Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Phật Giáo Việt Nam: Trước Khúc Quanh Hay Ngã Rẽ…

27/10/200700:00:00(Xem: 7078)

(Bản văn ghi lại cuộc phỏng vấn của liên hội truyền thông VĂN NGHỆ PHẬT GIÁO VIỆT NAM HẢI NGOẠI (Viết tắt: VNPGHN) và ông Trần Kiêm Đoàn.)

Phần giới thiệu:  Nhân dịp giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) Hải Ngoại thuộc văn phòng II Viện Hóa Đạo vừa nhận giáo chỉ số 9 của Viện Tăng Thống ở Việt Nam nội địa: Ra lệnh giải tán, kể từ ngày 25-9-2007, mọi cơ chế của GHPGVN hải ngoại được chính thức thành lập và hoạt động từ năm 1992, đang hoạt động theo nội quy nhà chùa và hợp pháp với các chính quyền sở tại từ trước đến nay.  Đồng thời một ban lãnh đạo mới đã được chỉ định gồm 14 vị bao gồm tu sĩ, pháp sư và cư sĩ với nhiệm kỳ “vô thời hạn”.  Sự cải tổ đột ngột nầy đã làm chấn động dư luận và gây xôn xao trong giới Phật tử tại gia và xuất gia trong cũng như ngoài nước.  

Để phản ảnh khách quan một phần những quan điểm đại chúng khác nhau, nhóm VNPGHN chúng tôi – hoàn toàn đứng ở vị thế độc lập của người Phật tử – sẽ lần lượt phỏng vấn các nhân vật được xem là đã và đang đứng trong hàng ngũ tăng ni, thiện tri thức và Phật tử hằng quan tâm đến sinh hoạt Phật giáo Việt Nam Hải Ngoại.  Trong đợt phỏng vấn “mở màn” nầy, chúng tôi tìm đến với ông Trần Kiêm Đoàn (TKDD).  Lần nầy, chúng tôi mời ông TKDD vào cuộc phỏng vấn mở đầu sau đây vì có 3 lý do:  (1) Ông TKDD là một Liên đoàn trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam từ thời 1962 và sinh hoạt liên tục với các tổ chức Phật giáo Việt Nam cũng như quốc tế trong suốt 40 năm qua, (2) ông TKDD là một trí thức Phật tử (GSTS) độc lập, không đứng về phía “giáo hội” hay thuộc bộ phái nào cả; đồng thời (3) ông là một người cầm bút năng nỗ, có nhiều tác phẩm văn thơ, nghiên cứu, nhận định về Phật giáo có giá trị đã xuất bản.

Phóng viên đại diện cho liên hội VNPGHN, đơn vị Hoa Kỳ, là anh Tâm Hải Đỗ Kiến Phúc (từ đây, xin viết tắt là TH).  Cuộc phỏng vấn kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ.  Nội dung xin tóm tắt như sau:

*****

TH:  Thưa anh Trần Kiêm Đoàn, xin anh vui lòng cho biết vài nét giới thiệu sơ lược về anh. 

TKDD: Thưa anh Tâm Hải, tôi tên là TKDD, 61 tuổi.  Tên và bút hiệu giống nhau.  Hai mươi lăm năm ở Mỹ, tôi thường sinh hoạt với Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Tây Tạng và Nhật Bản.  Tôi là một Phật tử độc lập, nghĩa là chỉ theo đạo Phật chứ không theo nhóm phái nào cả.  Vì vậy, nên hôm nay tôi sẽ xin trả lời các câu hỏi của anh cũng bằng cái tâm và sự nhận định riêng của mình. Dạ, chỉ có vậy. 

TH: Theo dõi các tác phẩm của anh, tôi biết là anh muốn tránh xa chuyện chính trị. Tuy nhiên, để xác định một thái độ trước các vấn đề Phật giáo mà chúng ta sắp nói ra, anh có thể cho biết quan điểm riêng của anh về chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay và mối tương quan giữa chế độ ấy với đạo Phật như thế nào không" 

TKDD:  Là người Phật tử, tôi có đời sống tâm linh, trong lúc người CS chủ trương vô thần.  Là người cầm bút, tôi muốn có tự do sáng tạo, trong lúc người CS kiểm soát tự do ngôn luận.  Sự khác biệt đó là nguyên nhân khiến tôi tránh xa những chuyện chính trị như anh vừa nhắc đến. 

TH:  Vâng, tôi có thể thấy và cảm nhận được điều đó qua nhiều bài viết đủ thể loại; qua những nhân vật mà anh đã gửi gắm tâm sự trong tác phẩm mới nhất và công phu nhất của anh là cuốn “Tu Bụi”.  Xin được trở lại vấn đề trọng tâm nhất cùa chúng ta hôm nay là cuộc “khủng hoảng Phật giáo” đang diễn ra trong nội bộ của tổ chức PGVNTN tại hải ngoại nầy.

TKDD:  Tôi không thấy Phật giáo Việt Nam đang lâm vào một tình trạng nào gọi là “khủng hoảng” như anh vừa nói.  Có lẽ vì tôi cũng giống như đại đa số Phật tử thầm lặng khác, chỉ muốn đến chùa học Phật, cảm nhận mùi trầm hương, quan chiêm hình ảnh đầu tròn, áo vuông và cuộc sống tịnh hạnh của quý Tăng Ni cho tâm mình được an lạc sau những giờ lao vào công việc xô bồ tranh sống.  Chắc anh TH đã đọc qua nhiều bài viết của tôi đã xuất bản, trong đó, tôi xem Phật giáo như một biển lớn thái hòa và an lạc.  Những tổ chức Phật giáo khác nhau cũng giống như những dòng sông hay những suối nguồn trôi về biển mẹ.  Chẳng lẽ vì những dòng sông hay suối nguồn nào đó dơ bẩn, nhiễm độc, rác rưởi hay dậy sóng, cạn khô mà biển mẹ cũng phải nổi sóng ba đào hoặc khô cạn theo hay sao"

TH:  Thế thì anh nghĩ như thế nào về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (PGVN) thân chính quyền – còn gọi là “giáo hội quốc doanh”– và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) chống chính quyền hiện nay"

TKDD:  Để có một tầm nhìn xác thực hơn, tôi xin phép được nêu lên một hoàn cảnh thực tế rằng:  Nếu tạm thời xin rước qua một bên những nhóm phái hay đạo tràng (con số lên đến hàng chục ở Việt Nam nội địa và không dưới một chục ở nước ngoài) để tập trung vào khung cảnh chính của đạo Phật Việt Nam thì có 3 khối chính:  PGVN, PGVNTN như đã trình bày ở trên và một khối, khối chính,  mà tôi tạm thời xin gọi là Đạo Phật Việt Nam (ĐPVN) để dễ phân biệt.  Có thể nói một cách khẳng định mà không sợ sai lạc với thực tế rằng: Có hơn chín mươi phần trăm Phật tử tại gia và xuất gia chỉ một lòng theo Phật, chứ không theo ai cả.  Họ đến chùa, ăn chay, niệm Phật, cúng dường, lễ bái, bố thí, làm việc thiện… là để tu học mong tìm đường cứu khổ, an lạc và giải thoát cho mình.  Hàng cư sĩ cũng như Phật tử tại gia đến chùa, đảnh lễ quý Tăng, Ni là mong được tiếp cận với những chiếc cầu tâm linh đạo cao đức trọng.  Hẳn nhiên, một người Phật tử bình thường nhất cũng hiểu được rằng, nếu muốn làm chính trị, hay chống đối - ủng hộ ai đó, người Phật tử chỉ cần ra khỏi cổng chùa một bước là đã có rất nhiều đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế sẵn sàng đón tiếp họ để mời vào, nếu họ muốn.  Do đó, chẳng có lý do nào khiến người Phật tử vào chùa để theo quý Thầy, Sư Cô hướng dẫn và “thuyết pháp” về vấn đề chính trị hay chuyện tranh chấp đời thường cả.

TH:  Tôi đồng ý với anh đấy là một thực tế tâm lý của người Phật tử.  Tuy nhiên, sự hiện diện của giáo hội PGVN quốc doanh và giáo hội PGVNTN dù đa số hay thiểu số; nắm được đại chúng Phật tử nhiều hay ít thì vẫn là một thực thể đang hiện diện và tồn tại khi nói đến Phật giáo Việt Nam.  Theo anh, họ đang ở vị trí nào trong bức tranh chung của Đạo Phật Việt Nam hiện tại" 

TKDD:  Thưa anh, quan điểm của tôi đã được trình bày rạch ròi trong cuốn sách mới nhất của tôi vừa xuất bản là cuốn “Tu Bụi”.  Gần suốt chương 24: – Đạo Giữa Đời (từ trang 533 đến 552. Bản in lần thứ 2) –  tôi đã trình bày bản chất và hình tướng của những tổ chức nhân danh Phật giáo.  Các tổ chức đó là sản phẩm của thế quyền hay đối lập với thế quyền đều không phải là Phật giáo mà chỉ là phương tiện của phía nầy hay phía nọ để tiếp cận với Phật giáo theo mục đích và phương thế riêng của họ.  Trong đạo Phật, phương tiện là chiếc bè qua sông để đến bờ bên kia.  Chiếc bè không phải là dòng sông mà cũng chẳng phải là bến bờ nên đừng nhầm lẫn phương tiện với mục đích.  Cũng thế, đừng đồng hóa hình thức “giáo hội” với Phật giáo.  Đã có biết bao nhiêu Phật tử xuất gia và tại gia đến với giáo hội, vào giáo hội, nhưng chẳng bao giờ đến được với Phật giáo.  Và ngược lại, cũng đã có biết bao nhiêu Phật tử đến với Phật giáo, theo Phật giáo nhưng chẳng bao giờ bén mảng tới giáo hội.

TH:  Như thế thì thực chất vai trò của giáo hội là để làm gì"

TKDD: Thực chất thì mỗi “giáo hội” là một chiếc bè trong vô số chiếc bè.  Nhiều trường hợp, nhiều hoàn cảnh khác nhau sẽ đẻ ra nhiều giáo hội khác nhau.  Phật giáo nói chung và đạo Phật Việt Nam nói riêng cũng đang có những giáo hội Phật giáo mang tên Cột, Kèo, Tranh, Tre… nào đó, do nhân vật Ất, Giáp, Bính, Đinh… nào đó lập ra và tự xem mình là Đạo chính thống, là Phật giáo đích thực, là có toàn quyền về mọi mặt sinh hoạt của Phật giáo; có uy quyền trên tín đồ Phật giáo.  Sự lạm nhận thô bạo về vai trò tổ chức giáo hội đã xẩy ra cho một số tôn giáo phương Tây thời Trung Cổ.  Thời nay, một sự lạm dụng danh nghĩa như thế là một sự sai lầm nghiêm trọng về cả hai mặt đạo lý và pháp lý.  Đấy là sự vi phạm trắng trợn quyền tự do tín ngưỡng, gây chướng ngại cho đời sống tư hữu và tâm linh.  Điều đáng xót xa hiện nay là phần đông đạo hữu Phật tử chúng ta, còn có người thiếu phương tiện tìm hiểu và phân biệt nên cứ xem “quý Thầy trong giáo hội… nào đó” là hiện thân của Phật, của Bồ Tát nên đã bị những thế lực vô minh, phi Phật giáo lợi dụng một cách đáng tiếc.  Thấy được từ tầm xa, khả năng nguy hại, gây rối đạo của “giáo hội”, nên thời còn tại thế, Đức Phật đã bác bỏ hoàn toàn lời thỉnh cầu của Đề Bà Đạt Đa muốn thành lập giáo hội Phật giáo để hỗ trợ chư tăng đương thời.

Nếu với yêu cầu thể hiện tính tổ chức cho tôn giáo thời nay, hình thức “giáo hội” có thể hình thành với sự chọn lựa dân chủ của tập thể đồng thuận đứng dưới danh nghĩa giáo hội.  Sự chỉ định “tầm xa, tầm gần” thiếu sự đồng thuận của những thành viên liên hệ chỉ tạo thêm họa bất đồng và phân hóa.  Một giáo hội phân hóa là một phương tiện què quặt ví như một chiếc thuyền thủng đáy đang chìm.  Thuyền không tồn tại thì lấy đâu phương tiện an toàn để chở thành viên đến bến, đến bờ (tu chứng).

TH: Nói như thế thì theo anh, có bao nhiêu phần trăm Phật tử theo giáo hội PGVN của nhà nước, giáo hội PGVNTN chống chính quyền VN" 

TKDD:  Anh có thể tìm đến bất cứ chùa Việt Nam nào trong nước hay ở hải ngoại, hỏi các Phật tử rằng: “Ông, bà, cô bác… đang theo giáo hội nào thế"” Anh sẽ nhận được câu trả lời chính xác nhất.  Năm học vừa qua tôi có giúp một sinh viên của tôi làm luận án cao học xã hội ở trường CSUS về một đề tài có liên quan đến Phật giáo Việt Nam.  Trong nhóm câu hỏi gửi ra cho quần chúng để thâu thập dữ kiện, có một câu hỏi về khuynh hướng “theo giáo hội nào” nêu trên, được gởi cho Phật tử đang sinh hoạt tại các chùa ở tiểu bang California và các tiểu bang đông người Việt khác trên đất Mỹ.  Kết quả là trong số thu về, có 432/456 (94.73%) câu trả lời đại ý: “Tôi theo Phật, chẳng biết giáo hội nào và chẳng theo giáo hội nào cả…”  Tôi tin rằng, đa số tuyệt đối Phật tử đến chùa là để tu học.  Có chăng chuyện hội hè đình đám thì cũng là chuyện đời thường bên ngoài mà thôi.

TH: Như thế theo anh thì đâu là sức mạnh thật sự của đạo Phật Việt Nam.  

TKDD:  Câu hỏi của anh đã đặt lại một vấn đề trọng tâm của đạo Phật Việt Nam.  Đó là câu hỏi then chốt: “DDâu là sức mạnh thực sự để sống còn của đạo Phật Việt Nam"”.  Nếu hoàn cảnh khách quan và chủ quan không hội đủ trọn vẹn truyền thống Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng thì yếu tố nào là sức mạnh chủ đạo giúp cho đạo Phật tồn tại đến ngày nay"  Theo tôi thì có hai cách nhìn khác nhau anh ạ:

- Nếu nhìn dưới khía cạnh tiêu cực thì Phật giáo Việt Nam rất có thể đã bị lọt vào quỹ đạo “chia để trị” rất cổ điển, nhưng lại rất “ddược việc” cho thế quyền trong suốt ba chục năm qua.  Thế quyền VN chẳng mất gì cả, nhưng đạo Phật gần như mất đi hơn một thế hệ (mỗi thế hệ tính bình quân là 25 năm) tiến thối lưỡng nan trong trùng vây của nghi kỵ, phân hóa và thậm chí huynh đệ đồng tổ, đồng tông, đồng đạo chối bỏ, chống báng lẫn nhau.

- Nếu nhìn dưới khía cạnh tích cực thì phần đông, người Phật tử Việt Nam bình thường đáng được hoan hỷ tán thán công đức vì đã trực tiếp hay gián tiếp, vô hình chung, thấm nhuần được tinh thần “phá chấp” để thực hành nguyên tắc “tùy duyên bất biến” cốt tủy của đạo Phật.  Họ kỉnh Phật trọng Tăng, quy y Tam Bảo nhưng không còn ảo tưởng nhìn Phật qua Tăng; không nhìn Tăng qua Chùa; không nhìn Chùa qua Tượng đài lễ lạc.  Họ mang đức tin tìm đến Đức Phật ngay chính trong tâm mình mà đảnh lễ.  

TH:  Như thế có nghĩa là người Phật tử không còn tin tưởng tuyệt đối vào sự dìu dắt tu học của chư Tăng Ni hay sao, thưa anh"

TKDD: Dạ, đúng một nửa…

TH: Còn nửa kia thì sao"

TKDD: Nghĩa là Phật tử hôm nay đều hiểu được rằng, bức tượng không làm nên ông Phật; mái chùa không làm nên Niết Bàn; chiếc áo không làm nên thầy tu.  Hầu hết Phật tử đảnh lễ quý Tăng, Ni vì phẩm hạnh đạo cao đức trọng mà những Phật tử tại gia đang thiếu.  Ngoài ra, tất cả những phương tiện phàm tục khác như lợi khẩu, kiến thức, bằng cấp, điạ vị, vật chất, thủ đoạn, mưu kế, kể cả thói hư tật xấu… thì hàng Phật tử đời thường có nhiều hơn, trội hơn hàng tu sĩ là hẳn nhiên rồi.  Không ai ngây ngô đến chùa hay bái kiến quý Thầy, quý Sư Cô để mong tìm những “phẩm vật” đời thường như thế đâu.  Bởi vậy, khi một nhà tu chỉ cốt nói cho hay, khoe khoang cái giả ngã cho lắm, phê phán đồng môn, đồng đạo cho nhiều… tức là đang đi vào ngõ cụt lấy cái sở đoản làm sở trường cho một nhà tu chân chính!

TH: Thưa anh, tôi vẫn đang còn phân vân vì chưa hiểu câu trả lời của anh dẫn đến trọng tâm nào"

TKDD:  Như lời Phật dạy, thời mạt pháp như thời đại chúng ta hiện nay sẽ có hiện tượng phàm tăng nhiều hơn thánh tăng; kiêu tăng nhiều hơn danh tăng; ác tăng nhiều hơn minh tăng… nên mỗi khi có hiện tượng nhóm phái tranh chấp trong giáo hội, chư tăng bất hòa, thiền môn bất tịnh thì Phật tử không còn đau buồn cúi lạy đợi chờ tiêu cực một sự “hoá giải” nào đó mà chủ động lặng lẽ tránh xa.  Nhất là ở Hải ngoại nầy, người Phật tử hay bất cứ ai đều có quyền tự do lập nên giáo hội mới, chùa chiền tu viện mới, triệu tập đồng đạo mới mà không phải lệ thuộc ai cả.  Thực tế thì điều nầy đã xảy ra khắp nơi.  Trong xã hội thực dụng thì tiền bạc có tiếng nói quyết định, “money talks”… mà anh! Và, xa hơn nữa là nếu hệ thống đạo Phật Việt Nam không còn hiện hữu nữa thì người Phật tử có tín tâm vẫn còn quá nhiều cơ hội để tiếp cận với nguồn suối tâm linh Phật giáo.  Như anh biết đó, đã có hiện tượng trí thức Phật tử hải ngoại, thất vọng trước thực trạng phân hóa của Phật giáo Việt Nam nên đã xa rời chùa Việt để qua chùa Người.  Hiện nay hệ thống các chùa chiền, tự viện thờ phụng tôn nghiêm, tăng đoàn hòa hợp, tổ chức trang trọng của Phật giáo Trung Hoa (Đài Loan), Tây Tạng, Nhật Bản, Đại Hàn, Thái Lan, Miến Điện… có mặt khắp nơi trên toàn thế giới.  Có thể nói họ đã tạo được những cơ sở vật chất và nhân sự vững chắc, phong phú mà Phật giáo Việt Nam chúng ta còn phải đứng xa để nhìn.

TH: Khi nói đến ý nầy, anh có ý ám chỉ điều gì đến tình trạng sắp sửa có hai giáo hội Việt Nam Thống Nhất sau khi Giáo chỉ số 9 nhân danh Đệ Tứ Tăng Thống mà người ta cho rằng đấy là sản phẩm của ông Võ Văn Ái không"

TKDD:  Theo tôi,  hoặc đã quá muộn, hoặc còn quá sớm để nói đến những điều nầy.  Quá muộn, nếu đã có một nhóm người cấu kết với nhau, ám muội làm ra những điều này sau lưng ngài quý thầy lãnh đạo GHVNTN đang còn bị kẹt ở quê nhà, để mưu cầu quyền lực cho phe nhóm của mình.  Quá sớm, nếu có những người đang có tấm lòng cao quý, muốn hóa giải xung đột, tạo tinh thần hòa hợp chư Tăng Ni, ít nhất là ở hải ngoại nầy, mà chưa làm được.

Tôi tin là với hoàn cảnh thông tin vi tính trong một xã hội khoa học kỹ thuật hiện nay tại các nước Âu Mỹ nầy,  cái chất mê tín “khải huyền” (mythologization) đã qua rồi.  Các tôn giáo phương Tây đang tìm cách “giải huyền” (demythologization) để đưa tín đồ họ ra khỏi vòng lẩn quẩn của mê tín.  Phật giáo là một tôn giáo khoa học nên tu sĩ Phật giáo cũng cần trang bị tinh thần khoa học hiện đại như thế.  Những huyền thoại “thánh tăng” thời Đạt Ma Tổ Sư; “Bồ Tát hoá thân” Tế Điên Hòa Thượng của nghìn năm trước không có lý do tồn tại hôm nay.  Mọi chuyện cần phải rạch ròi và nghiêm cẩn mới giữ được nghi vệ căn bản của nhà tu, bảo tồn phương danh của Đạo Pháp. Như trường hợp tu sĩ có vợ con đùm đề sau khi đã xuất gia là phạm trọng giới, nhất thiết phải cởi áo cà sa hoàn tục, không thể có hiện tượng “tu sĩ có vợ con hạng nhất, tu sĩ có vợ con hạng nhì…”; vẫn trơ lì khoác áo chư tôn bén mảng đến chùa làm xúc phạm chốn Thiền Môn!  Cũng như trường hợp tu sĩ đã từng bị lên quan xuống huyện về việc quan hệ tình dục, ngược đãi hay lạm dụng tín đồ đã bị quan chấp pháp kết tội, vị đó cần phải biết ẩn tu để xét lại mình, ăn năn sám hối, không có lý do vẫn ung dung xênh xang y cụ, biến mình làm gương xấu cho thế hệ đàn em và biến nhà chùa thành bất tịnh.

TH: Hì hì… Đồng ý! Đồng ý!... Nhưng còn trường hợp những tu sĩ đã từng xách động quần chúng xuống đường xuống hố, biểu tình, bãi khóa, đình công, bãi thị, xúi dục tín đồ lăn vào chỗ chết làm cho xã hội điêu linh, nhà tan cửa nát; trong lúc bản thân mình vẫn tà tà ăn trên ngồi trước, du học ngoại quốc kiếm bằng kiếm biếu trang trí đầy mình.  Khi nguy biến, sống chết mặc bây, họ nhanh chân ra nước ngoài; rồi an thân xây dựng sự nghiệp vinh thân phì gia bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của người đồng đạo, đồng hương.  Nay cũng chính những vị đó, đâu bốn chục năm sau, lại “can đởm” ra mặt kêu đòi đấu tranh cho hạnh phúc của tha nhân, rêu rao yêu đạo, yêu đời thì anh nghĩ sao"

TKDD:  (Giơ cả hai tay lên trời) Thưa anh TH, câu khỏi của anh không khó, nhưng nó làm tôi bức xúc quá.  Vậy, xin anh cho tôi tạm làm người câm điếc trong tiểu mục này nhé.

TH:  Anh vẫn chưa trả lời vào trọng tâm câu hỏi là liệu sau Giáo Chỉ số 9, giáo hội PGVNTN có bị đổ vỡ như trường hợp Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự sau 1963 không"

TKDD:  Tôi có đọc một số bài viết của quý thầy, quý cư sĩ và các bậc thiện tri thức đã trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến hiện trạng Phật giáo đang có khuynh hướng đi đến “nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết…” như anh vừa nói.  Nhưng hoàn cảnh đã khác sau hơn 40 năm.  Với những kinh nghiệm dạn dày chìm nổi của lịch sử Phật giáo trong hơn nửa thế kỷ qua, với tốc độ nháy mắt của môi trường truyền thông đại chúng, với sự tiếp cận của người Việt với nền văn minh, văn hoá Âu Mỹ… chúng ta đang tự mình biết mở tầm mắt lớn hơn để thấy rõ là sức mạnh của đạo Phật không chỉ nằm gọn trong tay thế lực tu sĩ và sự quản lý của nhà chùa như thời quá khứ.  Sự phân hóa đã diễn ra trong suốt 30 năm qua chứ có phải hôm nay hay sắp đến.  Phân hóa làm đau lòng người Phật tử.  Nhưng Phật tử thời đại nầy có tầm nhìn sáng suốt, chủ động biết mình phải làm gì và ai để mà theo.

TH: Như thế theo anh điều gì mới thật sự là quan trọng trong sinh hoạt Phật giáo ngày nay"

TKDD: Sự tương tác hòa điệu giữa Phật tử, cư sĩ tại gia và chư Tăng, Ni là điều kiện sinh tử cho một dòng chảy Phật giáo lành mạnh trong thời đại chúng ta trong cũng như ngoài nước.  Sau hơn 30 năm thao thức mà tuồng như ngủ say, giờ đã đến lúc chư Tăng, Ni và Phật tử cần tỉnh táo để định nghĩa Phật giáo Việt Nam như thế nào và Phật tử Việt Nam là ai giữa lòng thế giới.  Sự phân hóa và chia phe, lập nhóm tôn giáo trong thời đại nầy sẽ đồng nghĩa với hành động tự cô lập hóa theo nghiệp chướng “thập nhị sứ quân” đầy vọng động.

TH: Nhận định của anh thật đầy tâm huyết, nhưng ai sẽ là cá nhân, là tập thể có trách nhiệm tiến lên hàng đầu, cầm cân nẩy mực cho một hình thái Phật Giáo Việt Nam lành mạnh đây"

TKDD: Điều nầy chỉ có thể quyết định được khi có một sự chấn hưng Phật giáo toàn vẹn đúng nghĩa.  Ngoài ra, những tổ chức Phật giáo lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, nhưng không phải là chỗ dựa đáng tin cậy cho chín mươi phần trăm của tổng số người theo Đạo Phật Việt Nam –  kể cả Phật tử xuất gia và tại gia – thì rốt cuộc cũng chỉ là những khe suối chảy quanh quẩn bên ngoài Biển Mẹ Đạo Phật mà thôi.  Tham vọng “lãnh đạo Phật giáo” bất cứ từ phía nào trong một hoàn cảnh phân hóa như hiện nay rõ ràng không những là một ảo tưởng mà là một sự hoang tưởng tâm linh của vô minh và tham vọng hời hợt nhất thời.

TH:  Thưa anh, cuộc phỏng vấn đã khá dài.  Nếu xin anh có một lời tâm tình hay một đề nghị sau cùng trong tình hình Phật giáo như hiện nay thì anh sẽ nói lên điều gì"

TKDD:  Cám ơn anh đã cho tôi có một cơ hội trình bày thêm điều mình muốn nói.   Nếu có một lời tâm huyết thì tôi chỉ xin đảnh lễ chư Tăng Ni để xin quý ngài thành tâm thực hiện lời Phật dạy “Tăng già hoà hợp, tứ chúng đồng tu” trong một thời điểm cực kỳ nóng bỏng và nhạy cảm của Phật giáo Việt Nam như hiện nay.  “Cứu đạo tức là trực tiếp cứu mình và gián tiếp cứu đời” là trách nhiệm của quý Thầy và quý Sư Cô trong lúc nầy. Và, xa hơn nữa, tôi xin được cung kính đảnh lễ tiếp các tác giả đang viết về hiện trạng Phật giáo để thưa rằng, trên các báo chí và trang websites đã xuất hiện quá nhiều bài viết “nóng bỏng” liên quan đến chư Tăng, Ni. Chỉ có điều tôi xin thưa rằng, tinh thần Phật giáo là tinh thần phá vô minh.  Bởi vậy, chúng ta không cần gieo vô minh bằng những hình thức dấu tên, chụp mũ lẫn nhau.  Chụp mũ là một hình thức kê “bò triệt”, đóng cửa đối thoại trong thuật chơi cờ Domino.  Nó nói lên một thái độ hàm hồ và một tinh thần ốm yếu lý luận vì đuối lý hay vì đang mang một tri thức đầy sợ hãi.  Cửa chùa bao giờ cũng là “vô môn quan”.  Xin đến với nhau bằng cánh cửa quang minh rộng mở ấy.

Dạ, chỉ có thế thôi và xin cám ơn VNPGHN, qua anh Tâm Hải, đã cho tôi một cuộc tiếp xúc chuyện trò rất thích thú và đầy ý nghĩa.

TH: Tâm Hải và VNPGHN cám ơn anh TKDD.

(Ghi lại và hiệu đính lần thứ hai: 25-10-2007)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.