Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Từ Tiền Dân Tới Tiền Nhà Nước Để Xác Định Quyền Ông Chủ - Thuế, Hình Thức Bóc

12/11/200700:00:00(Xem: 5821)

Lột Tinh Vi, Dã Man Nhất Của Thế Lực Cai Trị

Một trong những phát minh quan trọng và có lẽ lâu đời nhất của giai cấp thống trị đó là hình thức bóc lột bằng cách bắt giai cấp bị trị, đóng nộp một khỏan tiền phí “ddược sống”cho “thiên tử” đại diện của giai cấp cai trị, khoản lệ phí đó được người ta gọi là nôm na là nghĩa vụ nộp“ thuế”.

Theo như lý giải của giai cấp thống trị thì mọi của cải trong trời đất đều là của vua tức “con trời”...Từ ruộng đồng rừng núi của cải vàng bạc, cho chí các con dân đều do một tay vua thay trời trị vì cai quản, do vậy con dân phải có nghĩa vụ nộp tô cho kẻ thay trời cai quản nó...Sự dối trá vĩ đại này,  như một định lý bất thành văn, được truyền từ đời này sang đời khác đã hàng ngàn năm công việc bất hạnh nhất và gây đau khổ sợ hãi nhất cho thế lực bị trị, đó là nghĩa vụ phải nộp thuế cho giai cấp cai trị.

Nhà nước phong kiến với nguồn thu duy nhất là thuế để đưa vào ngân khố triều đình, đã sử dụng để phục vụ vua, trả lương cho quan lại, bộ máy cai trị và nuôi quân đội, mức đóng góp thuế tuy theo lương tâm của “thiên tử”, gặp ông vua sáng thì đời sống của dân dễ thở. Nhưng gặp phải hôn quân bạo ngược thì sưu cao thuế nặng đè lên đầu người nông dân khốn khổ.

Ngày nay, hình thức chi thu thuế được xem như là một yếu tố sống còn của bất kỳ quốc gia nào, nền kinh tế nào trên thế giới (Có lẽ duy nhất chỉ có Bắc Hàn là quốc gia không dựa nhiều vào thuế). Việc sử dụng các sắc thuế được các quốc gia trên thế giới vận dụng rất đa dạng, đầu vào là các sắc thuế là các giá trị kinh tế được tính mức tỉ lệ % sản phẩm, các giao dịch thương mại, các dịch vụ xã hội khác và các loại phí khác. Thuế “thân” cũng là một sắc thuế mà hiện nay nhiều nước vẫn áp dụng.

Ngoài ra còn rất nhiều các sắc thuế được áp dụng làm nguồn thu ngân sách, tùy theo chế độ của từng quốc gia, chế độ có nền dân chủ mở rộng thì việc thu chi ngân sách minh bạch, chi phí xã hội giảm thì sẽ thu hẹp các sắc thuế, có lợi cho người dân, ngược lại chế độ độc tài tham nhũng thì việc tận dụng tối đa quyền lực để áp dụng triệt để các sắc thuế để có nguồn thu, phục vụ chi phí chủ yếu cho chế độ độc tài trong việc cai trị nhân dân.

Đầu ra của thuế chủ yếu với hai nhiệm vụ chính là chi cho tiêu dùng chi phí xã hội và dùng thuế như một thứ vũ khí để điều tiết kinh tế xã hôi trong hai lĩnh vực nội địa và xuất nhập khẩu. Từ ngân sách nhà nước, tiền thuế của dân sẽ được thực hiện để chi vào các khoản chi phí xã hội, chi phí quản lý nhà nước, đầu tư phát triển và bổ xung vào quĩ dự trữ quốc gia. Các nguồn chi này được điều chỉnh theo năm tài khóa, do quốc hội họp kỳ cuối năm quyết định.

Việc chi ngân sách của các quốc gia được thể hiện trên biểu đồ, sẽ cho ta thấy mức độ chi cho bốn mục đích cơ bản trên được thể hiện như thế nào, người dân sẽ hiểu chính phủ của họ sử dụng đồng thuế ra sao, có lợi hay có hại, đời sống người dân có được cải thiện, mức chi phí cho bộ máy quản lý nhà nước tốn kém tới đâu và kế hoạch dùng ngân sách để đầu tư phát triển đất nước sẽ là bao nhiêu, công trình, dự án gì vv...

Ví dụ tại một nước dân chủ biểu đồ hình trụ được biểu hiện trên các cọc, sẽ cho ta thấy tỉ lệ % của từng trụ chi ngân sách, nếu chi cho bộ máy quản lý nhà nước chiếm tỉ lệ cao hơn các tỉ lệ khác, hoặc tuy thấp hơn, nhưng vẫn cao so với tổng cho ngân sách/so^' dân thì họ biết được bộ máy nhà nước đó tinh giảm gọn nhẹ hay cồng kềnh to lớn.

Một quốc gia phải chi cho quản lý nhà nước có đến 30- 40% nguồn thu ngân sách, chẳng hạn như VN, khoảng 20-25 tỉ USD/na(m, thì người ta sẽ hiểu bộ máy quản lý nó đồ sộ đến mức nào, hoặc không hợp lý do khâu quản lý tốn kém, kém hiệu quả ra sao.

Cũng như vậy, nhìn biểu đồ chi ngân sách, người dân Nhật Bản hoàn toàn yên tâm khi thấy cái trụ chi phúc lợi xã hội được chỉ trên mức vạch xanh (Khoảng 20% ngân sách) và họ lo lắng khi thấy trong phần giải trình cho phần chi ngân sách phát triển và an ninh đất nước, trong đó có cái trụ quốc phòng được chỉ ở mức vạch màu vàng, hay đỏ!

Tiền thuế của dân được đảng CSVN chế biến sang tiền gì"

Thuế là nguồn thu chủ yếu.

Còn ở VN nhà nước độc tài trên thực tế đã sử dụng tiền ngân sách ra sao" chi phí cho các mục đích chính như thế nào..."Tuy rằng hàng năm vẫn được chính phủ giải trình trước quốc hội, vẫn được quốc hội phê chuẩn duyệt chi ngân sách cũng như ai. Nhưng chỉ có điều là người dân hoàn toàn mù tịt, không hiểu về kiến thức thu chi ngân sách ra sao và đặc biệt nếu có hiểu cũng chỉ biết vậy, bởi người dân hoàn toàn không có quyền trong việc thu chi ngân sách!

Thực chất việc sử dụng ngân sách của nhà nước độc tài, nó cũng độc tài như chính chủ nhân của nó.Từ đồng thuế của dân đóng góp nó hoàn toàn được chế biến, thay đổi hình thái bản chất vốn có của nó, khi tiền thuế đã nằm yên vị trong kho bạc, nó được chuyển sang thành tiền ngân sách “nhà nước” do người của nhà nước quản lý và từ đây mọi người  phải hiểu đồng tiền đó là tiền của “nhà nước” chứ không phải tiền của “dân”.

Ngoài phần nộp thuế của dân, tham gia vào cái túi “ngân sách nhà nước” là những nguồn thu từ bán tài nguyên, từ vay nước ngoài và các nguồn thu vãng lai khác. Để rồi bắt đầu từ đó tiền “nhà nước” sẽ phục vụ cho một chu trình mới, một chu trình: Xin, cho, ban phát, xà xẻo, chia chác. Chu trình này hoàn toàn do một tay kẻ “ddày tớ” của dân là đảng độc tài nắm giữ quyết định và chế biến qua nhiều hình thức tinh vi và tàn bạo.

Chi ngân sách và chu trình độc tài khép kín.

Cái chu trình ngân sách này phần lớn được dành phục vụ cho đảng độc tài. Ngoài việc chi ngân sách thường xuyên là chi trả lương, chế độ cho hơn 7 triệu đảng viên, viên chức nhà nước chiếm tới 40% ngân sách, là khoản chi ngân sách đầu tư  phát triển, cũng đều lọt vào tay các doanh nghiệp quốc doanh, tập đoàn nhà nước, ngân hàng nhà nước, để từ đó tạo điều kiện cho cơ chế tham nhũng ăn chia khép kín theo hệ thống quản lý và tổ chức do đảng độc tài cầm cương nảy mực.

Việc chi ngân sách cho phúc lơi xã hội cũng vậy, chủ yếu được đầu tư chi phí vào các hoạt động xã hội (nằm trong khuôn khổ hệ thống nhà nước) như thể thao thể dục, văn hóa nghệ thuật vv..(Các công trinh phúc lợi như bệnh viện từ thiện, cơ sở điều dưỡng có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay) nhằm mục đích phục vụ cho công tác chính trị của đảng là chính. Như vậy cái chu trình chi ngân sách này, cuối cùng rốt cuộc cũng chi nhằm mục đích duy nhất là phục vụ đảng độc tài và nó được chế biến vòng vèo, ngoắt nghéo rồi cuối cùng tiền “nhà nước” lại chảy về túi các quan tham của đảng.            

Khái niệm tiền “nhà nước” và tiền “thuế dân”

Bởi vậy, qua bàn tay chế biến khéo léo và tài tình của đảng CSVN tiền thuế của “nhân dân” đã được hợp thức hóa thành tiền của “nhà nước” một cách tài tình. Cái danh từ tiền “nhà nước” đã trở thành một định nghĩa ăn sâu vào tiềm thức người dân, đã hiển nhiên ngự trị trong xã hội Việt Nam trong suốt 60 năm qua. Không còn ai nhớ, biết và phân biệt được đồng tiền đóng thuế của mình dùng vào việc gì!

Cái danh từ đích thực tiền “Thuế dân” gần như không có trong từ điển tiếng Việt, nó bị hàng bao nhiêu thế hệ người Việt hoặc thờ ơ vô trách nhiệm, hoặc do lạc hậu thấp kém, bị đảng độc tài lừa dối chiếm đoạt mà không phát hiện ra, cũng có thể một nhóm người trí thức đã biết, nhưng do quyền lợi được chia phần trong cái bánh ngân sách, nên thực hiện phương châm 3 không : không biết- không nghe -không thấy đồng tiền mồ hôi xương máu của dân được đảng chuyển hóa làm tài sản hợp pháp của đảng độc tài suốt bao năm qua.

Từ việc bóc lột thông qua hình thức bóc lột thuế này đã làm cho hệ thống cai trị, thế lực hưởng thuế ngày một giàu có và phía bên kia những người bị nộp thuế ngày một nghèo đi, dần dần đã tạo lên trong xã hội hai giai cấp đại diện cho hai thế lực, thế lực cai trị và thế lực bị trị. Hai thế lực này luôn mâu thuẫn nhau và tạo lên một nghịch cảnh là  thế lực cai trị chiếm tỉ lệ ít, lại chiếm giữ đến 90% của cải vật chất trong xã hội, còn thế lực bị trị chiếm tỉ lệ nhiều, những chỉ có 10% giá trị vật chất. Trung bình, một viên chức có thâm niên làm việc trong nhà nước 20 năm, giá trị tài sản của người đó=10 người nông dân có cùng độ tuổi. Sự chênh lệch tương quan lực lượng có thể được thay đổi do tác động của thế lực cai trị, nhưng bao giờ thế lực bị trị cũng chiếm số đông hơn.

Đồng thời một nghịch cảnh nữa luôn xảy ra và đã trở thành nguyên lý bất biến, đó là thế lực cai trị chiếm tỉ lệ ít, nhưng lại chiếm giữ, thâu tóm toàn bộ quyền lực. Thế lực bị trị, có tỉ lệ đông hơn, luôn luôn ở thế yếu hơn luôn luôn bị áp bức, do không biết tạo quyền lực, dẫu biết rằng như thế là bất công, bất hợp lý mà vẫn cắn răng cam chịu hàng chục ngàn năm nay"""

Ngân sách “quốc gia” và xác định quyền “ông chủ” của nhân dân

Trong cuộc đấu tranh đòi nền dân chủ cho đất nước, việc phản đối những chính sách và đường lối độc tài của đảng CSVN, thì việc tố cáo bản chất chiếm đoạt mồ hôi công sức của nhân dân thông qua hình thức bóc lột thuế, là một việc làm rất quan trọng của các nhà dân chủ, đồng thời nên chú trọng nhiệm vụ giải thích tuyên truyền phổ biến cho dân về nghĩa vụ và quyền lợi của người đóng thuế.

Giải thích cho dân hiểu rõ, không có danh từ tiền “nhà nước” như mọi người lầm tưởng hiện nay, bởi “nhà nước” này không đại diện cho nhân dân mà chỉ đại diện cho thế lực cai trị, thế lực hưởng thuế mà thôi. Các nhà đấu tranh dân chủ cần làm rõ bản chất của độc tài và dân chủ từ việc xác định quyền làm chủ đồng thuế thuộc về nhân dân hay thế lực cầm quyền"

Cổ vũ và làm thay đổi tư duy nếp nghĩ trong nhân dân về khái niệm tiền “nhà dân” thay cho khái niệm tiền “nhà nước” như mọi người đã quen chấp nhận bấy lâu nay. Để từ đó có động lực đấu tranh, bắt đầu từ việc phổ biến cho nhân dân hiểu cơ bản tận gốc rễ của tiền thuế, là chỉ có một khái niệm duy nhất để chỉ về quyền sơ hữu tài sản trong một quốc gia, đó là “tiền quốc gia” do dân đóng thuế. Vì vậy chỉ có dân là người có quyền sở hữu ngân sách “quốc gia”.  Ngoài ra không có bất kỳ kẻ nào, thế lực nào được quyền xâm phạm hay chiếm đoạt tài sản đó. Đảng CSVN đã chiếm đoạt, chuyển hóa tài sản “quốc gia” sang tài sản “nhà nước” là hoàn toàn bất hợp pháp.

Khi người dân đã hiểu được bản chất và cội nguồn của tiền thuế, họ sẽ ý thức được những công trình xây dựng, những đồng lương chi trả cho viên chức, những tài sản trong xã hội từ công trình công cộng cho đến công sở nhà nước đều do từ nguồn thuế của dân, để từ đó họ sẽ mạnh dạn thực hiện quyền làm chủ của dân trong mọi lãnh vực đời sống xã hội.

Khi đó họ sẽ thấy được trách nhiệm và nghiã vụ của mình đối với đất nước với chính quyền lợi của mình. Họ sẽ xác định được vị trí của “ông chủ” khi phải tiếp xúc với những “ddày tớ” tham tàn và bất lương, để có cách ứng xử theo vị thế của “ông chủ” và từ đó có ý thức đòi lại quyền “ông chủ” hợp pháp của mình, bấy lâu nay bị đảng CSVN độc tài chuyên chế chiếm đoạt.

Chử Đăng Sơn - ĐDCND

http://ddcnd.org/main/

Sàigòn - Ngày 8/11/2007

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.