đệ Nhất Thế Chiến:
“Chẳng thể nào có được một Nhị Thập Bát Tú!
Tuy nhiên trong những lời nói của họ có một điều gì nứt rạn
Một nứt rạn của sự hài hòa, như là ở những sư phụ của họ.
Bản đồng ca đã được thi vị hoá
Chẳng khác gì lắm, so với sự hỗn độn của đời thường.”
Sau đây là một số nhà thơ đã từng toan tính vượt thực tại thời của họ, và thất bại, được Milosz mô tả bằng những mẩu, đoạn thơ. Nhà thơ đầu tiên, Jan Lechon, tác giả bài thơ viết năm 1918, ‘Herostrates’ (từ tên một kẻ đốt dền thờ Artemis), đã quyết định từ bỏ lịch sử và chọn lựa thiên nhiên để rồi ngậm ngùi trong hoài nhớ (nostalgia); nhà thơ thứ nhì, Antoni Slonimski, dâng hiến đời mình cho chủ nghĩa duy lý thời kỳ Soi Sáng, mà theo nhà thơ, đã được bạo lực làm cho sống động, tràn trề sinh lực. Thứ ba là Julian Tuwim một nhà thơ viễn tưởng khổ vì những viễn tưởng của chính mình, cuối cùng trở thành láp nháp (rơi vào những suy tư ước lệ của chính mình). Cả ba nhà thơ đều bị vướng bẫy và rớt vào những tuyệt lộ cho chính họ tạo ra:
Lechon-Herostrates mắc bẫy quá khứ
Ông muốn nhìn mùa xuân
Chứ không phải Ba Lan.
Thế là cứ trầm ngâm cả đời về chiếc áo dài của một Ba Lan Cổ
Và những thói xưa…
Buồn, và cao cả phong nhã,
Slonimski thì sao"
Kẻ nghĩ rằng thời của lẽ phải đã điểm
Tự hiến mình cho tương lai
Xưng tựng nó
Theo kiểu của Well,
Hoặc một kiểu nào khác.
Khi bầu trời của Lý Trí đỏ như máu,
Ông ta đem những năm tháng xanh xao của mình
Cho Aeschylus…
[Tuwim] mơ những trường ca,
Nhưng tư tưởng của ông ta thì ước lệ, cũ mòn
“Vô tư” như âm điệu thơ ông.
[Bằng những thứ đó, ông muốn] choàng lên những viễn mộng của mình,
Những viễn mộng mà ông ngày càng cảm thấy hổ thẹn.
Từ những nhà thơ đặc biệt, Milosz trở qua những nhóm thơ. Nhóm tiền phong bị phế bỏ vì bị coi là thoái hoá, cuối cùng ôm lấy bóng trăng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, cộng thêm ý thức quốc gia hư ruỗng. Rồi tới nhóm những nhà thơ hò theo Stalin, dửng dưng trước những tội ác của ông trùm đỏ, tiêu biểu là nhà thơ Lucjan Szenwald, ‘một trung uý Hồng quân’, mặc dù niềm tin bị xúc phạm, vẫn viết ra những vần thơ ‘tốt’:
“Thi ca chẳng mắc mớ gì tới đạo đức,
Như Szenwald, một trung uý Hồng quân đã chứng tỏ.
Vào lúc ở những trại tù gulags nơi miền bắc,
Những thân xác của một trăm dân tộc trở thành trắng hếu,
Nhà thơ ngồi viết khúc ca dâng Mẹ Hiền Siberia,
Một trong những bài thơ tuyệt vời bằng ngôn ngữ Ba Lan.”

Trong khi làm công việc của một người biên niên, ghi lại tinh thần, ở trong nó, là một chủ nghĩa hiện đại bị ức chế cố tìm cách thể hiện, và rồi nhận ra, chỉ là manh mún, hoặc chẳng là gì - Milosz cho thấy sự bối rối của chính mình, như một người đàn ông trẻ tuổi, trong khi tìm kiếm những thể loại mỹ học có tính thuyết phục, chỉ thấy những kiểu mẫu bất toàn không làm sao thỏa mãn những ham muốn của mình. Rồi thì chiến tranh bùng nổ tại Âu Châu, cuộc đời, và cùng với nó, nghệ thuật của ông, vĩnh viễn thay đổi….

Chú thích: The Waste Land (Hoang Địa): Tập thơ của T(homas) S(tearns) Eliot (1888-1965) ra đời vào năm 1922, nói về cảm thức bàng hoàng của trí thức phương Tây tỉnh mộng sau Đại Chiến 1914-18. Ảnh hưởng khắp thế giới, nhất là những vùng thuộc địa cũ của Âu Châu, vì giấc mộng tiến bộ khoa học và ngày mai tươi sáng bị ngay chính giới ưu tú của "mẫu quốc" chối bỏ. Người ta có thể lấy năm tác phẩm này được dịch ra các ngôn ngữ khác, để đánh dấu sự bước vào đương đại (tức hậu hiện đại) của các dòng văn học địa phương - chẳng khác nào lấy dịch bản của tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (1921), Luận Lý Triết Học Luận, của Ludwig Wittgenstein (1889-1951), triết gia người Áo, để đánh dấu dòng triết học mới của thế kỷ thoát khỏi những lộng ngôn duy tâm và siêu hình vô căn cứ. [Chú thích của Nguyễn Tiến Văn]
Bách Khoa từ điển Encarta coi Hoang Địa là một bản phân tích tan hoang (devastating analysis) cái xã hội thời Eliot.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.