Ngày chín tháng 11, phân bộ al-Qaeda tại Iraq đã đạt thành tích sắt máu với vụ đánh bom ba khách sạn Tây phương tại thủ đô Amman của xứ Jordan khiến gần 60 người thiệt mạng, đa số là dân Hồi giáo, trong đó có một viên chức an ninh Palestine tại vùng Tây ngạn sông Jordan.
Ngay sau đấy, al-Qaeda ra tuyên cáo nhận công trạng đã tấn công các "trại huấn luyện" của bọn "Thập tự chinh" ở Jordan: các khách sạn này là căn cứ của nhân viên tình báo Hoa Kỳ, Âu châu và Israel. Say đòn với thắng lợi ấy, ngày 11, al-Qaeda ra tuyên bố thứ hai: có ba người đàn ông và một phụ nữ đã tham dự vụ đánh bom, và người phụ nữ "đã quyết định đi theo bước chân của chồng lên con đường tuẫn đạo".
Chi tiết ấy là một chỉ dẫn quý báu.
Nhà chức trách Jordan, với khả năng tình báo khá nhất trong vùng, biết là chỉ có ba trái bom đã nổ và trong số hung thủ không có một phụ nữ nào. Nghĩa là 1) một trái không nổ, 2) một nữ đặc công còn sống. Hai ngày sau, Sajida Mubarak al-Rishawi sa lưới và được đưa lên tự thú trên truyền hình.
Nếu không quá nóng ruột, tình báo Jordan có thể ỉm tin này và khai thác al-Rishawi kỹ lưỡng hơn thì có khi còn phăng ra nhiều manh mối khác. Ngược lại, al-Qaeda rõ ràng là không biết vụ khủng bố không tiến hành như dự trù và nữ đặc công al-Rishawi vẫn còn sống, có thể bị bắt và khai ra nhiều chi tiết bất lợi.
Một chuyện rất nhỏ như vậy - bị truyền thông Mỹ lãng quên - cho thấy những khó khăn phức tạp của cuộc chiến chống khủng bố.
Nếu tìm hiểu sâu xa hơn, ta còn thấy rằng tay đặc công đánh bom khách sạn Day Inn ngày hôm ấy cũng thất bại vì không bật được ngòi nổ bên trong khách sạn. Khi nhân viên khách sạn thấy khả nghi và đưa ra ngoài bãi đậu xe thì bom mới nổ, thiệt hại nhờ vậy mà giảm thiểu rất nhiều. Kết luận bình thường ở đây là al-Qaeda phải xuất cảng khủng bố ra ngoài, tấn công vào loại mục tiêu "mềm" (cơ sở dân sự) với nhân lực và phương tiện thiếu chuyên nghiệp.
Và nhất là lãnh tụ Iraq của mạng lưới al-Qaeda là Abu Musab al-Zarqawi không hoàn toàn kiểm soát được tình hình nên mới cho biểu dương thành tích quá sớm, khiến nữ đặc công al-Rishawi bị bắt. Cơ sở al-Qaeda tại Jordan vì vậy có khi đã bị tiêu diệt.
Đáng chú ý hơn nữa là ngày 18 vừa qua, al-Zarqawi ra tuyên bố rằng vụ đánh bom Amman là… một tai nạn. Al Qaeda không dự tính đánh bom vào một đám cưới Hồi giáo như vậy. Al-Zarqawi phải chữa lửa vì lầm lẫn chính trị của vụ tấn công khiến dư luận Hồi giáo khắp nơi, không chỉ tại Jordan, quay ra đả kích al-Qaeda: vì sao lại giết hại dân Hồi giáo vô tội"
Điều ấy khiến ta phải nhớ ngược lên những tuyên bố trước đây của al-Zarqawi tại Iraq.
Khi ra lệnh tấn công cả dân Shia lẫn Sunni nếu họ tham dự cuộc trưng cầu ý kiến về Hiến pháp ngày 15 tháng 10, thủ lãnh khủng bố al-Qaeda tại đây đã gây tác dụng ngược: dân chúng vẫn đi bầu và al-Qaeda bị cô lập tại Iraq.
Việc lá thư mùng chín tháng Bảy của thủ lãnh số hai của al-Qaeda là Ayman al-Zawahiri gửi cho al-Zarqawi được công bố ngay trước ngày bỏ phiếu ấy càng khiến dư luận Iraq và Hồi giáo nói chung hiểu ra sự thể. Trong lá thư, al-Zawahiri nêu rõ mục tiêu chiến lược là xây dựng một chế độ Hồi giáo cực đoan thần quyền của phe Sunni tại Iraq để từ đấy tiến tới một Đế quốc Hồi giáo được cai trị bằng giáo luật Sharia.
Những thư từ hay thông tin trao đổi giữa "trung ương" al-Qaeda đang lẩn trốn tại biên giới Afghanistan và Pakistan với phân bộ Iraq và al-Zarqawi cho thấy sự tê liệt của al-Qaeda, sự im lặng khó hiểu của Osama bin Laden - có khi đã chết - và vai trò của al-Zarqawi tại Iraq, như một thủ lãnh mới. Một số chi tiết được tiết lộ cho thấy al-Zarqawi ngày càng lúng túng, ra đòn nặng hơn nhưng với nhịp độ thưa thớt hơn tại Iraq, và al-Zarqawi đã nghĩ đến việc di tản ra khỏi Iraq. Bây giờ lại có vụ lầm lẫn đánh bom một đám cưới Hồi giáo!
Nghĩa là "địch tình" tại Iraq thực ra có dấu hiệu suy yếu, loạn chiêu, và cục diện đang ở vào khúc quanh. Đợt tấn công ráo riết từ tháng Bảy đến tháng 10 vừa qua tại đấy có thể chỉ là một "vụ Mậu Thân" - đánh xả láng để giành thắng lợi chính trị nếu không thì bị tiêu diệt (xin đọc bài "Mậu Thân Hồi giáo" trên cột bào này, ngày 07 tháng Tám vừa qua). Mà càng ra đòn tấn công dân Hồi giáo (như vụ đánh bom Amman tuần trước và vụ tấn công hai ngôi đền của dân Shia hôm 18) càng khiến người Hồi giáo chán ghét họ.
Trong khi ấy, các phe liên hệ tại Iraq (Shia, Kurd và Sunni) bắt đầu suy nghĩ lại về tương lai và mâu thuẫn đang chuyển dần qua chính trị, nghĩa là đấu tranh chính trị tại nghị trường hơn là gây bạo động để giành phần hơn.
Nhìn trên toàn cảnh, tình hình Iraq không đến nỗi bi đát nguy ngập và nếu mọi việc diễn tiến như dự trù - 15 tháng 12 này có bầu cử Quốc hội, sáu tháng sau, Iraq có thể có Hiến pháp và chính quyền thực thụ - cục diện sẽ chuyển dần tự loạn sang trị. Bạo động chưa lập tức chấm dứt nhưng Mỹ đã có thể chuyển dần trách nhiệm cho người Iraq và một số đơn vị tác chiến sẽ có thể ra về.
Hoa Kỳ sẽ không triệt thoái khỏi Iraq - như vẫn đang đóng quân tại Đức, Nhật Bản, Nam Hàn kể từ Thế chiến II đến nay - nhưng tình hình toàn khu vực đang có hy vọng ổn định, Saudi Arabia, Iran và Syria không trở thành hậu cứ cho quân khủng bố. Mục tiêu chiến lược là minh chứng quyết tâm của Mỹ và giúp các nước Hồi giáo ôn hòa chuyển hóa sang chế độ dân chủ để diệt cho tuyệt căn khủng bố của Hồi giáo cực đoan, mục tiêu ấy đang có kết quả, nếu ta nhìn rộng ra tình hình Egypt, Lybia, Lebanon và cả Syria…
Điều đáng tiếc, và đáng ngại, là một số lãnh tụ Dân chủ lại không nhìn cục diện như vậy.
Họ nhìn vào tỷ lệ ủng hộ sút giảm của dư luận Mỹ đối với hồ sơ Iraq. Thay vì lãnh đạo, họ bọc xuôi theo dư luận, một dư luận có cái nhìn sai lệch về Iraq do lối tường thuật thiên lệch của truyền thông. Khi thấy đa số dân Mỹ thất vọng về Iraq, họ đảo ngược lập trường và quay ra tấn công chính quyền Bush về tội ngụy tạo hồ sơ tình báo để có lý do tham chiến tại Iraq, và có người còn đòi phải "tái phối trí" (redeploy) quân lực ra khỏi Iraq. Nôm na là tháo chạy.
Những người giữ vững lập trường tại Thượng viện như Nghị sĩ Joe Lieberman hay Hillary Clinton, Joe Biden, là thiểu số đáng kính. Còn lại là một số lãnh tụ trở cờ, như John Kerry, John Edwards, Jay Rockefeller, Barbara Boxer, Evan Bayh, Harry Reid, Nancy Pelosi… Họ mắc bệnh quên trí nhớ khi phớt lờ lập trường chủ chiến của họ với chế độ Saddam Hussein từ thời Bill Clinton (1998) cho đến năm 2002 (trước khi Mỹ tham chiến) và khi thấy tình hình khó khăn thì tìm đủ cách làm suy yếu chính quyền Bush, dù rằng việc ấy sẽ làm suy yếu Hoa Kỳ dưới con mắt của quân khủng bố.
Y hệt như những gì đã xảy ra tại Việt Nam sau 1968, chính là các chính khách Mỹ tại hậu phương lại tạo cơ hội chiến thắng cho kẻ thù đang bị suy sụp ở tiền tuyến.
Chính quyền Bush và bản thân tổng thống có phạm nhiều sai lầm trong vụ Iraq. Nhớ lại lịch sử Hoa Kỳ, Roosevelt trong Đệ nhị Thế chiến, Truman trong cuộc chiến Cao Ly và Kenney và Johnson tại Việt Nam là thí dụ, những sai lầm ấy là khó tránh trong chiến tranh. Đáng tiếc là những sai lầm ấy không được cải thiện một cách xây dựng (là điều Nghị sĩ John McCain đã làm với nhiều can đảm trong cuộc hội thảo tuần trước của American Enterprise Institute) mà lại bị khai thác cho mục tiêu chính trị nhất thời của một số lãnh tụ Dân chủ. Họ không nhìn thấy quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ mà chỉ bọc xuôi theo dư luận, vì vậy không đáng lãnh đạo. Như trong truyện Kim Dung, thay vì liên thủ để chống kẻ thù, Đào cốc Lục tiên bắt đầu mê sảng, chín người mười ý cãi nhau loạn xạ, và đòi tung hê tất cả để bỏ chạy. Như một lũ trẻ nhát gan. Vận mệnh quốc gia quá quan trọng để có thể giao phó cho loại người ấy.
Khi dân Mỹ tự hỏi là vì sao thế giới không tin được Hoa Kỳ, họ nên nhìn vào lập trường đảo điên của loại lãnh tụ này. Khi dân Iraq đội bom đi bầu và cố tranh đấu để xây dựng dân chủ, họ nên tự nghĩ rằng mình làm việc ấy cho mình, chứ đừng tin rằng vì có sự yểm trợ của Mỹ.
Người Việt cũng vậy.



