Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Một Năm Sau WTO

01/11/200700:00:00(Xem: 6107)

...VN mới chỉ tiến tới chế độ vắt sức lao động và nhập khẩu vào để làm gia công cho thiên hạ mà thôi...

Đầu tháng 11 2006, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, chuẩn bị cho Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới kể từ tháng Giêng năm 2007. Thấm thoát vậy mà một năm đã trôi qua. Diễn đàn Kinh tế  đài RFA kỳ này sẽ làm một tổng kết sơ khởi về những gì Việt Nam đã và chưa đạt được trên con đường hội nhập đó, qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thấm thoát vậy mà Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO được gần một năm. Do đó, ban Việt ngữ chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, ta sẽ cùng kiểm điểm kết quả của một năm hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Nhận xét sơ khởi của ông ra sao về việc đó"

- Thưa ông, trước khi nói về kết quả của tình hình kinh tế Việt Nam trong năm đầu tiên hội nhập vào kinh tế thế giới, xin đề nghị là ta cùng nhớ lại về khởi điểm của một năm trước, tức là triển vọng và vấn đề cách đây một năm khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO.

Cách đây một năm, cả thế giới chứ không riêng Việt Nam đều chú ý tới việc Việt Nam sẽ gia nhập tổ chức WTO đồng thời cũng đạt quy chế thương mại bình thường và một cách vĩnh viễn với Hoa Kỳ, gọi là quy chế PNTR. Khi ấy, mọi người đều nói đến triển vọng to lớn của một xứ sở có 84 triệu người dân cần cù tháo vát, lại ở vào một vị trí địa dư thuận lợi trong vùng Đông Nam Á, đang cố thoát khỏi những sai lầm của chế độ kinh tế tập trung kế hoạch để cải thiện cuộc sống. Một số nhà nghiên cứu chiến lược còn chú ý tới một yếu tố thuận lợi khác, là giới đầu tư quốc tế bắt đầu thấy ra nhiều rủi ro bất ổn trên thị trường Trung Quốc và sẵn sàng chuyển dịch đầu tư qua Việt Nam để san xẻ rủi ro. Nhờ vậy, Việt Nam sẽ có điều kiện cất cánh để trở thành một rồng cọp kinh tế Đông Á.

- Hỏi: Nhưng thưa ông, cũng vào thời điểm một năm trước, nhiều người lại nói tới các vấn đề mà Việt Nam sẽ gặp khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trên diễn đàn này, ông cũng đã nhiều lần cảnh báo về các vấn đề ấy. Khi nói tới khởi điểm để tổng kết những thành quả trong một năm đầu, chúng ta có nên nhắc tới loại vấn đề ấy không"

- Thưa rất đúng và rất đáng nhắc lại.

Trước hết, về mặt quản lý kinh tế vĩ mô, nghĩa là về trách nhiệm quản trị kinh tế của chính quyền, thời ấy, người ta đã nói tới ba loại vấn đề đáng ngại. Thứ nhất là vật giá sẽ gia tăng từ khởi điểm quá cao là 5-7% nên sẽ đánh sụt lợi tức của dân nghèo và những ai có đồng lương cố định. Thứ hai là ngân sách quốc gia đang và sẽ còn bị bội chi rất cao - vào khoảng 4% của tổng sản lượng nội địa GDP - nên sẽ thổi mạnh gánh nặng công chi và đánh sụt khả năng đầu tư của khu vực công vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở. Thứ ba là chế độ ngoại hối vẫn còn cứng ngắc và đồng bạc định giá quá thấp sẽ gây trở ngại cho tiến trình hội nhập. Và thứ tư là Việt Nam thật sự bị nạn nhập siêu - tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu - và khi mở cửa bước ra ngoài thì có khi còn bị nặng hơn nữa, trước khi thấy tình hình được cải thiện nhờ triển vọng xuất khẩu sau khi gia nhập WTO.

- Hỏi: Đó là loại vấn đề thuộc lãnh vực quản lý vĩ mô. Ngoài ra, còn loại vấn đề gì khác nữa không"

- Loại thứ hai là các vấn đề về cơ chế cai trị. Thứ nhất là hạ tầng luật lệ của Việt Nam còn thô thiển và phải cải tiến thật mau thì mới thu hút đầu tư nước ngoài cho có lợi. Cụ thể trong lãnh vực đó là loại luật lệ cần thiết để chiêu dụ và bảo vệ giới đầu tư. Thứ hai, đi cùng hệ thống luật lệ thô thiển là vai trò tư pháp còn quá yếu và sức ép tham nhũng lại quá mạnh. Hậu quả, và đây là vấn đề thứ ba, môi trường đầu tư của Việt Nam thật ra vẫn thiếu lành mạnh nên sẽ làm giới đầu tư thất vọng sau những hồ hởi lạc quan ban đầu. Thứ tư, doanh trường Việt Nam vẫn thiếu minh bạch, thông tin thị trường thì đơn giản và thiếu tính khả tín, không đáng tin, như khá nhiều thống kê của Việt Nam cho thấy. Vì lẽ đó mà thị trường không bắt được những tín hiệu trung thực về giá cả hay cơ chế, với hậu quả là dễ làm nảy sinh phản ứng đầu cơ nhất thời và thổi lên nhiều trái bóng rủi ro.

Và còn loại vấn đề thứ ba nữa, thuộc lãnh vực xã hội, còn nghiêm trọng hơn gấp bội...

- Hỏi: Nếu vậy, xin ông nhắc lại luôn ở đây cho thính giả có cơ sở đối chiếu với thành quả sau một năm.

- Vì hạ tầng luật lệ còn lỏng lẻo, cơ hội tham nhũng rất cao, khi mở cửa hội nhập với thế giới bên ngoài thì đặc quyền và đặc lợi của thiểu số có chức có quyền và có tiền sẽ đào sâu khoảng cách giàu nghèo và gây bất mãn xã hội. Đó là vấn đề thứ nhất, với biểu hiện dễ thấy và dễ gặp nhất là nạn đảng viên cán bộ địa phương đầu cơ về đất đai để kịp thời trục lợi trong việc liên doanh với nước ngoài. Thứ hai là vì những cam kết trong khuôn khổ WTO, doanh nghiệp nhà nước sẽ được cổ phần hoá mạnh hơn, nhiều hơn, với hậu quả hai mặt là nhiều người sẽ mất việc mà nhiều đảng viên cán bộ sẽ có lời lớn nhờ đầu cơ quyền hành, quan hệ và thông tin trên thị trường chứng khoán. Thứ ba là khả năng ứng phó rất kém của guồng máy hành chính công quyền với các vấn đề bất ngờ như dịch bệnh, thiên tai lũ lụt hay cả tai nạn nghề nghiệp trên các công trường xây cất.

Nếu có nói gọn lại thì cách đây một năm, Việt Nam có rất nhiều triển vọng tốt đẹp khi gia nhập tổ chức WTO nhưng cơ chế quản trị và cai trị bên trong vẫn còn nhiều nhược điểm. Cho nên cùng với đà tăng trưởng kinh tế, người ta sẽ thấy nảy sinh nhiều vấn đề từ kinh tế đến xã hội và các vấn đề này sẽ gây bất ổn và làm nhiều người thất vọng về hội nhập.

- Hỏi: Thưa ông, đó là những triển vọng và rủi ro mà nhiều người đã nêu ra từ năm ngoái. Bây giờ, một năm sau, người ta thấy được những gì"

- Chúng ta có thể thấy là trong năm nay, Việt Nam sẽ đạt một tốc độ tăng trưởng sản xuất rất cao, có lẽ còn cao hơn những dự kiến của giới lãnh đạo. Một phần và chỉ một phần của hiện tượng ấy là tâm lý lạc quan ở trong nước khi bắt đầu hội nhập kinh tế với bên ngoài, chứ không hẳn là kết quả của đầu tư nước ngoài sau khi Việt Nam vào WTO.

- Hỏi: Tuy nhiên, lượng đầu tư nước ngoài quả thật là có tăng mạnh trong giai đoạn vừa qua, ông nghĩ sao về yếu tố này"

- Thưa tôi xin gọi đó là "ảo giác của thị trường". Trong 10 tháng đầu năm, đầu tư của nước ngoài có tăng hơn một phần ba so với cùng kỳ năm ngoái, vượt quá 11 tỷ Mỹ kim. Nhưng, và đây là sự thật bên dưới ảo giác, đến 90% lượng đầu tư này là vào các dự án mới, nghĩa là chưa đi vào sản xuất trong thời gian vừa qua. Thứ hai, đa số lại đầu tư vào hai lãnh vực chính, có lợi ích kinh tế và xã hội tương đối giới hạn, là công nghiệp nặng và địa ốc. Tức là dễ thổi lên nạn đầu cơ bất động sản. Trong khi ấy, số đầu tư thực tế được thực hiện vẫn chưa quá bốn tỷ, chưa bằng số tiền mà người Việt ở hải ngoại gửi về giúp đỡ thân nhân.

Đáng chú ý hơn nữa là dường như nhà nước lại chưa được chuẩn bị để đón nhận làn sóng đầu tư ồ ạt đó, sau 11 năm thương thuyết để gia nhập tổ chức WTO và sau nhiều tiên đoán lạc quan về triển vọng đầu tư của quốc tế. Cũng như người hồ hởi rước dâu và khám phá là cô dâu đẹp hơn mình dự tính, rồi lại không biết làm điều gì hữu ích với nàng dâu.

- Hỏi: Ngoài ra, về những cam kết với WTO thì Việt Nam đã thực hiện được những gì sau một năm làm hội viên tổ chức này"

- Thưa rất chậm và ít so với yêu cầu nên ta chưa thấy hiện tượng thẩm thấu xuống dưới. Cụ thể là tác dụng của WTO chưa ra khỏi thành phố và giải phóng sức sản xuất tại nông thôn, trong các ngành nghề tiểu thương. Một biểu hiện rõ rệt của tình trạng đó là việc gia nhập WTO chưa tạo ra sức bật cho xuất khẩu và năm nay, Việt Nam còn bị nhập siêu nặng hơn, đến hơn bảy tỷ Mỹ kim, và sẽ mắc nợ nhiều hơn.

Một khía cạnh thứ hai có được cảnh báo như ta vừa nhắc tới ở trên là nạn lạm phát đã gia tăng mạnh. Một phần là do hệ thống quản lý và phân phối kém trong thị trường nội địa với các loại nhu yếu phẩm rất quan trọng trong cái giỏ tiêu thụ - hay ngân sách gia đình tiêu biểu - cho dân nghèo. Dịch bệnh và thiên tai không thể giải thích hết được. Yếu tố lạm phát quan trọng hơn là hiện tượng nhập khẩu lạm phát, tức là "lạm phát từ đầu vào", nghĩa là khi ta phải nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu đang tăng giá trên toàn thế giới. Với viễn ảnh dầu thô đã vượt 93 Mỹ kim một thùng và có khi lên tới 100 đô la thì lạm phát tại Việt Nam sẽ vượt hai số và là vấn đề nguy kịch, nhất là cho người nghèo.

- Hỏi: Nhưng xin ngắt lời để hỏi ông một chuyện về giá dầu. Việt Nam cũng là một nước xuất khẩu dầu thô cho nên nếu giá dầu tăng mạnh thì Việt Nam cũng có lợi chứ"

- Dạ thưa có, nhưng tiền thu vào nhờ xuất khẩu dầu thô cũng chỉ bằng hoá đơn nhập khẩu xăng dầu là loại nhiên liệu chế biến từ dầu khí. Khi số thu gia tăng nhờ dầu lên giá thì chính quyền Việt Nam có thêm ngoại tệ trong dự trữ, nhưng khi xăng dầu lên giá thì giới tiêu thụ và người dân Việt Nam bị thiệt vì ảnh hưởng của lạm phát nhập khẩu vì xăng dầu sẽ đẩy vật giá lên còn cao hơn nữa. Cái được của nhà nước và cái mất của người dân là một vấn đề. Nếu nhìn trên toàn cảnh thì Việt Nam mới chỉ tiến tới chế độ vắt sức lao động và nhập khẩu vào để làm gia công cho thiên hạ mà thôi. Và hội nhập kiểu đó sẽ đào sâu thêm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, là điều cũng đã được cảnh báo.

Đồng thời, cũng phải thấy rõ là trong năm đầu mở cửa, tình trạng dân oan đi khiếu kiện đã lan rộng và tăng vọt. Nếu có thể lập một đồ biểu về nạn đầu cơ bất động sản để so sánh với đồ biểu về nhịp độ và cường độ biểu tình khiếu kiện, thì người ta thấy ngay ra nguyên nhân là ở đâu.

- Hỏi: Ông có vẻ hơi bi quan về kết quả gia nhập tổ chức WTO, nên không thấy điều gì tích cực hay sao"

- Thưa có chứ. Điều tích cực là trong năm qua, Việt Nam có thêm rất nhiều triệu phú bằng Mỹ kim. Họ là thành phần hết lời ngợi ca việc hội nhập, nhưng vẫn chỉ là một thiểu số, tập trung ở thành thị, có quan hệ tốt với chế độ hay thế giới bên ngoài. Chứ đại đa số dân chúng vẫn ở ngoài lề của việc hội nhập.

Tôi thiển nghĩ là những người lãnh đạo tại Việt Nam không phải là không biết điều ấy. Nhưng họ thiếu khả năng dự báo nên vẫn bị bất ngờ, thiếu khả năng ứng phó nên không kịp thay đổi chính sách khi thấp thoáng thấy ra những chệch hướng trong kinh tế sau khi mở cửa hội nhập. Quan trọng nhất là thiếu khả năng quản lý và điều hành, như được thấy rõ nhất ở việc gây ra lạm phát vì bơm tiền ra thu chín tỷ đô la về, và không cải tổ được hệ thống ngân hàng để xử lý một khối lượng Mỹ kim rất lớn trong nền kinh tế. Nghịch lý ở đây là Việt Nam thiếu vốn đầu tư mà lại thừa đô la ngoài chợ. Lãnh đạo Việt Nam hãnh diện vì nay Việt Nam có lượng dự trữ ngoại tệ tương đương với 20 tuần nhập khẩu so với 12 tuần vào năm ngoái, mà lại không nói ra là Việt Nam lại mắc nợ nhiều hơn năm ngoái.

Để kết luận có lẽ cũng cần nói thêm là Việt Nam đã mất hơn 10 năm thương thuyết để được hội nhập với kinh tế thế giới, nhưng mới chỉ có một năm tập sự hội nhập mà thôi. Vì vậy, nếu có những chuyện bất toàn và tiêu cực thì cũng chẳng nên ngạc nhiên. Vấn đề là lãnh đạo phải nhìn vào sự thật hai mặt thay vì ém nhẹm thông tin và cho nhau uống nước đường. Quốc hội Việt Nam có thể thật sự hội nhập vào thế giới văn minh khi nêu ra mặt trái của sự hội nhập ấy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.