Tưởng Nhớ Thi-Sĩ Hàn-Mặc-Tử
Hình 1:
Chân Dung Hàn Mặc Tử.
Hình 2:
Mộ của Hàn-Mặc-Tử ở Ghềnh-Ráng.
Hình 3:
Bãi-Đá-Trứng còn có một nơi gọi là “Thung-Lũng Tình-Thương”, với một trại cùi mang tên Qui-Hòa, dưới 500 mẫu đất. Do linh-mục Paul Mauer, người Pháp sáng lập vào năm 1929.
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc.
Miền Trung nước Việt-Nam ta có một vùng đất bắt đầu sôi động từ thế-kỷ thứ mười (X), khi người Chiêm đặt kinh-đô Đồ-Bàn (Vijaya) ở đây. Vùng biển lúc ấy có tên là vùng Thị-Nại (Cri Vini). Người Việt và người Chân-Lạp (Khmer) đã nhiều lần đem binh thuyền đến đánh. Cả đạo quân của Hốt-Tất-Liệt cũng từng đến đây trong thế-kỷ thứ mười ba (XIII) và đã bị người Chàm dùng chiến-thuật du-kích đẩy lui.
Năm 1471, vua Lê-Thánh-Tông thân-chinh chiếm thành Đồ-Bàn, nước Chiêm-Thành kể từ đó suy yếu dần.
Đến cuối thế-kỷ thứ mười tám (XVIII), có một triều-đại mới phát xuất từ làng Tây-Sơn, cách Quy-Nhơn 20Km về phía tây. Triều Tây-Sơn mở rộng thành Đồ-Bàn, đổi tên là Hoàng-Đế thành. Từ năm 1788 đến 1802, nơi đây từng là một chiến-trường quyết liệt giữa quân Tây-Sơn và quân của Nguyễn-Ánh. Cuối cùng quân nhà Nguyễn chiến thắng, đặt tên lại là Bình-Định.
Bình-Định được xem như vùng đất thơ vì cảnh sắc đa dạng. Mang nỗi u-huyền, hoài-cổ của những tháp Chàm điêu-tàn, có bãi biển nước xanh trong vắt, sóng vỗ hư-vô, khiến những thi-nhân như Chế-Lan-Viên, Quách-Tuấn, Xuân-Diệu… Vì tức-cảnh-sinh-tình đã dệt nên biết bao những vần thơ tuyệt-tác.
Nơi đây còn nổi danh là vùng đất võ:
“Ai về Bình-Định mà coi.
Con gái Bình-Định múa roi đi quyền”.
Truyền-thống võ thuật Bình-Định bắt nguồn từ rất xưa. Là một hệ-thống sử dụng đủ 18 môn võ-khí lẫn cả binh-pháp. Nay vẫn còn lưu-truyền những bài quyền, bài kiếm của những danh-tướng thời Tây-Sơn như Nguyễn-Lữ, Bùi-Thị-Xuân.
Cách trung-tâm thành-phố Bình-Định chừng 5Km là Ghềnh Ráng và một vùng biển mang tên Bãi Đá-Trứng (vì toàn những viên cuội tròn như trứng). Nằm rất kín đáo, đặc biệt có mạch nước ngọt trong một cái giếng. Giếng này nằm sát bờ biển không bao giờ cạn. Nơi đây ngày xưa đã dành riêng cho Hoàng-Hậu Nam-Phương nghỉ mát mỗi khi bà ngự về Quy-Nhơn. Từ Bãi-Đá-Trứng nhìn lên cao, có lầu ông Hoàng Bảo-Đại. Được xây dựng từ năm 1911 bởi một nhà quý-tộc người Pháp thuộc giòng dõi “D’. Léon” Hàm-Công-Tước.
Như chuyện huyền-thoại khi vùng biển ngày ấy có những dấu chân của một chàng thi-sĩ in đầy trên cát, rồi bị từng đợt sóng xô bờ cuốn đi tít tắp mù-khơi. Đó là Hàn-Mặc-Tử, người đã:
“Ta lang-thang tìm đến chốn lầu hoang,
Lầu ông Hoàng người thiên-hạ đồn vang.
Nơi đã khóc, đã yêu thương da-diết…”
Buổi sáng ngày 20, tháng 9, năm 1940 dương-lịch. Nhà thơ Hàn-Mặc-Tử, tức Pierre Phan-Xi-Cô Nguyễn-Trọng-Trí, đã bước vào trại cùi Qui-Hòa. Trong 52 ngày ở đây, Hàn-Mặc-Tử chỉ biết đi nhà thờ, đọc kinh, lần chuỗi Mân-Côi và cầu-nguyện. Lúc bấy giờ, chàng từng thố-lộ niềm mơ ước là trước khi chết được đến kính viếng và đi kiệu Đức Mẹ La-Vang ở Quảng-Trị. Nhưng người con chiên ngoan đạo ấy đã vĩnh viễn nằm lại thành-phố biển Qui-Nhơn. Từ giã cõi hồng-trần lúc mới 28 tuổi xuân xanh.
Theo “Bách-Khoa-Toàn-Thư” (Wikipedia) đã nói về tiểu-sử của chàng như sau:
“Hàn-Mặc-Tử tên thật là Nguyễn-Trọng-Trí, sinh ở làng Lệ-Mỹ, Đồng-Hới, Quảng-Bình; trú ngụ ở Quy-Nhơn, tỉnh Bình-Định từ thưở nhỏ. Hàn Mặc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan-Bội-Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.
Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người..
Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong cùi - một căn bệnh nan y thời đó, Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này, khi mới bước sang tuổi 28..
Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.
Các sáng tác của Hàn Mặc Tử, gồm có:
• Lệ Thanh thi tập (gồm toàn bộ các bài thơ Đường luật)
• Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc tác giả chưa qua đời)
• Thơ Điên (hay Đau Thương, thơ gồm ba tập: 1. Hương thơm; 2. Mật đắng; 3. Máu cuồng và hồn điên)
• Xuân như ý
• Thượng Thanh Khí (thơ)
• Cẩm Châu Duyên
• Duyên kỳ ngộ (kịch thơ)
• Quần tiên hội (kịch thơ, viết dở dang)
• Chơi Giữa Mùa Trăng( tập thơ-văn xuôi)
Ngoài ra còn có một số bài phóng sự, tạp văn, văn tế...
Sau này Quách-Tấn là người giữ bản quyền thơ của Hàn-Mặc-Tử; vì vậy các tác-giả khi xuất bản những tác-phẩm (chưa in thành sách) về Hàn-Mặc-Tử, Quách-Tấn chỉ cho phép trích năm bài thơ trở xuống của Hàn-Mặc-Tử mà thôi.”
Riêng về Nữ sĩ Mộng Cầm (sinh ngày 17, tháng 7, năm 1917), người tình trong thơ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, đã qua đời lúc 21 giờ 30 phút ngày 23, tháng 7, năm 2007 nhằm ngày 10, tháng 6 năm Đinh Hợi, tại nhà riêng trên đường Trần Hưng Đạo – Phan Thiết, sau một thời gian bạo bệnh, thọ 91 tuổi. Trước đó, bà Mộng Cầm điều trị ở Bệnh viện Đa khoa An Phước – Phan Thiết và từ ngày 25, tháng 6, năm 2007 thì được chuyển về nhà riêng.
Ngày 11, tháng 11, năm nay: 2010 là đúng kỷ-niệm lễ giỗ năm thứ 70 của Hàn-Mặc-Tử. Chúng tôi xin mượn những giòng chữ này thay cho lời tạ-ơn về những thi-phẩm bất-hủ trong kho tàng văn-chương Việt-Nam chàng đóng góp; cũng là để nói về cuộc đời người thi-sĩ tài-hoa bạc mệnh; đã cho chính chúng tôi niềm rung động sâu xa, cảm nhận được những đau khổ, uất-ức, hờn giận, sự thèm thuồng, mến tiếc với cuộc đời trong thân-phận bi-đát của một người mang bệnh phong-cùi. Chàng đã vượt ra ngoài những gì thường tình của thế-nhân.
Hàn-Mặc-Tử cũng đầy nghị-lực nhờ niềm tin tuyệt đối vào Đấng tối-cao; để từ bỏ thực-tại, xa lánh u-uất; hầu vươn đến những nguồn thơ siêu-thực, dầy công hun đúc trong lời nguyện cầu dâng lên Thượng-Đế, để từ đó tâm-hồn Hàn-Mặc-Tử vẫn lạc quan và tràn ngập niềm vui như lời trần-tình trong bài thơ “Đêm Xuân Cầu Nguyện” như sau:
“… Trời hôm nay bình-an như nguyệt bạch,
Đường trăng xa ánh sáng tuyệt-vời bay…
Đây là hương quý trọng thắm trong mây,
Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm;
Câu tán tạ, không khen long cả phiếm,
Bút xuân thu mùa nhạc đến vừa khi
Khắp mười phương điềm lạ trổ hoài-nghi;
Cây bằng gấm và lòng sông toàn ngọc,
Và đầu hôm một vì sao liền mọc.
Ở phương Nam mầu nhiệm biết ngần mô!
Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho
Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo
Ta chấp hai tay lạy quỳ hoan-hảo,
Ngửa trong cao, cầu nguyện trắng không-gian.
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân,
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng-đế.
Đã no nê, đã bưa rồi thế-hệ
Của phường trai mê-mẩn khí thanh-cao;
Phượng-hoàng bay trong một tối trăng sao
Mà ánh sáng không còn khiêm-nhượng nữa;
Đương cầu xin, ọc thơ ra dường sữa,
Ta ngất đi trong khoái lạc của hồn đau…
Trên chín tầng điều động cả trân-châu,
Đương sống lại muôn ngàn hoa phẫm tiết;
Nhịp song đôi, này đây cung cầm nguyệt.
Ướp lời thơ thành phước lộc đường tu
Tôi van lơn thầm-nguyện Chúa Giê-Su
Ban ơn xuống cho mùa Xuân hôn-phối;
Xin tha-thứ những câu thơ tội-lỗi
Của bàn tay thi-sĩ kẻ lên trăng;
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng.”
California, tháng 11, năm 2010.
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm và biên soạn).


