Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang – Tác Giả Nguyễn Xuân Phong – Dịch Thuật Phan Quân

10/01/201000:00:00(Xem: 2358)

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang – Tác giả Nguyễn Xuân Phong – Dịch Thuật Phan Quân

LGT: Từ năm 1965 đến 1975, ông Nguyễn Xuân Phong đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ VNCH và biết nhiều bí mật dẫn đến việc mất Miền Nam. Trong thời gian hòa đàm Ba Lê về Việt Nam, từ địa vị thành viên phái đoàn lúc ban đầu, ông đã trở thành Trưởng Phái Đoàn vào giai đoạn cuối cùng, với chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách hòa đàm trong chính phủ. Đặc biệt, ông cũng là nhân vật quan trọng trong Hội Nghị Thượng Đỉnh của nguyên thủ 7 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương tại Manila vào 2 ngày 24 & 25 tháng 10, 1966, nhằm thẩm định về cuộc chiến ở Nam Việt Nam với sự tham dự của Tổng thống Phi Luật Tân, Ferdinand E. Marcos; Tổng thống Đại Hàn, Park Chung Hee; Tổng thống Hoa Kỳ, Lyndon B. Johnson; Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo VNCH, Nguyễn Văn Thiệu; Thủ tướng Úc Châu, Harold Holt; Thủ tướng Tân Tây Lan, Keith Holyoake; Thủ tướng Thái Lan, Thanom Kittikachorn; và Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương VNCH, Nguyễn Cao Kỳ. Tại Hội Nghị, ông là người Việt Nam duy nhất được trực tiếp nghe trưởng phái đoàn Nam Hàn cho biết: Tổng thống Nam Hàn đã cảnh giác, [qua kinh nghiệm cuộc chiến tranh Cao Ly] nếu như hòa đàm [với VC] có xảy ra, chính phủ Sài Gòn sẽ thấy Mỹ thương thuyết thẳng với phía bên kia [VC], còn Sài Gòn chẳng nói năng gì được trong khi thương thuyết, và cuối cùng sẽ phải chấp nhận và tuân hành những gì Mỹ và VC ký kết. Quả nhiên, 6 năm sau, lời tiên đoán này đã trở thành sự thật tại Hội Nghị Ba Lê, dẫn đến bản Hiệp Định đầy phi lý, khi Mỹ toa rập với VC cho phép quân đội xâm lăng VC được tiếp tục hiện diện trên lãnh thổ VNCH, dẫn đến thảm kịch 30-4-75. Sau đây, Sàigòn Times trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả những sự thật về Hội Nghị Thượng Đỉnh Manila 1966, Hòa Đàm Ba Lê 1968 và những ngày cuối tháng 4, 1975 của VNCH, trích từ tác phẩm  "Hope and Vanquished Reality", được ông viết theo yêu cầu của "The Center for A Science of Hope" ở New York.

*

Thượng đỉnh Manila 1966

Khi được bổ nhiệm vào chức vụ Ủy Viên Phủ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương hồi năm 1966, tôi mới bắt đầu hiểu được những gì đang diễn ra trong chính phủ Sài Gòn. Một lần nữa, tôi lại may mắn gặp được một vị công chức khác, cũng do Tây đào tạo, ông Trần Ngọc Giàu, một người bạn cũ khác của ba tôi, coi tôi như con cháu.
Nhiệm vụ mới của tôi cũng đơn giản là theo dõi văn thư đến và đi, để phối hợp các bộ trong chính phủ và chuẩn bị tài liệu cùng với những yếu tố để quyết định, trình lên thủ tướng, có kèm bản tóm lược vấn đề và ý kiến đề nghị. Tôi cũng được giao phó công tác điều phối chương trình tiếp khách của thủ tướng, tổ chức các phiên họp liên bộ, tiếp những khách ngoại quốc nào mà không ai chịu tiếp và tham dự những sinh hoạt xã hội vô thưởng vô phạt.
Tôi chẳng có gì nhiều để làm nên tôi có thì giờ để suy ngẫm thêm đôi chút về diễn biến của cuộc chiến và những bí ẩn giữa Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn. Đồng thời cũng là một thời kỳ mà tôi bắt đầu khám phá ra cái thế giới tương phản giữa huyền thoại và thực tế, hiểu được cái ý niệm chủ quan và khách quan, được coi như là đã tạo nên những sự kiện thực tế của cuộc sống, nhưng phần lớn chỉ là sản phẩm xuất phát từ óc tưởng tượng của con người. Tôi bắt đầu nghĩ đến chiều hướng biến thiên của lịch sử đang bao trùm lấy tôi, và nói theo cách nói của người Anh quốc, như một câu chuyện huyền thoại về hai thành phố, cụ thể là của Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn.
Trong thời kỳ làm Ủy Viên Phủ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, việc đáng kể nhất mà tôi có dự phần là công vụ đi Manila vào cuối tháng Mười 1966. Tôi thuộc thành phần của phái đoàn tiền phong, có nhiệm vụ hoàn thành việc chuẩn bị thượng đỉnh bảy quốc gia bàn về Việt Nam, do Ferdinand Marcos, Tổng Thống Phi Luật Tân, chủ trì và khách mời danh dự là Tổng Thống Lyndon Baines Johnson (LBJ) của Hoa Kỳ. Đó là một thượng đỉnh mang tính lịch sử của những niềm hy vọng chưa từng có bao giờ. Đó là thời điểm leo thang quân sự, nhưng cũng là lúc mở màn cho chính sách giải kết của Hoa Kỳ để ra khỏi chiến tranh Việt Nam. Tổng Thống Johnson điều chỉnh kịch bản cho phù hợp với tinh thần của chương trình "củ cà rốt và cây gậy", qua lời lẽ như: "Xâm lược không được thắng, nhưng hãy ngưng đánh nhau để tạo dựng một chương trình tái thiết vĩ đại cho cả Bắc lẫn Nam Việt Nam, do viện trợ Hoa Kỳ đài thọ". Ngay từ năm 1965, qua lời tuyên bố ở Baltimore ngày 7 tháng Tư, LBJ đã đưa ra "củ cà rốt" nhằm viện trợ một tỷ Mỹ kim cho các nước Đông Nam Á, kể cả Bắc Việt. Ông cũng không quên cho biết là muốn thương thuyết vô điều kiện với Hà Nội để chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Tại thượng đỉnh Manila, ông nói rõ hơn bằng cách đề nghị rút toàn bộ quân lính Hoa Kỳ ra khỏi Nam Việt Nam trong vòng sáu tháng, ngay khi Hà Nội chấm dứt xâm lược vũ trang chống lại chính phủ Sài Gòn. Dĩ nhiên là "Bác Hồ" hoàn toàn không làm sao giải thích được một giải pháp như thế cho nhân dân miền Bắc và nhân dân thế giới. "Bác Hồ" khó chấp nhận lý lẽ đơn giản của LBJ là để cho Mỹ rút quân lính về mà không cần phải đánh họ. Trái lại, lập luận đó phải đợi đến Tổng Thống Nixon mới thực thi được, để bắt đầu đưa quân lính về hồi năm 1969, thế nhưng "Bác Hồ" cũng không ngưng chiến tranh. Tổng Thống Johnson không còn có cách nào khác hơn là theo đuổi chương trình "súng và bơ" mãi cho đến cuối nhiệm kỳ của ông hồi tháng Giêng 1969. Ông cũng được an ủi là có hy vọng đem lại điều tốt cho mọi người - người Việt Nam và người Mỹ - và làm cho toàn thế giới được văn minh và tiến bộ hơn.
Ngay từ đầu thập niên 1960, với tư cách là phó tổng thống, LBJ đã hăng say chủ trương thực hiện một chương trình phát triển đại quy mô vùng châu thổ sông Cửu Long của Nam Việt Nam. Rủi thay, niềm hăng say nồng nhiệt và "củ cà rốt" vĩ đại đó đã bị bỏ dở. Nếu như LBJ đã có khả năng thực hiện chương trình đó thì phần số và định mệnh của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ có thể hoàn toàn khác hẳn.
Nhiệm vụ viết bài diễn văn cho Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, cuối cùng lại lọt vào tay tôi. Một công việc cấp bách mà lại giao cho tôi chỉ có vài giờ trước khi lễ khai mạc bắt đầu. Vào khoảng hai giờ sáng, tôi thấy ông Thiệu vẫn còn đang chuẩn bị bài diễn văn tại phòng của ông ở khách sạn Manila, nơi tạm trú của các phái đoàn. Sở dĩ tôi đến gặp ông Thiệu vào lúc đó là vì tôi có nhiệm vụ phải báo cáo cho ông về việc làm của phái đoàn tiền phong tại thượng đỉnh. Thế là, ông yêu cầu tôi xem qua bài diễn văn. Bài diễn văn này đã được các phụ tá của ông soạn thảo, dưới hình thức của một bài phát biểu rất kêu, nói lên quyết tâm bất biến của Sài Gòn là tiếp tục chiến đấu. Một bài diễn văn hoàn toàn lạc đề đối với một thượng đỉnh cho ước vọng hòa bình và tôi thưa thẳng với ông như thế. Ông Thiệu rất khó chịu với bài diễn văn khi tôi nhận xét như vậy. Ông nổi giận ném bản thảo cho tôi rồi bảo tôi sửa lại. Tôi nhanh chóng thảo bài diễn văn khác, chỉ đọc trong khoảng mười phút thay vì ba mươi của bài cũ.
Vào năm giờ sáng, Đại Sứ của Sài Gòn tại Manila, ông Phạm Đăng Lâm, bị dựng dậy để nhận lãnh nhiệm vụ khó khăn là phải làm sao đưa in bài diễn văn mới cho kịp giờ. Philip Habib hay tin có bài diễn văn mới nên rất muốn có một bản. Mỹ mà không biết trước được những gì người cầm đầu của Việt Nam Cộng Hòa sắp tuyên bố công khai trước thượng đỉnh là điều tuyệt đối không thể chấp nhận. Ông Thiệu và mọi người khác, kể cả Philip Habib, chỉ đọc được bài diễn văn mới vào lúc tám giờ sáng, một giờ trước khi Tổng Thống Marcos tuyên bố khai mạc thượng đỉnh và nhường bục đọc diễn văn lại cho ông Thiệu. Bài diễn văn của ông Thiệu mở đầu bằng câu "Chúng tôi muốn có hòa bình". Câu này đã làm cho toàn thể cử tọa của phiên họp quốc tế lập tức đứng lên vỗ tay tán thưởng ông Thiệu khá lâu. Không biết thiên hạ có hiểu một cách chính xác ông Thiệu muốn nói gì qua câu nói đó hay không, nhưng mọi người đều hài lòng. LBJ có vẻ hoan hỉ hơn ai hết với câu tuyên bố rất mong đợi đó. Nhưng, cá nhân tôi thật tình mong muốn như thế khi thảo ra câu đó và hết sức ước muốn chiến tranh chấm dứt.
Trong khi ông Thiệu tìm mọi cách chứng minh rằng chế độ Sài Gòn có khả năng đứng vững, cả về quân sự lẫn chính trị, thì dứt khoát Hoa Kỳ đã không còn kiên nhẫn và cuối cùng đã quyết định tìm phương thức để kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng. Chiến lược của LBJ là chọn phương thức đưa quân bộ chiến Hoa Kỳ can thiệp ồ ạt ở Nam Việt Nam. Nhưng, ông vẫn chưa hiểu loại chiến tranh mà ông phải đương đầu. Hàng trăm nghìn lính Mỹ đã được đưa vào Nam Việt Nam, nhưng tình hình cứ trở nên tồi tệ hơn. Thế giới gần như mệt mỏi với chuyện đánh nhau nên đã chuyển hy vọng từ chiến trường sang bàn hội nghị. Người ta hy vọng với một mục đích chung là giải pháp hòa bình, nhưng lại là một niềm hy vọng thiếu mất ý nghĩa và lý do để cho các phe liên hệ có thể chấp nhận. Ai cũng hy vọng có hòa bình, nhưng không một người nào biết cách để đạt được. LBJ khuyến cáo chúng tôi đừng làm cho Thượng Đỉnh Manila biến thành một phiên hội họp để bàn về chiến tranh và nhấn mạnh rằng nên coi ông như là một thành viên bé nhỏ nhất trong cuộc họp cấp cao của bảy nước, có thể nói ông là người cuối cùng trong "bảy hiệp sĩ Samurai".
Ở Thượng Đỉnh Manila, hai ông Thiệu và Kỳ có rất nhiều hy vọng củng cố địa vị cá nhân và thuyết phục cho các quốc gia đồng minh thấy rằng Nam Việt Nam vẫn còn vững vàng để đóng vai trò Tiền Đồn Thế Giới Tự Do ở miền Viễn Đông, và vẫn còn xứng đáng để cho Hoa Kỳ chiến đấu và chi viện, hầu bảo vệ thanh thế và làm cho thiên hạ tin tưởng. Thì chẳng phải chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, trên căn bản, coi số phận của cả Đông Nam Á tùy thuộc vào sự sống còn của một Nam Việt Nam chống cộng đó sao" Cảm tưởng chung của các quốc gia gọi là đồng minh vẫn tiếp tục hy vọng một cách mơ hồ rằng Hoa Kỳ có thể chấm dứt can thiệp ồ ạt bằng quân sự mà chế độ Sài Gòn vẫn cứ tồn tại như thế nào đó. Thế thì, thực sự liệu có hy vọng gì cho một giải pháp thương lượng hay không"
Tôi cầm đầu phái đoàn Việt Nam để, cùng với Mỹ, soạn thảo bản thông cáo chung. William Bundy cầm đầu phái đoàn Mỹ, gồm có nhiều nhân vật liên hệ đến Việt Nam trước kia. Trong ủy ban soạn thảo còn có phái đoàn của các quốc gia có quân ở Nam Việt Nam, như Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn và Thái Lan. Phiên họp làm việc diễn ra tại dinh tổng thống, Điện Malacacang, dưới quyền chủ tọa của Thứ Trưởng Ngoại Giao Phi Luật Tân, ông Ingles. Chúng tôi bắt đầu làm việc vào khoảng sáu giờ chiều, và đến mười một giờ đêm, chúng tôi mất đi nửa tiếng vì cuộc tranh luận hăng say của hai phái đoàn Mỹ và Nam Hàn. Thật là bối rối vì bạn bè chúng tôi lại tranh chấp nhau vì quyền lợi của Việt Nam.
Cuộc tranh luận xảy ra khi ủy ban soạn thảo đề cập đến vấn đề thương thuyết với phía bên kia. Phái đoàn Nam Hàn nhất định là họ và các đồng minh khác của chính phủ Sài Gòn phải có mặt trong bất cứ cuộc hòa đàm nào. Phái đoàn Mỹ lập luận cho rằng chuyện đó phải là một vấn đề giữa người Việt Nam với nhau (tất cả chúng tôi có được cảm tưởng là tuy Bundy nói như vậy một cách rất nghiêm túc, nhưng lại không gì thành thật lắm!)
Khi thấy có vẻ như cả Mỹ lẫn Nam Hàn đều không chịu nhượng bộ chút nào hết, tôi đề nghị tạm ngưng một lúc để xả hơi. Trong thời gian tạm nghỉ, một nhân viên phái đoàn Nam Hàn đột nhiên yêu cầu tôi đến gặp trưởng phái đoàn của ông. Ông này cấp thời tỏ ý tiếc là đã phải tranh luận gay cấn với phái đoàn Mỹ. Ông ta cho biết đã nhận chỉ thị nghiêm ngặt của tổng thống Nam Hàn liên quan đến điểm đã tranh luận, vì họ đã trải qua một trường hợp tương tự với Hoa Kỳ vào thập niên 1950. Ông cảnh giác là nếu như hòa đàm có xảy ra, Sài Gòn sẽ thấy Mỹ thương thuyết thẳng với phía bên kia, rồi Sài Gòn chẳng nói năng gì được trong khi thương thuyết, rồi cuối cùng chỉ phải chấp nhận và tuân hành. Dĩ nhiên, tôi chân tình cám ơn ông đã có lời khuyên và nói rằng ai cũng biết "Người Anh Cả" của chúng ta nổi tiếng là có thói quen cứ làm theo ý mình. Chúng tôi biết ơn những người bạn Nam Hàn đã can thiệp hộ chúng tôi về yếu tố then chốt đó, nhưng chúng tôi cũng có bổn phận phải làm mọi cách để bảo vệ quyền lợi của chính mình và phải hết sức chú ý về việc Hoa Kỳ sẵn sàng làm bất cứ gì cần phải làm để bảo vệ quyền lợi thiết thân của họ.
Khi ủy ban họp trở lại, tôi đề nghị đưa vào thông cáo chung một câu nói rõ ràng là, nếu Hà Nội chịu ngồi vào bàn hội nghị, Sài Gòn cũng sẵn sàng tham dự, sau khi tham khảo rộng rãi các đồng minh của mình. Như vậy cũng đủ để đem hy vọng lại cho những người đọc bản thông cáo chung của Thượng Đỉnh Manila.
Tổng Thống Johnson có vẻ rất hài lòng với thượng đỉnh. Tôi có nhiều dịp để cùng cười vui với ông trong dạ tiệc Fiesta Barrio do Tổng Thống Marcos khoản đãi, khi kết thúc kỳ họp cấp cao. Ông rất vui vẻ và thân mật. Một lúc sau, tôi được nhân viên phái đoàn Mỹ cho biết riêng là ngày hôm sau, 26 tháng Mười, Tổng Thống Johnson sẽ đi Cam Ranh, nằm ngay phía Nam Đà Nẳng, để thăm quân lính Hoa Kỳ, mà không công bố trước cho báo chí biết. Họ nói ông không cần có một nhà lãnh đạo nào của Sài Gòn ở đó để đón ông, nhưng sự có mặt của tôi cũng quá đủ để tháp tùng ông. Tôi rất đỗi ngạc nhiên về điều đó và trả lời ngay cho Philip Habib và các đồng sự của ông rằng tôi mà làm thế thì hoàn toàn không phải lẽ, chưa nói đến chuyện là điều đó nhất định sẽ đưa tôi vào hang cọp về mặt chính trị.
Bất cứ chính khách nào của Sài Gòn cũng cảm thấy vinh hạnh nếu được một ông tổng thống Mỹ mời như thế. Nhưng tôi xin từ chối, với lời cám ơn, và nói rõ rằng tôi không thích tiếp nhận món "quà tẩm thuốc độc" đó. Tôi đề nghị với những người Mỹ tiếp xúc với tôi là nên mời Thủ Tướng Nam Việt Nam đón Tổng Thống ở Cam Ranh. Biết được cơ hội này, nhiều phe phái chính trị Nam Việt Nam cố gắng tìm cách để được mời tham gia nghi thức danh dự nghênh đón. Trong khi đó, tôi tìm cách lánh mặt và nương náu cạnh Marcos Phu Nhân cùng với đoàn mỹ nhân duyên dáng và xinh đẹp, mang biệt danh "Blue Ladies", được chỉ định hầu tiếp những khách tham dự Thượng Đỉnh trong thời gian ở Manila.
Do ai và bằng cách nào tôi không bao giờ được rõ, nhưng cuối cùng có quyết định là ngày hôm sau ở Cam Ranh, tôi sẽ đứng dưới chân cầu thang máy bay của Tổng Thống Johnson, cùng với Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương của Nam Việt Nam, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, để chào mừng Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Hoa Kỳ tại căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ. Nhưng như thế cũng chưa hết ngạc nhiên đối với tôi. Ngay khi vừa đặt chân xuống mảnh đất Việt Nam và bắt tay chúng tôi, Tổng Thống chỉ vào tôi và nói với Tướng Kỳ:
- Ông này là người có nhiệm vụ khó nhất ở Sài Gòn.
Tại sao ông lại nói thế" Tôi không hề biết, nhưng sau này tôi được người ta cho hiểu rằng ông rất cảm kích với cái câu mà tôi viết để mở đầu bài diễn văn của ông Thiệu, "Chúng tôi muốn có hòa bình". Tôi cho rằng đó là một cách khen tặng của ông, nhưng tôi không biết ông đã có cách gì để tìm ra một giải pháp hợp tình hợp lý cho các bên để có thể chấm dứt tình trạng hỗn độn khủng khiếp ở Việt Nam hay chưa. Dù thế nào đi nữa thì nhất định cũng là một loại quà tẩm thuốc độc đối với tôi. Chẳng bao lâu sau đó, tôi được bổ nhiệm vào một bộ khác.

Hòa đàm Ba lê

Sau cuộc khủng hoảng nội các - vì một số ủy viên người miền Nam từ chức để phản đối nạn kỳ thị Nam-Bắc - từ Ủy Viên Phủ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, ông Phong được bổ nhiệm làm Ủy Viên Xã Hội. Giữa năm 1968, ông Phong từ chức Bộ Trưởng Xã Hội trong chánh phủ Trần Văn Hương, và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của quyết định đó. Ông đang chờ lệnh gọi nhập ngũ thì một cơ hội mới lại đến với ông.
Tôi chưa kịp hình dung được sẽ bị động viên như thế nào thì, một lần nữa, số mệnh lại giúp đỡ tôi, kỳ này qua Đại Sứ Phạm Đăng Lâm, một người thân lâu đời của gia đình. Ông đến gặp tôi để bàn về một diễn biến ngoại giao đang hình thành, mà lịch sử sau này gọi là hòa đàm Ba Lê. Không giống như các nhân vật cấp cao khác trong ngành công vụ của Sài Gòn đã đỡ đầu cho tôi, ông Lâm và tôi gần như cùng một thế hệ và lúc nào ông cũng coi tôi như anh em ruột thịt.
Ông là công chức nổi tiếng và cột trụ của chế độ Sài Gòn, được huấn luyện đầy đủ dưới chế độ thực dân Pháp, cũng giống như cha tôi. Khôn ngoan và có kỷ luật, ông là người có danh tiếng trong lãnh vực ngoại giao. Thực vậy, ông là tinh hoa của ngành ngoại giao, đã từng phục vụ ở nhiều đẳng cấp trong Bộ Ngoại Giao Sài Gòn, là nơi mà ông đã giữ chức vụ tổng thư ký trong nhiều năm. Ông cũng đã hơn một lần giữ chức vụ bộ trưởng ngoại giao trong những chính phủ dân sự Sài Gòn. Lần vừa qua tôi gặp ông là ở Thượng Đỉnh Manila 1966, khi ông làm Đại Sứ cho Sài Gòn tại Phi Luật Tân.
Như mọi người đều biết, hội đàm đã diễn ra giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội tại Ba Lê, nhưng ông Lâm cho tôi hay là sự việc diễn tiến rất nhanh chóng, rồi đây Sài Gòn sẽ phải tham dự. Tổng Thống Thiệu yêu cầu ông Lâm cầm đầu phái đoàn Sài Gòn trong giai đoạn chuẩn bị và đồng thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Lãnh Sự của Sài Gòn tại Ba Lê. Qua các cuộc thảo luận ở cấp cao trong chính phủ, tên tuổi tôi đã được đề nghị trong chức vụ phụ tá cho trưởng phái đoàn. Liệu tôi có chịu nhận nhiệm vụ để giúp đỡ ông ấy một tay hay không"
Trái với một bề ngoài nghiêm nghị, có một thân hình mảnh khảnh, cao ráo và ăn diện sang trọng, Đại Sứ Lâm lúc nào cũng có cách xử sự trầm tĩnh nhưng lại có óc khôi hài phi thường. Ở chỗ riêng tư cùng với bạn bè, ông có thể vui đùa thoải mái. Ông và tôi thường đùa cợt thỏa thích. Thậm chí ông cũng có cách để cười đùa được trong khi bàn về hòa đàm sắp tới ở Ba Lê, dù cho sự kiện lịch sử đó mang một bản sắc nghiêm trang.
Ông Lâm nói tiếng Pháp lưu loát, với một phong cách tao nhã và khi mở đầu câu chuyện ông cho tôi biết rằng công việc chủ yếu là một vụ đối thoại của những người điếc. Liên tưởng đến nội dung "câu chuyện huyền thoại về hai thành phố", tôi cho ông biết là từ nay chúng mình lại có "câu chuyện huyền thoại về ba thành phố" - Hoa Thịnh Đốn, Hà Nội và Sài Gòn. Vốn là con người thích nói năng chính xác, ông Lâm lập tức nói thêm "Bốn người điếc chớ", vì ông cho rằng chắc chắn Bà Bình sẽ có chỗ ngồi ở chiếc bàn của những người không thèm nghe, dù cho ông Thiệu có thích hay không.
Cuộc đàm đạo đưa chúng tôi tới cái thế giới buồn cười của những chuyện hoang đường và thực tế, của những hình thế chính trị phi lý. Sẽ có ba nhà chính trị Việt Nam, một thời đối chọi nhau về quan điểm, cùng ngồi vào chiếc bàn hội đàm Ba Lê với một người Mỹ, có thể là người duy nhất thiết tha để tìm cho được - hết sức cần có được thì đúng hơn - một thỏa hiệp để gỡ rối cho cả nước Hoa Kỳ thoát khỏi thời đại thê lương ở VN đồng thời vẫn tạo điều kiện cho những người anh em thù nghịch vui sống mãi mãi sau này. Y như một câu chuyện thần kỳ.
Ông Lâm và tôi nhất quyết cho rằng Hà Nội chẳng có gì để điều đình cả, vì điều kiện tiên quyết của CS Hà Nội là Hoa Kỳ hoàn toàn chấm dứt can thiệp vào Việt Nam và loại bỏ toàn bộ chế độ chống cộng ở Sài Gòn. (Còn tiếp...)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.