Hôm nay,  

Do Sức Niệm Quan Âm Như Mặt Nhựt Treo Không

11/18/200900:00:00(View: 7218)

Do Sức Niệm Quan âm Như Mặt Nhựt Treo Không
Niệm Bỉ Quán âm Lực Như Nhựt Hư Không Trụ

Bài giảng của Thầy PHẠM CÔNG THIỆN tại chùa Viên Thông, Bellflower, California, ngày 1 tháng 11, 2009
SMARATO AVALOKITESVARO (RAM)
SU-RYABHÛTAM (TO) VA NABHE
PRATISHTHATI (PRATITISHTHATI)
I. KINH A-RYA-VALOKITES'VARAGUNAKA-RANDAVYU-HA SU-TRA
   HAY A-RYA KA-RANDAVYU-HA NA-MA MAHA-YA-NA SU-TRA
(Tây tạng: ’phags pa za ma tog bkod pa zhes bya ba theg pa chen po’i mdo)
Danh hiệu của Kinh có thể rút gọn lại là Avalokites'varagunaka-randavyu-hah Su-tra hoặc gọn hơn nữa là Ka-randavyu-ha Su-tra.
Kinh đặc biệt về Quán thế Âm Bồ Tát và về sáu chữ Đại Minh Vương Đà La Ni OM MANI PADME HU-M.
Chỉ xin nói ngắn gọn về quyển kinh rất đặc biệt, rất kỳ lạ và rất linh thiêng! Có mười điều sau đây nên để ý và ghi nhớ trọn vẹn:
1. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang ở Xá Vệ (s'rvasti) nơi tu viện (viha-ra) ở rừng cây Kỳ Đà (Jetavana) vườn Cấp Cô Độc (Anathapindada) cùng với chúng Đại Tỳ Khưu và các chúng Đại Bồ Tát Ma ha Tát, cùng các chúng Thiên tử, Long vương, Càn Thát Bà vương, Khẩn Nala vương, Thiên nữ, Long Vương nữ, Càn Thát Bà nữ, Khẩn Na La nữ và trăm ngàn chúng vô số tại gia xuất gia; lúc ấy Đại A Tỳ Địa Ngục (Avi-ci) tỏa phóng ra ánh sáng rực rỡ và chiếu tới vườn Kỳ Đà và cả khu vườn thay đổi một cách thanh tịnh, trang nghiêm, vi diệu viên mãn; ánh hào quang sáng bừng rực rỡ, chưa từng thấy;
2. Đại Bồ Tát Sarvani-varanavisKambhin, từ tòa ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối hữu sát mặt đất, chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng tôn nhan Đức Thế Tôn và bạch Phật về nhơn duyên nào mà ánh hào quang sáng bừng rực rỡ và hiện chiếu lạ lùng đẹp đẽ một cách kỳ diệu như vậy; Đức Phật trả lời; “Hào quang sáng rực ấy là của Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát đi vào Đại A Tỳ địa ngục để cứu độ tất cả hữu tình phải chịu đại khổ não trong đại địa ngục ấy.” Toàn thể Kinh cho chúng ta thấy những ý nghĩa diệu thường về Quán Thế Âm và sáu chữ Đại Minh Đà La Ni OM MANI PAME HU-M do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy cho Đại Bồ Tát Sarvani-varanaviskambhin; danh hiệu Đại Bồ Tát này có nghĩa là: Trừ Diệt tất cả Cái Chướng, nếu dịch lại trọn vẹn chữ Tàu thì trừ nhất thiết cái chướng nhưng thông thường trong kinh luận chữ Tàu, Việt, Nhật, Đại Hàn thì vị Đại Bồ Tát này thường được gọi lại là Trừ Cái Chướng Đại Bồ Tát;
3. Từ đại địa ngục A Tỳ, Ngài Quán Tự Tại Đại Bồ Tát tiếp tục đến chỗ Ngạ Quỉ (preta) để cứu độ Ngạ Quỉ, Ngài phát dậy Tâm Đại Từ Bi (maha-Karuna- cittamutpa-dya) nơi mười ngó tay Ngài chảy ra những giòng sông trong mát, nơi mười ngón chân và nơi mỗi lỗ chân lông của Ngài đều phát ra những con sông to lớn để cho loài Ngạ Quỉ được tha hồ uống nước trong mát, có điều đáng lưu ý nhất bỗng nhiên lúc ấy Kinh A-rya-valokites'varagunaKa-randavyu-ha tự nhiên phát ra linh âm và các Ngạ Quỉ được nghe tiếng Kinh thì liền được vãng sinh về cõi Sukha-vati (cõi Cực Lạc) của Phật A Di Đà và đều trở thành những vị Bồ Tát ở cõi Phật Tây Phương;
4. Ngài Quán Thế Âm cứu độ liên tục vô số chung sinh hữu tình, không lúc nào ngưng nghĩ; đại oai thần của Ngài Quán Thế Âm không ai vượt qua được, đức Phật Thích Ca giảng cho Ngài Trừ Cái Chướng rằng lúc Đức Phật còn là Bồ Tát trong bao nhiêu kiếp xa xưa đã từng nghe đại công đức đại oai thần của Ngài Quán Tự Tại, từ vị Phật Vipas'yin (Tỳ Bà Thi), lúc ấy đức Phật làm con của một nhà Trưởng Giả, có tên là sugandhamukha (Diệu Hương Khẩu), rồi sau đó Ngài lại nghe đại oai đức của Ngài Quán Thế Âm vào thời Phật S'ikhin (Thi Khí), rồi sau đó Đức Phật lại nghe đại công đức đại oai thần của Ngài Quán Thế Âm Đại Bồ Tát lúc còn là Nhẫn Nhục Tiên Nhơn (Ksa-ntiva-din) vào thời Phật Vis'vabhu- (Tỳ Xá Phù); như thế chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trải qua bao nhiêu kiếp xa, được bao nhiêu lần nghe biết thán phục đại oai thần của Quán Thế Âm Bồ Tát;
5. Điều cần lưu ý là Ngài Quán Thế Âm Đại Bồ Tát lúc nào cũng có mặt mỗi lúc chúng ta tha thiết kêu gọi danh hiệu Ngài hoặc mỗi lúc chúng ta trì đại thần chú OM MANI PADME HU-M mặc dù Ngài đã thị hiện từ thời Tỳ Bà Thi Như Lai, nghĩa là từ thời gian không thể đếm nổi, lúc ấy Đức Phật Thích Ca hãy còn hóa thân thị hiện là Bồ Tát, nhưng trong giây phút hiện tại này Quán Thế Âm vẫn linh hiện liên tục cho đến lúc nào chúng sinh vẫn còn đau khổ, vẫn còn bị trói buộc trong bao nhiêu sợ hãi khổ nạn; trong Đại Trí Độ Luận, chúng ta được biết rằng kiếp thứ 91 trước hiền kiếp thì ban đầu có Phật hiệu là Tỳ Bà Thi (Vipas'yin), và trong kiếp thứ 31 có hai Đức Phật, một là Thi Khí (S'ikhin) và hai là Tỳ Xá Phù (Vis'vabhu-), và trong hiền kiếp thì có bốn Đức Phật: Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp và Thích Ca Mâu Ni (Đại Trí Độ Luận, chương 15) thế thì Đức Quán Thế Âm siêu việt vượt lên hết tất cả thời gian và không gian: Đấng Phổ Môn Toàn Diện;
6. Trong Kinh (Ka-randavyu-ha Su-tra) có một đoạn rất đáng ghi nhớ: lúc Ngài Quán Thế Âm đến đại thành Va-ra-nasi- (BaLa Nại), thành phố dơ bẩn có vô số trăm ngàn vạn loại sâu bọ dòi trùng chen chúc, vì muốn cứu độ những loài hữu tình dơ bẩn nhơ nhớp kia, Ngài hiện ra thành con ong bay tới chỗ ấy, kêu vo ve (ghunaghuna-yama-nam) và phát ra tiếng “Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng” (Namo Buddha-ya, Namo Dha-rma-ya, Namo Samgha-ya), các loài sâu bọ dòi trùng nghe theo tiếng niệm Phật và cùng nhau kêu lên như thế thì liền được vãnh sinh về cõi Cực Lạc và đều trở thành Bồ Tát đều đồng danh hiệu là Diệu Hương Khẩu (Sugandhamukha), được nghe Kinh Ka-randavyu-ha Su-tra với sự hiện diện của Đức Phật A Di Đà (Amita-bha).
7. Đáng để ý không thể nào quên được câu kinh kỳ diều này: “Nếu có người đem dâng một cành hoa để cúng dường Ngài Quán Thế Âm thì thân người ấy phát tiết ra hương thơm và ra đời ở nơi nào thì dung nhan thân tướng cũng được đầy đủ”;
8. Chỉ nghe danh hiệu Kinh thôi cũng được đầy đủ an vui lợi ích như ý;
9. Phải công đức vô lượng mới được nghe danh hiệu Quán Thế Âm và phải trải qua bao nhiều kiếp khó khăn gian khổ tu hành mới được sáu chữ Đại Minh Đà La Ni: OM MANI PADME HU-M;
10. Đức Phật dạy rằng sáu chữ Đại Minh Đà La Ni là bản tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại Đại Bồ Tát: “Nếu niệm sáu chữ Đại Minh một lần thôi thì được công đức không thể nào đếm được.” Trong Kinh có một câu bí mật: “chỉ cần tụng một lần (ekajapena) sáu chữ Đại Minh thì Lục Ba Mật đã được thành tựu”.
Có Kinh Phật dạy rằng chỉ cần cúng một cái bông duy nhất cho Đức Phật hoặc Đại Bồ Tát, dù là trong chiêm bao đi nữa thì cũng được phúc đức công đức vô hạn.  Tất nhiên, tất cả đều phải từ cái gọi là “trọn lòng, hết lòng, trọn vẹn tinh thần, toàn diện tâm thức, chuyên nhất”, tất cả tư tưởng đều tập trung hoàn toàn vào một chỗ, nghĩa là “Nhất Tâm”.  Nếu chúng ta nhất tâm gọi danh hiệu Quán Thế Âm Đại Bồ Tát, nếu chúng ta nhất tâm nhớ tưởng, nhất tâm niệm danh hiệu Quán thế Âm Bồ Tát và nhất tâm niệm tụng OM MANI PADME HU-M thì tất cả đã được thay đổi toàn diện một cách im lặng, một cách bí mật, một cách “Phổ Môn” không thể nào lấy trí óc tầm thường khả dĩ hiểu biết được.
II. KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
SADDHARMA-PUNDARI-KA SU-TRA
Chúng Ta có thể dịch danh hiệu Kinh A-rya-valokites'varagunaka-randavyuha Su-tra là Thánh Quán thế Âm công đức Châu Tráp Trang Nghiêm Kinh (trong Hồng Danh Bảo Sám mà chư vị Phật tử đã lễ sám tối hôm qua tại Chùa Viên Thông, chắc quí bác còn nhớ có hồng danh Như Lai: “Nam Mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công Đức Phật…”).
Chỉ cần nghe tên Kinh Saddharma-Pundarika Su-tra và A-rya-valokites'varaguna-
ka-randavyu-ha Su-tra thì toàn diện tâm thức chúng ta đã được thay đổi một cách bí mật thầm lặng.  Chỉ cần nghe một lần thôi thì cũng như thế.
 Dị đoan mê tín ư" Bao nhiều dị đoan mê tín chằng chịt lớn nhất đời người xuất phát từ cái nghe thông thường, bình thường, tầm thường của chúng ta.  Thí dụ: chợt nghe ai mắng chửi mình thì bao nhiêu mê tín dị đoan về cái “tôi” (ngã) và “cái thuộc về tôi” (ngã sở) hốt nhiên bùng dậy và thay đổi tâm thức mình vào một tâm trạng lê thê tưởng như bất tận (mấy chữ xuất hiện hai lần trong Đại Thừa Khởi Tín Luận vào hai vị thế đột ngột vô cùng quan trọng, cũng như một lần trong mười sáu câu kệ quan trọng nhất trong toàn thể Kinh Thủ Lăng Nghiêm).  Mười sáu câu kệ của Kinh Thủ Lăng Nghiêm của chính Quán Thế Âm tuyên thuyết là đề cập chính cái nghe, một cái Nghe linh hiện bí mật khác, diệt bỏ toàn diện mê tín dị đoan của trời người và người trời và mười phương đều sáng rực toàn diện, “thập phương viên minh”, nếu có ai trong chúng ta, hiểu được mười sáu câu Kệ này thì nhất định là đã thành Phật rồi…
Tại sao chỉ cần một lần nghe tên Kinh thôi thì tất cả công đức đã dồn dập hiện tới như tất cả đại dương tràn ngập vũ trụ" Cũng như chỉ cần nghe danh hiệu của chư Phật và của chư Đại Bồ Tát" Tại sao chỉ cần xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát dù chỉ một lần thôi mà tất cả đều được giải thoát"
Trước khi đề cập những câu hỏi này, xin trở lại vài ba đoạn Kinh quen thuộc trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch:      


- Nhẫn đến đồng tử giỡn
 Nhóm cát thành tháp Phật
 Những hạng người như thế
 Đều đã thành Phật Đạo…
  … Nhẫn đến đồng tử giỡn
 Hoặc cỏ cây và bút
 Hoặc lấy móng tay mình
Mà vẽ làm tượng Phật
Những hạng người như thế
Lần lần chứ công đức
Đầy đủ Tâm Đại Bi
Đều đã thành Phật Đạo.
Chỉ dạy các Bồ Tát
Độ thoát vô lượng chúng.
… Hoặc người lòng vui mừng
Ca ngâm khen Đức Phật Nhẫn đến một tiếng nhỏ
Đều đã thành Phật Đạo.
Nếu người lòng tán loạn
Nhẫn đến dùng một bông
Cúng dường nơi tượng vẽ
Lần thấy các Đức Phật
Hoặc có người lễ lạy
Hoặc lại chỉ chắp tay
NHẪN ĐẾN GIƠ MỘT TAY
HOẶC LẠI HƠI CÚI ĐẦU
Dùng đây cúng dường tượng
Lần thấy vô lượng Phật Tự thành Đạo vô thượng
Rộng độ chúng vô số
Vào Vô Dư Niết Bàn
Như củi hết lửa tắt
Không thể nào quên được suốt cuộc đời này là ba điều quan trọng nhất mà Đức Phật đã dạy chúng ta trong Phẩm Phổ Môn:
1. Nhược hữu chúng sinh đa ư DÂM DỤC
    THƯỜNG NIỆM CUNG KÍNH QUÁN THẾ ÂM BÔ TÁT, tiện đắc LY DỤC;
2. Nhược đa SÂN NHẾU, THƯỜNG NIỆM CUNG KÍNH QUÁN THẾ ÂM BÔ TÁT,
    tiện đắc LY SÂN;
3. Nhược đa NGU SI, THƯỜNG NIỆM CUNG KÍNH QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, tiện đắc LY SI.
(Nếu có chúng sinh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền đặng ly dục;
Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền đặng lìa lòng giận;
Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền đặng lìa ngu si).
Và đây là bốn câu kệ thường được nhắc lại:
Nếu người lòng tán loạn
Vào nơi trong tháp miếu
Một xưng Nam Mô Phật
Đều đã thành Phật Đạo
Thành Phật Đạo có nghĩa là thành Phật rồi:
Nhược nhân tán loạn tâm
Nhập ư thấp miếu trung
Nhất xưng Nam Mô Phật
Giai dĩ thành Phật Đạo
Có ai hiểu được bốn câu kệ trên thì đã hiểu tất cả.  Ai đã nghe thì đã nghe tất cả, ai đã thấy thì thấy, đã thấy tất cả.
Hiểu tất cả là không hiểu cái gì ra cái gì cả.
Tại sao kỳ lạ mâu thuẫn vậy" Cái nguyên lý tránh mâu thuẫn của Luận Lý Học Tây Phương và Đông Phương (A không phải là Không-A) là cái phải vứt bỏ trước khi bước cái bước đầu tiên vào câu đầu tiên của tất cả Kinh Phật, trước khi bước cái bước đầu tiên đứng đợi bên ngoài cỗng chùa.  Đạo Phật đạp trên đầu Lý và Phi Lý như đạp đầu vũ trụ với tất cả lòng Đại Bi và chuyển hóa toàn diện Vũ Trụ trở thành Tòa Sen thơm ngát, mỗi khi dù chỉ một lần xưng danh:
Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Tất cả sợ hãi đều phát xuất từ MÊ TÍN DỊ ĐOAN của Ngũ Uẩn, của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, của Sắc Thanh Hương Vị Xúc Pháp, của Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt Thân Ý, của tất cả Ý Thức và Vô Thức.
III. DO SỨC NIỆM QUAN ÂM
Phẩm Phổ Môn trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đã được bao nhiêu triệu tỷ người thọ trì đọc tụng trên một ngàn sáu trăm năm (nếu chỉ kể bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập) ở toàn thể Á Đông (từ Ấn Độ, Tây Tạng, Việt Nam, Tàu, Nhật và Đại Hàn). Trong Phẩm Phổ Môn, câu kệ “Do Sức Niệm Quan Âm” (Niệm Bỉ Quán Âm Lực) xuất hiện mười ba lần linh hiện toàn diện.
Bốn câu kệ diệu thường nhất trong những câu thi kệ điều động tất cả phẩm Phổ Môn:
HOẶC TẠI TU DI PHONG
VI NHƠN SỞ THÔI ĐẠO
NIỆM BỈ QUÁN ÂM LỰC
NHƯ NHỰT HƯ KHÔNG TRỤ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch ra chữ Việt rất thơ mộng:
Hoặc ở chót Tu Di
Bị người xô rớt xuống
Do sức NIỆM QUAN ÂM
Như mặt nhựt treo không
Nhiều Đại Lão Hòa Thượng khác dịch trụ là đứng; tất cả cách dịch khác nhau đều linh thiêng thơ mộng, hiểu theo bản chữ nguyên Kinh Phạn Ngữ (Sanskrit) thì trụ ở đây là đứng yên vững vàng (pratishthati, có nhiều nhà ngô ngữ học chữ Phạn thì hiểu pratishthati là pratitishthati; còn hư không chính là bầu trời, trên trời, mà chữ Phạn là NABHE, NABHA, vì đúng nghĩa hư không thì chữ Phạn là AKASA (như Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát là Akasagarbha).
Tất cả những tai nạn, sợ hãi, đều xảy ra trên mặt đất; Ngài Quán Thế Âm cứu độ tất cả những sợ hãi, tất cả những tai nạn ở mặt đất (như các khổ não của tất cả chúng sinh, bị kẹt vào trong nạn lữa lớn, bị nước làm trôi, bị trôi tấp nơi nước quỉ La Sát, bị hại bằng dao gậy, bị quỉ Dạ Xoa và La Sát đến hại, bị gông cùm xiềng xích, bị kẻ oán tặc, bị rắn độc cùng bò cạp, bị sấm nổ sét đánh, bị sanh, già, bệnh, chết, bị phiền não cải kiện, bị cừu oán, vân vân.) Bị tất cả khổ não, bị tất cả tại nạn, chướng ngại, chỉ cần:
-Một Lòng Xưng Danh QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT         Thì Đều Đặng Giải Thoát
(Phật cáo Vô Tận Ý Bồ Tát: Thiện Nam Tử! Nhược hữu vô lượng
bách thiên vạn ức chúng sinh, thọ chư khổ não, văn thị QUÁN THẾ
ÂM BỒ TÁT NHỨT TÂM XƯNG DANH QUÁN THẾ ÂM BỒ
TÁT, tức thời quán kỳ âm thanh GIAI ĐẮC GIẢI THOÁT).
Tất cả sự sợ hãi đều xảy ra ở mặt đất hoặc ở tam thiên đại thiên thế giới, chỉ có bốn câu kệ:
Hoặc tại Tu Di Phong
Vi nhân sở thôi đọa
Niệm Bỉ Quán Âm Lực
Như Nhật hư không trụ
Ở đây, tất cả xảy ra từ chóp đỉnh cao nhất của núi Tu Di, xảy ra nơi ông Trời của tất cả ông Trời, tức là Đế Thích; núi Tu Di là chỗ của Trời, chỗ cao nhất của tất cả loại ông Trời…
Có một điểm cần nói:
Niệm Bỉ Quán Âm Lực
Tất cả bản dịch chữ Việt đều hiểu một cách phương tiện thiện xảo, đầy lòng Đại bi cho chúng sinh:
Do Sức Niệm Quán Âm
Do đó, ta có thể hiểu Lực ở đây là là Niệm Lực sức Mạnh của sự Trì Niệm Xưng Danh Quán Thế Âm Bồ Tát, có vài học giả Tây Phương thông hiểu chữ Tàu xưa một cách “rất ư học thuật theo điệu khoa bảng đại học” thì hiểu là “Sức Mạnh của Quán Thế Âm” (tức là trì niệm xưng danh nhớ tưởng Đại Đại Thần Lực của Quán Thế Âm.  Thực sự trong bản nguyên tác chữ Phạn thì không có chữ Bala (Lực) mà chỉ có “Chỉ nghĩ tới Quán Thế Âm thì mình sẽ đứng vững vàng như mặt trời ở trên trời”:
SMARATO (hay SMARATU)
AVALOKITES'VARO (hay AVALOKITES'VARAM)
SU-RYABHHÛTAM (SU-RYABHUTO)
VA NABHE PRATISHTHATI (PRATITISHTHATI)
(đã dịch ngay ở trên)
Trong Đệ Nhất Nghĩa Đế, Niệm về Quán Thế Âm đã là sức mạnh oai thần của Quán Thế Âm, do đó niệm về Sức Mạnh oai Thần của Quán Thế Âm hay sức mạnh của chính sự niệm về Quán Thế Âm đều là diệu nghĩa như nhau, nhất như, bình đẳng nghĩa, vô nhị nghĩa.  Chúng ta cần lưu ý:
1. Lục Tự Thần Chú OM MANI PADME HU-M chính là Quán Thế Âm;
 (Chứ không phải là thần chú về Quán Thế Âm)
2. Danh hiệu Quán Thế Âm CHÍNH Quán Thế Âm
3. Danh hiệu Quán Thế Âm và Quán Thế Âm không khác nhau.
(Danh hiệu ở đây không phải danh hiệu thông thường cũng như mọi người đều hiểu danh hiệu là biểu tượng để chỉ một thực tại, thực thể nào đó.
4. Quán Thế Âm là Đại Từ Bi KHÔNG TÁNH, tức là VÔ TỰ TÁNH ở đệ nhất nghĩa đế và ĐẠI BI TÂM ở thế đế, ở mặt phương tiện thiện xảo;
5. Bồ Đề Tâm tức là Không Tánh và Đại Bi Tâm, đứng về chân đế là vô Tự Tánh, Không Tánh, Bát Nhã, Trí Huệ; đứng về tục đế là Đại Bi.
IV. TẠI SAO CHỈ CẦN MỘT LẦN THÔI"
Bây gời, đã hết giờ giảng hạn định, tôi chỉ lặp lại hai câu Kinh do Đức Phật dạy: 
- TẤT CẢ PHÁP ĐỀU LÀ HẠT GIỐNG NẨY MẦM
- Kinh này cũng ví như từ MỘT HẠT GIỐNG mà phát sinh ra trăm nghìn muôn; trong trăm nghìn muôn hạt giống kia thì mỗi một hạt lại phát sinh ra hàng trăm nghìn muôn nữa.  Cứ như thế dần dần cho đến vô lượng thì Kinh này cũng lại như thế.  Từ một pháp sinh ra trăm nghìn nghĩa; trong trăm nghìn nghĩa, thì mỗi một nghĩa lại sinh ra trăm nghìn muôn số, cứ thế dần dần cho đến vô lượng vô biên nghĩa.
Trong Phật Giáo, mấy chữ như Chủng Tử vô cùng quan trọng theo nghĩa chữ Phạn bija (trong Phật Giáo hiển tông và mật tông, bija và bindu đều quyết định tất cả trong tất cả hành trì).
Chỉ cần Tâm Thức mống lên một ý tưởng nhẹ nhàng thoáng qua thì tất cả đều sụp đổ hoặc tất cả đều đơm bông thơ mộng thơm ngát.
Tất cả nghiệp đều phát từ một cái mống ý, từ cái mà chữ Nhà Phật gọi là Cetana-, Tàu dịch là Tư, còn ở đây dịch là mống ý, mống lòng và mống tâm.  Mông, mống, mộng, mồng, mầm, tất cả đều là Hạt Giống Nẩy Mầm.
Chỉ Xưng danh Quán thế Âm Bồ Tát một lần;
Chỉ nhớ tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát một lần;
Chỉ nói OM MANI PADME HU-M một lầ Thì Hạt Giống Nẩy Mầm thành ra cả đại ngàn bông trắng, cả vô số vô lượng bông sen đủ màu ở cõi Cực Lạc.
V. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC VỚI CHÚ CHUẨN ĐỀ
Chú Đại Bi và Chú Chuẩn Đề đều khởi phát từ Kinh A-rya-valokites'varaguna-
ka-randavyu-ha Su-tra; câu khai kinh là phần đầu của chú Đại Bi, và phần gần cuối kinh là thất cu chi Phật tuyên thuyết đại Chuẩn Đề thần chú; xin hồi hướng tất cả công đức cho tất cả chúng sinh và cho Không Tánh Đại Bi Tâm Nhất Thiết Chủng Trí.
NAM MÔ TÁT ĐA NẪM
TAM MIỆU TAM BỒ ĐỀ CÂU CHI NẪM (ĐÁT DIỆT THA:) ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ĐỀ TA BÀ HA
Nguyên Diệu Tác chữ Phạn Sanskrit:
NAMAH SAPTA-NA-M
SAMYAKSAMBUDDHAKOTI-NA-M
OM
CALE CULE CUNDE SVA-HA-
Phần chính yếu của chú Chuẩn Đề bằng tiếng Tây Tạng:
OM TSA LE TSU LE TSUN DE  SVA-HA-
Lòng Tri ơn:
Người viết xin hết lòng cảm tạ Thượng Tọa Thích Thông Niệm đã từ bi hỷ xả tạo ra tất cả không khí trong sạch thanh tịnh tịch tĩnh để người viết được ngồi yên tại Chùa Viên Thông ở Bellflower, California, để viết xong một mạch từ 6 giờ sáng đến 10 giờ sáng, ngày 31 tháng 10, trước một ngày Vía Quán Thế Âm Bồ Tát tại chùa ngày 1 tháng 11, 2009, và xin hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh và cho Nhất Thiết Chủng Trí Đại Bi Tâm bất khả ngôn thuyết. 
PHẠM CÔNG THIỆN

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.