Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Pháp Luật Phổ Thông – Ls Lê Đình Hồ

30/05/201000:00:00(Xem: 2245)

Pháp Luật Phổ Thông – LS Lê Đình Hồ

[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc ledinhho@hotmail.com]

Hỏi (Bà Trần T. K.C): Chúng tôi kết hôn vào năm 2006 và chưa có con với nhau. Vào đầu năm 2009, sau chuyến đi Việt Nam thăm gia đình của chồng tôi, khi về lại Úc ông đã tự động dọn qua ngủ riêng trong một phòng khác.
Kể từ đó, mặc dầu chúng tôi cùng sống chung nhà nhưng những sinh hoạt bạn bè và xã hội dường như khác biệt nhau. Chúng tôi không còn đi dự các buổi party với nhau do bạn bè mời.
Mặc dầu không nói ra nhưng chúng tôi tự xem là đã sống ly thân kể từ dạo đó. Tôi đã từng xác nhận điều này với bạn bè.
Xin LS cho biết là tôi có quyền nộp đơn xin ly dị chưa" Tôi nghĩ rằng tôi đã sống riêng với chồng tôi hơn 1 năm rồi.

*

Trả lời: “Luật pháp liên hệ đến việc nộp đơn ly dị được quy định theo điều 48 của Đạo Luật Gia Đình 1975” (The law in respect of an application for divorce is set out in s.48 of the Family Law Act 1975).
“Điều 48(1) của Đạo Luật quy định: ‘Đơn xin án lệnh ly dị theo Đạo Luật này liên hệ đến hôn nhân sẽ được dựa vào lý do là hôn nhân đã bị đỗ vỡ một cách không thể cứu vãn nổi’” (Section 48(1) of the Act states: “An application under this Act for a divorce order in relation to a marriage shall be based on the ground that the marriage has broken down irretrievably”).
“Điều 48(2) của Đạo Luật quy định: …thủ tục được khởi động theo đơn xin như vậy, lý do phải được xem là đã được thiết lập, và án lệnh ly dị sẽ được công bố, nếu, và chỉ nếu, tòa thỏa mãn được rằng các bên đương sự đã ly thân và sau đó đã sống một cách riêng lẽ và tách biệt trong một thời gian liên tục không ít hơn 12 tháng ngay trước ngày nộp đơn xin án lệnh ly dị” (Section 48(2) of the Act states: … in a proceeding instituted by such an application, the ground shall be held to have been established, and the divorce order shall be made, if, and only if, the court is satisfied that the parties separated and thereafter lived separately and apart for a continuous period of not less than 12 months immediately preceding the date of the filing of the application for the divorce order).
“Điều 49(2) của Đạo Luật quy định: Các bên hôn phối có thể được xem là đã ly thân và đã sống một cách riêng lẽ và tách biệt tuy rằng họ đã tiếp tục cư ngụ cùng chỗ ở hoặc một trong hai bên đương sự đã làm một vài công việc nhà cho đương sự kia” (Section 49(2) of the Act states: The parties to the marriage may be held to have separated and to have lived separately and apart notwithstanding that they have continued to reside in the same residence or that either party has rendered some household services to the other).
Trong vụ Sanchez & Sanchez [2009] FMCAfam 625 “Đơn xin của người vợ dựa vào việc hai bên đương sự đã sống ly thân cùng nhà vào tháng 1 năm 1997” (The wife’s application is baded on the parties having separated under the one roof in January 1997).
“Bằng chứng của bà là không lâu sau khi đứa con gái của họ chào đời người chồng đã dọn vào phòng ngủ riêng và hai bên đương sự đã ngủ riêng lẽ và tách biệt kể từ ngày đó” (Her evidence is that shortly after their daughter was born the husband moved into a separate bedroom and the parties have slept separately and apart since that date).
“Ngoài điều đó ra, bà khai rằng kể từ thời gian đó họ đã tham dự các sinh hoạt xã hội một cách riêng lẽ và, do đó, đã đưa đến đời sống khác biệt nhau” (in addition, she says that since that time they attended events separately and, in effect, led separate lives from one another).
“Bà khai rằng họ đã ăn riêng và mỗi bên tự giặt đồ và dọn dẹp lấy” (It is her submission that they had separate meals and were each responsible for their own wasjing and cleaning).
“Bà khai là họ có đời sống xã hội và bạn bè riêng và không sinh hoạt xã hội với tư cách là vợ chồng” (She said that they had separate social lives and separate friends and did not socialised as husband and wife).
“Tuy nhiên, ngược lại với điều này, bà đã đưa ra bằng chứng rằng bà bảo với người chồng vào năm 2000 là họ nên chia tay vì sự quan hệ đã chấm dứt mặc dầu vào năm 2007 bà đã tìm kiếm sự cố vấn và cố hàn gắn lại hôn nhân” (In contrast to this, however, she gave evidence that she told the husband in 2000 that they should split up because the relationship had ended although in 2007 she sought counselling and tried to fix the marriage).
“Bằng chứng của bà là bà đã không báo cho Centrelink rằng hai bên đương sự đã ly thân cho mãi đến 2008 và tuy thế bà đã nhận tiền trợ cấp pension mấy năm ngay trước ngày đó” (Her evidence was that she did not advise Centrelink that the parties had separated until 2008 and yet she was in receipt of the pension for some years prior to that date).
“Trong đơn hồi đáp của người chồng từ chối là các bên đương sự đã ly thân vào năm 1997” (The husband in his Response denies that the parties separated in 1997).
“Ông ta đưa ra bằng chứng về việc cùng đi du hành đến Mỹ vào cuối thập niên 1990s, khi hai bên đuong sự cùng tá túc với đứa con gái” (He gave evidence of a join trip to the united States in the last 1990s, when the parties stayed together with the daughter).
“Bằng chứng của ông rõ ràng rằng lần đầu tiên ông biết về việc hai bên đã ly thân là khi nguòi vợ báo cho ông vào tháng 12 năm 2008, lúc bà ta thay ổ khóa” (His evidence was clear that the first time he knew about the parties being separated was when the wife told him in December 2008, when she changed the locks).
“Ông đã thú nhận rằng hai bên đã gây gổ như mọi cặp vợ chồng khác” (He conceded that the parties had argued like every other married couple).
“Ông cũng cho biết rằng quan hệ ái ân lần cuối của ông và người vợ đã xảy ra ngay truóc năm 2000” (He also advised that the last physical relations between the wife and him had occurred prior to 2000).
“Trong lúc ông ta không phản đối việc ly dị, ông đã từ chối là hai bên đã ly thân vào năm 1997 và hoàn toàn rõ ràng rằng ông đã không xem sự ly thân đã xảy ra cho đến cuối năm 2008” (Whilst he did not oppose the divorce, he denied that the parties had been separated in 1997 and was quite clear that he did not consider that the separation had occurred until late 2008).
Cuối cùng tòa cho rằng các bên đuong sự chỉ ly thân vào tháng 12 năm 2008 và đã bác đơn ly dị vì cho rằng các bên đuong sự chưa ly thân đủ 12 tháng.
Dựa vào luật pháp cũng như phán quyết vừa trưng dẫn bà có thể thấy được rằng bà có thể nộp đơn để xin ly dị mặc dầu ông và bà đã cùng sống chung một nhà kể từ ngày ly thân với điều kiện là chồng của bà không phản đối về đơn xin ly dị đó của bà.
Để giúp tòa dễ dàng quyết định, bà nên nhờ bạn làm thêm một tờ khai hữu thệ xác nhận rằng họ đã biết là bà đã sống ly thân cùng nhà với chồng bà trong 12 tháng qua.
Nếu bà còn thắc mắc xin điện thoại cho chúng tôi để đuọc giải đáp thêm.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.