Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang

21/03/201000:00:00(Xem: 2449)

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang – Nguyễn Xuân Phong (dịch thuật: Phan Quân)

LGT: Từ năm 1965 đến 1975, ông Nguyễn Xuân Phong đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ VNCH và biết nhiều bí mật dẫn đến việc mất Miền Nam. Trong thời gian hòa đàm Ba Lê về Việt Nam, từ địa vị thành viên phái đoàn lúc ban đầu, ông đã trở thành Trưởng Phái Đoàn vào giai đoạn cuối cùng, với chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách hòa đàm trong chính phủ. Đặc biệt, ông cũng là nhân vật quan trọng trong Hội Nghị Thượng Đỉnh của nguyên thủ 7 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương tại Manila vào 2 ngày 24 & 25 tháng 10, 1966, nhằm thẩm định về cuộc chiến ở Nam Việt Nam với sự tham dự của Tổng thống Phi Luật Tân, Ferdinand E. Marcos; Tổng thống Đại Hàn, Park Chung Hee; Tổng thống Hoa Kỳ, Lyndon B. Johnson; Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo VNCH, Nguyễn Văn Thiệu; Thủ tướng Úc Châu, Harold Holt; Thủ tướng Tân Tây Lan, Keith Holyoake; Thủ tướng Thái Lan, Thanom Kittikachorn; và Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương VNCH, Nguyễn Cao Kỳ. Tại Hội Nghị, ông là người Việt Nam duy nhất được trực tiếp nghe trưởng phái đoàn Nam Hàn cho biết: Tổng thống Nam Hàn đã cảnh giác, [qua kinh nghiệm cuộc chiến tranh Cao Ly] nếu như hòa đàm [với VC] có xảy ra, chính phủ Sài Gòn sẽ thấy Mỹ thương thuyết thẳng với phía bên kia [VC], còn Sài Gòn chẳng nói năng gì được trong khi thương thuyết, và cuối cùng sẽ phải chấp nhận và tuân hành những gì Mỹ và VC ký kết. Quả nhiên, 6 năm sau, lời tiên đoán này đã trở thành sự thật tại Hội Nghị Ba Lê, dẫn đến bản Hiệp Định đầy phi lý, khi Mỹ toa rập với VC cho phép quân đội xâm lăng VC được tiếp tục hiện diện trên lãnh thổ VNCH, dẫn đến thảm kịch 30-4-75. Trong những số trước, SGT đã giới thiệu một số chương trong tác phẩm  "Hope and Vanquished Reality", được ông viết theo yêu cầu của "The Center for A Science of Hope" ở New York. Nay do yêu cầu của đông đảo độc giả, chúng tôi xin giới thiệu tiếp một số chương quan trọng trong tác phẩm của ông.

*

(Tiếp theo...)

Gửi cho vài ba phi cơ của Đệ Thất Hạm Đội, dù chỉ để tác động tâm lý, hoặc giả cho Hà Nội thấy một loại dấu hiệu nào đó nói rằng Hoa Kỳ không từ bỏ ý niệm lâu đời về việc bảo vệ một "Tiền Đồn Thế Giới Tự Do" ở Nam Việt Nam mà cũng thực sự khó khăn đến thế sao" Giúp đỡ Sài Gòn cầm cự trong một thời gian mà cũng nhiêu khê vậy à" Ngày 25 tháng Ba, Tổng Thống Ford có gửi cho ông Thiệu một thông điệp thân hữu, nhắc lại rằng chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng rất tiếc là Quốc Hội Hoa Kỳ không chấp thuận việc sử dụng phi cơ Mỹ.
Để trấn an Việt Nam, ngày 28 tháng Ba, Hoa Thịnh Đốn phái Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ, Frederick Carlton Weyand, một vị tướng bốn sao, đến Sài Gòn. Ông Weyand có mặt ở hòa đàm Ba Lê và sau đó trở thành tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam, một chức vụ ông đảm nhiệm cho đến khi quân lính Mỹ hoàn toàn rút khỏi Việt Nam vào cuối tháng Ba năm 1973.
Tôi đã biết ông Fred Weyand trong nhiều năm qua và chúng tôi đã trở thành bạn thân với nhau. Fred thật tình tin tưởng rằng Nam Việt Nam là "Tiền Đồn Thế Giới Tự Do". Sau chuyến đi thăm Sài Gòn, trong một cuộc họp với hai ông Ford và Kissinger, dưới ánh mặt trời California ở Palm Springs hôm 4 tháng Tư, tôi chắc rằng ông đã vận dụng hết tài hùng biện của mình để mô tả tình hình quân sự đen tối và tuyệt vọng của Nam Việt Nam và hết lòng bênh vực cho trường hợp của Nam Việt Nam.
Dĩ nhiên là hoài công, vì tổng thống Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ chẳng còn làm gì được nữa khi Quốc Hội Hoa Kỳ đã khẳng định bác việc chi viện thêm cho Việt Nam Cộng Hòa để tiếp tục cuộc chiến, chưa kể 720 triệu Mỹ kim do Tướng Weyand đề nghị hay ngay cả 300 triệu Mỹ kim hoàn toàn viện trợ kinh tế mà các trợ lý của Bạch Cung đã nghĩ đến. Bằng hữu ở Thượng Viện nói rõ với Tổng Thống Ford là ông sẽ không có lấy một đồng nào cho bất cứ việc gì có tính cách quân sự ở Việt Nam, nhưng trái lại, ông có thể có bất kỳ số tiền nào ông cần để đưa tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam.
Như thế, đã có quyết định là chẳng một ai phải chi ra bất kỳ món tiền nào cả cho việc Tổng Thống Ford yêu cầu Quốc Hội cấp 720 triệu Mỹ kim để cứu nguy chính phủ Sài Gòn. Trách nhiệm pháp lý và tinh thần của cuộc giết hại sẽ thuộc về Quốc Hội chứ không phải Tòa Bạch Ốc. Ngoài ra, ai ai cũng thừa biết rằng dù cho với một triệu Mỹ kim thì, về mặt vật chất và nhân sự, Hoa Thịnh Đốn cũng không thể chi viện quân sự và kinh tế thêm kịp thời cho Nam Việt Nam để Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chận đứng được đà tiến của quân lính Bắc Việt. Chỉ còn có một việc hữu hiệu mà Tổng Thống Ford có thể làm được hồi tháng Tư đó của năm 1975 là cho Hoa Kỳ can thiệp quân sự ồ ạt, nhưng đó là một hành động điên rồ và thái quá, không thể nào làm.
Từ khi những trận đánh nhỏ xảy ra trong tỉnh Phước Long hồi đầu năm 1975, ông Thiệu đã chuẩn bị để thử thách Hoa Thịnh Đốn lần cuối cùng và nắm phần chắc là Tổng Thống Ford không còn cách nào khác hơn là xả láng trong ván bài vì người Mỹ. Có thể ông Thiệu đã được thúc đẩy để làm như vậy khi nhớ lại đòn bốc đồng của Tổng Thống Johnson trong việc leo thang chiến cuộc của Mỹ ở Việt Nam. Cũng có thể ông Thiệu hy vọng có một người nào đó ở Hoa Thịnh Đốn sẽ làm một hành động điên rồ, dựa theo một tin đồn đại cho rằng, vào lúc nào đó, ông Nixon có thể điên tiết lên mà bấm nút hạt nhân để kết thúc chiến tranh Việt Nam. Nhưng dĩ nhiên là ông Thiệu hiểu biết rất ít về Tổng Thống Ford, và ông đã sai lầm khi đánh giá quá cao về việc Mỹ muốn tiếp tục đưa người và của vào Nam Việt Nam.


Hy vọng duy nhất của "Minh Lớn" là nối lại quan hệ hữu nghị với phía bên kia, nhưng với ai đây" Những nhà lãnh đạo cấp cao đã tìm cách thực hiện và đã thất bại. Hà Nội không còn trả lời điện thoại nữa, ngoại trừ để tán gẫu chuyện đời. Chỉ còn một vài ngày nữa là tất cả người Mỹ phải ra đi. "Minh Lớn" thấy rõ rằng điều kiện tiên quyết để cho ông có thể làm bất cứ điều gì là phải chấm dứt ngay và một cách triệt để sự hiện diện của Mỹ ở Nam Việt Nam. Vào giờ phút cuối cùng, mối quan tâm trọng đại của Hà Nội vẫn còn vì cho là Hoa Kỳ có thể sẽ bất ngờ can thiệp trở lại bằng cách nào đó.
Đã đến thời điểm mà "Minh Lớn" có một niềm hy vọng có ý nghĩa, hữu lý, và thực tế hay không, không thành vấn đề nữa. Ông là hiện thân cho niềm hy vọng của "Lực Lượng Thứ Ba", của những người khác ở Nam Việt Nam, và thậm chí của một vài viên chức ở Hoa Thịnh Đốn và ở Pháp, là những người đã ôm ấp một mối hy vọng mơ hồ nào đó nên đã thúc đẩy "Minh Lớn" nhận lãnh quyền hành của ông Hương. "Lực Lượng Thứ Ba" sốt sắng tìm cách tạo dựng và quảng bá niềm hy vọng rất cần thiết đó. Những người phụ tá của "Minh Lớn" hối hả gắn huy hiệu mang hình hoa sen nhà Phật lên bục thuyết trình, ngay sau khi ông Hương nói đôi lời chính thức để từ chức. Một hình ảnh nói lên mối hy vọng nặng tính tượng trưng tuyệt đỉnh, và như thế, kết hợp hình thức thi ca và huyền bí. Dĩ nhiên, đem hoa sen nhà Phật làm biểu tượng chính trị là một hành động bất kính. Chẳng khác nào tự thú "nhân danh Trời Phật, con đã làm nên bao nhiêu là tội lỗi!"
Đối với Hà Nội, "Minh Lớn" không phải là một vấn đề đặc biệt mà là mối quan tâm hạng bét. Mục tiêu căn bản nhất và mong đợi từ lâu của miền Bắc trong chiến tranh ở Việt Nam là làm nhụt ý chí và quyết tâm chiến đấu của người Mỹ. Họ đã đạt được điều đó, không phải trên chiến trường, nhưng ở Quốc Hội bên Mỹ. Hồ Chí Minh đã hoàn thành một điều y như thế, hai mươi hai năm về trước, hồi 1954, với Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Ba Lê, ở Điện Bourbon (Quốc hội Pháp). Vậy mà, khi xe tăng Bắc Việt đã đến cửa ngỏ Sài Gòn, và khi Hoa Thịnh Đốn đã quyết tâm không khi nào can thiệp nữa, "Minh Lớn" vẫn còn cố nuôi hy vọng và cố gắng làm cho người khác hy vọng.
Hy vọng, nhưng với lý do nào và mục đích gì" Có người cho rằng ông hy vọng tránh đổ máu bằng cách tuyên bố Sài Gòn là "thành phố bỏ ngỏ" và đón nhận người Việt Nam của mọi thành phần chính trị. Như thế ai cũng vào được, không cần phải có ai mời mọc hay công bố gì hết. Với đề nghị, "tôi không bắn và anh cũng không bắn tôi". Đó là điều mà những người thân cận của "Minh Lớn" chủ trương. Ông không thể ra lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chận đứng đà tiến càng ngày càng nguy hiểm của quân lính Bắc Việt. Dù cho tiếng tăm và uy tín của ông trong quân đội Nam Việt Nam vẫn còn, nhiều lắm "Minh Lớn" chỉ có thể kêu gọi quân lính Sài Gòn buông vũ khí thay vì giữ vững tay súng. Đó là điều mà người ta nghĩ rằng ông sẽ làm và có thể làm được.
Còn đề nghị chia sẻ quyền hành với phía bên kia thì sao" Điều đó hơi khó, nếu không phải là khôi hài. Ông Minh chẳng còn thứ gì quyền thế để san sẻ, thậm chí một đồng minh cũng không, và bộ chính trị Hà Nội không có gì cần thiết để chia sẻ với Nam Việt Nam.
Điều có vẻ như được mong đợi là một liên minh giữa "Lực Lượng Thứ Ba" của "Minh Lớn" và Mặt Trận Giải Phóng của Bà Bình - một hy vọng quả thật là khiêm nhường. Đúng là một hy vọng đáng thương tâm. Nhưng nghe được và đứng đắn.
Sự tiêu tan của chính phủ Sài Gòn và ảo tưởng về "hòa hợp hòa giải dân tộc" giữa Mặt Trận Giải Phóng và những lực lượng khác chống đối lại chế độ Sài Gòn lúc nào cũng là chiến lược và mục tiêu bất biến của bộ chính trị VC. Đó là một khái niệm đơn giản nhưng hữu hiệu, đâm ra lại rất thành công, nhờ tất cả các vai, ở địa phương lẫn nước ngoài, đều rất thuộc tuồng. Xuyên suốt bốn năm hòa đàm Ba Lê, lập trường của Hà Nội lúc nào cũng minh bạch và đơn giản liên quan đến các chính phủ Hoa Kỳ và Sài Gòn là "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Nay đã đạt được mục đích - Mỹ đã ra đi và chính phủ Sài Gòn không còn nữa - thì hai mục tiêu "liên hiệp" và "hòa hợp hòa giải dân tộc" cũng trở thành lỗi thời. Nhưng, chẳng tốn hao gì khi để cho mọi người nghĩ rằng "Lực Lượng Thứ Ba" của Sài Gòn và Mặt Trận Giải Phóng có thể kết hợp lại trong tinh thần "hòa hợp hòa giải dân tộc".
Thế nên đối với "Minh Lớn", hy vọng như là miếng mồi cho chính cá nhân đương sự mà thôi, và cho những người nào khác muốn tin tưởng ở niềm hy vọng đó, kể cả những ai ở Ba Lê và Hoa Thịnh Đốn. Đại sứ của Pháp và Hoa Kỳ thực sự mong muốn đưa "Minh Lớn" vào chiếc ghế tổng thống càng nhanh càng tốt. Như vậy, niềm hy vọng to tát của "Minh Lớn" là làm thế nào để cho dân chúng tin tưởng rằng Sài Gòn có thể được cứu vãn bằng cách "hòa hợp hòa giải dân tộc", do đó giảm nhẹ được cơn sửng sốt kinh khủng của một Nam Việt Nam thất trận. Đặc biệt là nhằm vào quân lính VNCH để đạt được mục tiêu thực tiễn là làm cho họ buông súng. Một sự khôn khéo thượng thặng theo kiểu Machiavel.
Chế độ tổng thống của "Minh Lớn" còn hy vọng gì nữa đây" Phải chăng họ hy vọng rằng với một sự can thiệp nào đó của quốc tế, họ có thể kết hợp những phe phái Nam Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Giải Phóng và duy trì thực thể Nam Việt Nam dưới dạng nào đó - dĩ nhiên là không có chính phủ Sài Gòn cũ - nhằm xoa dịu miền Bắc Việt Nam thân Liên Xô" Ý niệm đó còn khó chấp nhận hơn hòa hợp hòa giải dân tộc, nhưng nghe vĩ đại và cao thượng. Mặt Trận Giải Phóng sẽ gồm toàn là người Nam Việt Nam để làm đối trọng lại Mạc Tư Khoa. Nhiều người trong giới thân cận của "Minh Lớn" quả thật đã tin tưởng ở kế hoạch hùng tráng đó. Có thể họ cứ giả thuyết là "biết đâu được". Ngành ngoại giao quốc tế tài ba đôi khi có thể tạo ra những chuyện thần tình. (Còn tiếp...)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.